luận văn tài nguyên môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ và quản lý chất lượng nước Hồ Tây. - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TI NGUYÊN V MÔI TRƯNG
= = = =  = = = =
ĐỀ CƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TI:
“ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG V ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN
PHÁP BẢO VỆ V QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC HỒ
TÂY ”
Người thực hiện : Vế THỊ THU HOI
Lớp : MTC
Khoá : 53
Ngành : MễI TRƯNG
Giáo viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ MINH
Bộ môn : VI SINH VẬT
Hà Nội - 2012
[1]
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay, việc bảo vệ nguồn nước, đa dạng sinh học và sử dụng hợp lý các
nguồn tài nguyên thiên nhiên đã và đang trở thành vấn đề vô cùng cần thiết, đặc
biệt khi sự ô nhiễm các nguồn nước nhất là nguồn nước ngọt đang trở nên ngày
càng trầm trọng, đe dọa cuộc sống của loài người và gây ra nhiều khó khăn cho sản
xuất và đời sống.
Trong các hệ sinh thái thủy vực nói chung và hệ sinh thái thủy vực nước đứng
nói riêng thì hệ sinh thái hồ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bên cạnh các chức
năng là cấp nước, tưới tiêu cho nông nghiệp, du lịch - giải trí, thủy điện và phòng
hộ thì hồ còn chứa nhiều nguồn tài nguyên phong phú, là một “ngõn hàng gen” rất
đa dạng, quý hiếm cần phải được bảo vệ.
Do vị trí địa lý, kinh tế xã hội quan trọng của thủ đô Hà Nội nờn cỏc hồ ở Hà

 Tìm hiểu hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt tại hồ Tây.
 Đề xuất các biện pháp có tính khả thi cao để bảo vệ và quản lý chất lượng
nước Hồ Tây.
[3]
PHẦN II
TỔNG QUAN TI LIỆU
2.1 Vai trò của tài nguyên nước
Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khí
hậu, đất đai và sinh vật. Nước còn đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của con người trong
sinh hoạt hằng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điện
năng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp.
2.1.1. Vai trò của nước với sức khỏe con người
Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.
Trong trọng lượng than thể con người, ba ngày sau khi sinh có 97% nước, tám
tháng sau có 81% và ở người lớn tuổi nước từ 65 – 75%. Nước cần thiết cho sự
tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quan
trọng. Muốn tiêu hóa, hấp thụ tốt lương thực, thực phẩm … đều cần có nước. Nhiều
nghiên cứu trên thế giối cho thấy con người có thể sống nhịn ăn trong năm tuần
nhưng nhịn uống nước thì không quá 5 ngày và nhịn thở không quá năm phút. Khi
đói trong một thời gian dài , cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dự
trữ , một nửa lượng protein để duy trì sự sống. Nhưng nếu cơ thể chỉ mất hơn 10%
nước là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20 – 22% nước sẽ dấn đến tử vong. [1]
Theo nghiên cứu của viện dinh dưỡng quốc gia : Khoảng 80% thành phần
mụ nóo được cấu tạo bởi nước, việc thường xuyên thiếu nước làm giảm sút tinh
thần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ. Nếu thiếu nước sự chuyển hóa
protein và enzymer để đưa dinh dưỡng đến các bộ phận khác của cơ thể sẽ gặp khó
khăn. Ngoài ra, nước cũn cú nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm
[4]
nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả. Nhiều nghiên
cứu cũng cho thấy: nước là thành phần chủ yếu của lớp sụn và chất hoạt dịch, khi

Năm 1960 ở Liờn Xụ cũ, các ngành kinh tế xã hội sử dụng 270 tỷ m
3
nước,
năm 1970 khoảng 540 tỷ m
3
và năm 2000 tổng nước dung lên đến 2000 tỷ m
3
,
trong đó dung cho công nghiệp 480 tỷ m
3
, nông nghiệp 550 tỷ m
3
( tổng lượng
dòng chảy năm trên sông ngòi toàn Liờn Xụ cũ khoảng 4358 tỷ m
3
). Ở Mỹ năm
2000 đã sử dụng gần 1000 tỷ m
3
nước trong tổng số 1.600 tỷ m
3
dòng chảy năm
trong sông ngòi toàn quốc.
Miền Bắc nước ta có một mạng lưới sông ngòi dày đặc trên 1080 con sông
trong tổng số 2360 con sông toàn quốc) nôi s chằng chịt đồng bằng với đụi nỳi,
miền ngược với miền xuôi. Từ Hải Phòng, Nam Định có thể đi vào đến miền Trung
theo các kênh đào lớn nhỏ, nguồn nước sông đang tưới chủ động cho 32,01% tổng
diện tích đất canh tác trong toàn quốc (World resource Istitute, 2001).
Nguồn nước sông là nguồn nước chủ động cho phát triển thủy điện Thác Bà
(Yờn Bỏi), Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), Sơn La (tỉnh Sơn La), Thác Mơ (Tuyên
Quang), Yaly (Gia Lai), Trị An (Đồng Nai), Sesan ( Đaklak). Năng lượng của

