BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHOA HỌC VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN MÔI TRƯỜNG HỌC CƠ BẢN
***
TIỂU LUẬN:
GVHD: GS TSKH Lê Huy Bá
SVTH: Lê Thị Mỹ Linh
MSSV: 07711231
Lớp: ĐHMT3B
TP HỒ CHÍ MINH THÁNG6-2009
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHOA HỌC VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN MÔI TRƯỜNG HỌC CƠ BẢN
***
TIỂU LUẬN:
1
GVHD: GS TSKH Lê Huy Bá
SVTH: Lê Thị Mỹ Linh
MSSV: 07711231
Lớp: ĐHMT3B
TP HỒ CHÍ MINH THÁNG6-2009
MỤC LỤC:
A Mở đầu 1
B Nội dung 2
I Tổng quan về amiang 1
1. Khái niệm 1
2
2. Tính chất và phân loại 1
2.1 Tính chất 2
2.http://www.gia24.vn Cộng đồng tư vấn xây dựng chuyên nghiệp
3. http://www.chrysotile.com.vn/
4. http://suckhoedoisong.vn/
4
5.http://thuvien.xaydung.gov.vn/site/moc/cm
6. http://bacsihoasung.wordpress.com/
7. http://suckhoedoisong.vn/20093217107876p0c61/xuat-hien-bep-than-amiang-
gay-ung-thu-phoi.htm
8. http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Dung-nam-lam-sach-dat-o-nhiem-
amiang/20002387/188/
9. http://vi.wikiquote.org/wiki/
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN:
5
MỞ ĐẦU:
Amiang là chất khoáng silicat. Do những đặc tính hết sức đặc biệt của mình
mà nó đã được con người sử dụng từ lâu đời. Tuy nhiên theo danh mục các chất
gây độc hàng đầu (CERCLA) do Cơ quan thống kê các chất độc và các bệnh do
phổ biến nhất ở Mỹ. Hiện nay, ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Châu Á,
amiang trắng được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất tấm lợp Amiang Xi măng
(tấm lợp fibro xi măng) bởi những tính năng ưu việt phù hợp với điều kiện môi
trường và chi phí thấp.
2. Tính chất và phân loại:
2.1 Tính chất:
Là chất chất cách điện, cách nhiệt, chịu axit, ít ăn mòn, có độ dai và bền,
chống cháy tốt do có điểm nóng chaỷ cao. Có cấu trúc dạng sợi rất mịn nên bụi
amiang dễ phát tán trong không khí và xâm nhập vào cơ thể con người gây ra ung
thư. Amiang hòa tan được trong axit flohydric. Không có tính phóng xạ Radon,
bền trong môi trường không khí. Màu sắc: xanh, trắng, nâu…
2.2 Phân loại:
Amiang là tên thương mại dùng để chỉ định bất kỳ loại sợi khoáng silicat
nào. Trên thực tế có nhiều loại sợi amiang và chúng được chia thành hai nhóm
riêng biệt: nhóm sợi serpentine và nhóm sợi amphibole. Ngoại trừ việc giống nhau
ở cái tên thương mại, khả năng chịu lửa và ở dạng tự nhiên là sợi thì hai nhóm này
hoàn toàn khác nhau. Sự khác biệt này thể hiện rõ ràng ở cấu tạo hóa học, tính
8
năng, những ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng đến sức khỏe con người cũng như là
các ứng dụng của chúng.
Hai nhóm sợi amiang này không bao giờ được xếp vào cùng một nhóm. Đó
cũng là kết luận chung của các nhà khoa học thể hiện trong báo cáo mới nhất của
Tổ Chức Y Tế Thế Giới(WHO) năm 2004
2.2.1 Nhóm Serpenine:
Là một loại đá gốc định hình dưới dạng khoáng và được tìm thấy trong
thành phần của nhiều loại đá biến chất và đá hỏa thành. Hầu hết các loại đá này có
màu xanh. Serpentine là một tên gọi chung được ứng dụng cho một vài thành phần
của nhóm Polymorphic. Những khoáng này có khả năng cùng công thức hóa học
nhưng khác công thức cấu tạo.
Thuộc lớp: silicates
2
O
5
(OH)
4
Orthochrysotile: Mg
3
Si
2
O
5
(OH)
4
Parachrysotile: (Mg,Fe)
3
Si
2
O
5
(OH)
4
Đối với nhóm này thì ở dạng tinh thể thì trong mờ và ở dạng khối thì mờ đục, độ
cứng:3-4.5; tỷ trọng:2.2-2.6. Cấu trúc mạng tinh thể hay thay đổi, mạng tinh thể
thường gặp không bao giờ ở dạng một mạng