nước trong nội thành, đô thị. Nước dưới đất hay còn gọi là nước ngầm là tầng nước
tự nhiên chảy ngầm trong long đất qua nhiều tần đất đá, và có cấu tạo địa chất khác
nhau.
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nên
nghiêm trọng, đặc biệt tại các lưu vực sông và cỏc sụng nhỏ, kênh rạch trong nội
thành, nội thị. Trên thế giới có khoảng 1400 triệu km
3
nước có thể sử dụng được,
phần còn lại là nước đóng bang.
 Thế giới hiện nay tỉ lệ sử dụng nước như sau:
 69% sử dụng cho nông nghiệp
 23% sử dụng cho công nghiệp
 8% sử dụng cho đời sống và đô thị.
Theo ước tính, những vùng đất hạn hán chiếm 31% tổng diện tích đất liền
trên thế giới, trong đó bao gồm 40% là sa mạc. Do đó hiện tượng không cân bằng
của sự phân bố nước trên địa cầu là không thể tránh khỏi, điều đáng báo động là
mức sử dụng nước bình quân cho mỗi đầu người vào khoảng 2000 m
3
, nhưng hiện
nay có đến 50 nước, nghĩa là 750 triệu dân được cung cấp nước dưới mức 1700 m
3
(1 người/ 1 năm). Như vậy tron những thập kỷ tới, chúng ta phải tính đến sự sa mạc
hóa và tốc độ tăng dân số ở một số vựng trờn thế giới. Người ta nhận định rằng ở
Châu Phi hơn 1 tỷ người sẽ lâm vào cảnh thiếu nước và tình trạng này cũng là mối
đe dọa của cả Trung Quốc và Ấn Độ [3].
[8]
Chúng ta biết rằng nước là môi trường thuận lợi cho mọi sự ô nhiễm, tất cả
mọi chất thải cũng như mọi chất hóa học khi thải ra nước đều hòa tan hoặc lưu trữ
một phần. Quy luật này là nguồn gốc sâu xa cho sự phát sinh ô nhiễm nước. Hiện
nay trên thế giới nhiều sông, suối đã dần trở nên ô nhiễm nặng nề như:

và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng
cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người.
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây
áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ. Môi trường
nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước
thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công
nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý
chất thải. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví dụ: ở ngành công
nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH
trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học
(COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao
gấp nhiều lần giới hạn cho phép.
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84
lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nờn đó gõy
ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư.
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công
nghiệp tập trung là rất lớn.
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị
nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000
m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thỏi Nguyờn,
[10]
nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện
kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thỏi
Nguyờn chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH
từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có
màu nâu, mựi khú chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhụm, chỡ, giấy, dệt nhuộm ở
Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô
nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và

12.500MNP/100ML ở cỏc kờnh tưới tiêu.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các
nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường
nước và sức khoẻ nhân dân.
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôi
trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha. Do nuôi trồng thuỷ sản ồ
ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nờn đó gõy nhiều tác động
tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cỏch cỏc
loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thỡ cỏc thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ,
[12]
lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một
số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất
hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.[6]
2.2.3. Thực trạng và những vấn đề phải đối mặt tại các hồ ở Hà Nội hiện nay
*) Quá trình đô thị hóa và vấn đề nước thải của Hà Nội
Dưới tác động của đô thị hóa, môi trường đô thị đang phải chịu nhiều áp lực
về mặt thay đổi sinh thái cảnh quan cũng như gia tăng các vấn đề ô nhiễm. Tình
trạng bê tông hóa bề mặt đã tạo nên các mặt không thấm dẫn đến việc giảm và ngăn
cản tốc độ thấm của lớp bề mặt, làm giảm nguồn bổ sung nước dưới đất, tăng dòng
chảy tràn khiến ngập lụt thường xuyên xảy ra trong thành phố sau những cơn mưa
lớn, làm tăng lượng nước chảy tràn vào các hồ khu vực đô thị.[7]
Hà Nội là một trong những thành phố có số lượng dân cư đông đúc, khoảng
gần 7 triệu người vào năm 2009. Trong những thập niên gần đây, cùng với cả nước
Hà Nội đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa mạnh
mẽ, bộ mặt của Thủ đô đang ngày càng được đổi mới. Cùng với những kết quả to
lớn về mặt kinh tế, xã hội do quá trình đô thị hóa mang lại, luôn luôn có những vấn
đề môi trường phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan đô thị và chất lượng
đời sống cộng đồng. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong khi không quan tâm
thích đáng đến vấn đề môi trường là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng quá trình ô
nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường trên diện rộng[8]. Đặc biệt, sự suy giảm

Hoạt động của các bệnh viện trên địa bàn cũng đóng góp một phần nước thải
nguy hại, ảnh hưởng đến đời sống dân cư. Theo thống kê của Sở Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, lượng nước thải từ các bệnh viện ở nội thành Hà Nội vào
khoảng 6.000m
3
/ngày, trong đó phần lớn nước thải không qua hệ thống xử lý, xả
thẳng vào cống thoát nước chung của thành phố. Nước thải bệnh viện được coi là
chất thải nguy hại cần được xử lý, thế nhưng hầu hết các bệnh viện, kể cả bệnh viện
lớn đa số được xây dựng vào những thập niên 70 của thế kỷ trước nên không có hệ
[14]
thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không đủ kinh phí vận hành. Do đó hàng
nghìn m
3
nước thải bệnh viện chứa hàng trăm các tác nhân gây ô nhiễm nghiêm
trọng vẫn được thải ra môi trường hàng ngày.
Sự phát triển của cỏc vựng nông nghiệp thâm canh ven đô Hà Nội thiếu quy
hoạch hợp lý cũng tác động không nhỏ đến chất lượng nước. Một số lượng lớn các
hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón được sử dụng trong nông nghiệp, đặc biệt nguy
hiểm hơn là thói quen sử dụng phân tươi và phân bắc trong trồng rau và màu.
Những yếu tố này càng làm tăng khả năng ô nhiễm nguồn nước, tăng nguy cơ dịch
bệnh.
Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng sự phát triển cơ sở hạ tầng cho
việc tiờu thũa nước ở Hà Nội chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Với một hệ thống
thoát nước chung, bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải cụng nghiờp, nước chảy
tràn… sau đó đổ thẳng ra các hồ chứa và cỏc sụng là một giải pháp không hiệu quả
về môi trường. Bên cạnh đó, lượng bùn cặn trong hệ thống cống thoát nước rất lớn
đã ngăn cản sự lưu thông của dòng nước thải, làm lắng đọng và bồi tụ các chất ô
nhiễm tạo ra mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư. Từ thực tế
này, chúng ta có thể thấy rằng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước tại các hệ thống tiếp
nhận và chứa nước thải của Thủ đô Hà Nội là một vấn đề cần được quan tâm và

Mặc dù xử lý nước thải sinh hoạt, giảm thiểu ô nhiễm nước mặt là vấn đề không
[16]
mới nhưng rất cấp thiết. Việc này tuy không mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp
nhưng là việc cần phải làm nếu muốn phát triển bền vững.
Bên cạnh sự thu hẹp về diên tích mặt nước, các hồ ở Hà Nội vẫn đang phải
đối mặt với tình trạng suy giảm chất lượng nước mặt ngày càng nghiêm trọng.
Theo thống kê của công ty Thoát nước Hà Nội, hấu hết các hồ đều bị ô nhiễm ở
mức độ cao, trong đó khoảng 50% ở mức nghiêm trọng.
Theo Sở Xây dựng, sau nhiều năm nỗ lực thành phố mới cải tạo, kè bờ được
46 hồ trong tổng số 116 hồ. Số ao, hồ chưa được cải tạo cũng là nơi tiếp nhận, xử
lý sơ bộ nước thải đô thị. Thế nhưng, hằng ngày nước thải được xả trực tiếp vào,
không qua xử lý với nồng độ các chất hữu cơ, chất lơ lửng, muối dinh dưỡng cao
đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước và hệ thủy sinh vật trong hệ sinh
thái hồ. Do không được thường xuyên nạo vét nên lượng bùn tích lũy ở đáy hồ lớn,
chiều sâu cột nước thấp làm ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của hồ. Ao, hồ ô
nhiễm không chỉ gây ảnh hưởng tới môi trường mà còn tác động xấu tới sức khỏe
cộng đồng.
Kết quả quan trắc chất lượng nước ao, hồ trong nội thành của Công ty Thoát
nước Hà Nội cho thấy, các hồ chưa cải tạo chứa nước thải đang ở tình trạng ô
nhiễm nghiêm trọng thuộc mức 4, hàm lượng COD dao động từ 100 đến 580mg/l
(hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 10 lần), các chỉ tiêu phú dưỡng, như nitơ,
phospho đều vượt tiêu chuẩn từ 2 đến 4 lần, nồng độ ụxy hòa tan trong nước hồ ở
mức thấp, dao động từ 1 đến 3mg/l. Đáng chú ý là các mẫu nước trong hồ được
kiểm tra đều có số lượng vi khuẩn đường ruột chiếm một tỷ lệ khá lớn từ 6.000 –
42.000 tế bào/100ml nước. Đơn cử như hồ Giảng Vừ cú diện tích mặt nước khoảng
6,5 ha với sức chứa khoảng 90.000 m
3
, kết quả kiểm tra mẫu nước cho thấy BOD
5
[17]

rác thải từ người đi biển,…gõy ảnh hưởng không nhỏ đến đại dương và các sinh vật
đại dương, làm xuất hiệnnhiều hiện tượng lạ, đồng thời làm cho nhiều loài sinh vật
biển không có nơi sống,một số vùng có nhiều loài sinh vật biển chết hàng loạt, ,…
Tình trạng chất lượng nước hồ giảm đột ngột nghiêm trọng và tình trạng cá
chết hàng loạt trong nhiều ngày kể từ thập niên 1970, hiện tượng này được các nhà
khoa học gọi tên là “thủy triều đen”. Phân tích các mẫu nước hồ lấy từ nhiều nước
trên thế giới cho thấy hiện tượng “thủy triều đen” thường xảy trong hồ nước vào
mùa thu. Khi đó, chất hữu cơ dưới đáy hồ bắt đầu phân hủy dưới tác dụng của các
vi sinh vật, làm thiếu ụxy dưới đáy hồ, giảm hàm lượng pH và tăng nồng độ các
gốc axớt kali nitrat. Chu kỳ này làm tăng tình trạng thiếu ụxy trong nước và lây lan
hợp chất sunfua, biến nước hồ có màu đen và mùi hôi.
Sự phát triển quá mức của nền công nghiệp hiện đại đó kộo theo những hậu
quả nặng nề về môi trường, làm thay đổi hệ sinh thái biển. Mặt khác, sự ô nhiễm
nước biển do các chế phẩm phục vụ nuôi tôm, dư lượng các loại thuốc kích thích,
thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật góp phần làm tăng vọt tần suất xuất hiện thuỷ
triều đỏ ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam. Không chỉ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nền kinh tế biển, thuỷ triều đỏ còn làm mất cân bằng sinh thái biển, ô
nhiễm môi trường biển.
Khi gặp những môi trường thuận lợi như điều kiện nhiệt độ, sự ưu dưỡng của
vực nước các loài vi tảo phát triển theo kiểu bùng nổ số lượng tế bào, làm thay
[19]
đổi hẳn màu nước. Các nhà khoa học gọi đó là sự nở hoa của tảo hay “thuỷ triều
đỏ”.Thuỷ triều đỏ phá vỡ sự cân bằng sinh thái biển, gây hại trực tiếp đối với sinh
vật và con người. Một số loài vi tảo sản sinh ra độc tố. Vì vậy, con người có thể bị
ngộ độc do ăn phải những sinh vật bị nhiễm độc tố vi tảo.Thuỷ triều đỏ là tập hợp
của một số lượng cực lớn loài tảo độc có tên gọi Alexandrium fundyense. Loài tảo
này có chứa loại độc tố saxintoxin, đã giếtchết 14 con cá voi trên vùng biển
Atlantic, vào năm 1987.
Khi các chất ô nhiễm từ nước thấm vào đất không những gây ảnh hưởng đến
đất mà còn ảnh hưởng đến cả các sinh vật đang sinh sống trong đất.

Thuốc trừ sâu, chất thải
hóa học
Rất độc, gây ung thư
2 Cd
Đảo ngược vai trò sinh hóa của
enzym, gây cao huyết áp, hỏng
thận, phá hủy các mô và hồng cầu,
có tính độc với động vật dưới nước
3 Be
Than đá, năng lượng hạt
nhân và công nghiệp vũ trụ
Độc tính mạnh và bền, có khả
năng gây ung thư
4 B
Than đá, sản xuất chất tảy
rửa, chất thải công nghiệp
Độc với một số loại cây
5 Cr Mạ kim loại
Nguyên tố cần ở dạng vết, gây ung
thư(VI)
6 F
-
( ion)
Các nguồn địa chất tự
nhiên, chất thải công
nghiệp, chất bổ sung trong
nước
Nồng độ 5mg/l gây phá hủy xương
và gây vết ở răng
7 Pb

Các chất tẩy rửa có hoạt tính bề mặt cao là những chất ảnh hưởng không tốt đến
sứckhỏe, bị nghi ngờ là gây ung thư.
Bảng 4: Một số chất gây ung thư
Hợp chất Sử dụng Mức độ gây nguy hiểm
4-nitrophenyl α-
Naphtylamin
Phân tích hóa học
Chất chống oxi hóa, sản xuất
phẩm màu, phim màu
Gây ung thư bàng quang
4,4-Metylenbis(2
cloanilin)
Metyl-cloanilin ete
Tác nhân lưu hóa chất dẻo
Sản xuất nhựa trao đổi ion
Gây ung thư bàng quang
Benzidin
Sản xuất màu cao su, chất dẻo,
mực in
Gây ung thư bàng quang
Etylenimin
β-propiolacton
Sản xuất chất dẻo Chất gây ung thư nổi tiếng
Etylen diclorua
Dung môi công nghiệp. Chất
sản xuất hạt lượng thực và chất
phụ gia cho xăn để thu gom chì,
mỗi năm thải ra ngoài môi
trường 74.106
Nghi ngờ gây ung thư cho

Thư và Thành Phố Thái Bình, người dân ở đây lấy nước sinh hoạt từ hệ thống sông
phía Bắc của tỉnh Thái Bình, sông Sa Lung. Vậy mà giờ đây nguồn nước đó lại bị ô
nhiễm làm cho đời sống sinh hoạt của nhân dân nơi đây sẽ phần nào bị xáo trộn do
nguồn nước sinh hoạt hàng ngày của họ đã không còn giữ được như xưa. Tại một
sốvựng nông thôn hệ thống xả nước thải được xây dựng tạm bợ giờ đây trở nên
ứđọng, tràn ra xung quanh làm ô nhiễm môi trường không những thế nú cũn gõy
trởngại cho lưu thông, đi lại của nhân dân trong vựng.Mặc khỏc nú cũn làm cho
nguồn nước ngầm bị ô nhiễm trầm trọng, gây thiếu hụt nguồn nước ngọt nghiêm
trọng. Còn ở thành thị, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu là nước máy. Tuy nhiên chất
lượng nguồn nước này đang đặt ra dấu chấm hỏi lớn. Khi nguồn nước này bị ô
nhiễm người dân không còn cách nào khác là phải mua nước khoáng về dùng trong
khi đó vẫn trả tiền hàng tháng cho công ty cấp thoát nước. Việc mua nước phải
thực hiện lúc sáng sớm hoặc tối vì ban ngày họ phải đi làm nên ảnh hưởng rất lớn
đến thời gian làm việc và sinh hoạt.
*) Hoạt động sản xuất:
Nước thải ô nhiễm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, đặc biệt tại các
thành thị lớn nơi có hàm lượng chất ô nhiễm cao. Tại TP.Hồ Chí Minh – Tám
tuyến kênh chính phục vụ tưới tiêu cho 8.000 hađất sản xuất nông nghiệp thuộc
năm xã của huyện Bỡnh Chỏnh và Húc Mụn bị ô nhiễm trầm trọng: kiến, cá chết,
cây cối đổi màu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Trong khi
ấy, các cơ quan chức năng lại bất lực đứng nhìn, chưa tìm ra phương thuốc đặc trị
hữu hiệu nào để cứu đất, cứu lúa.
[25]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status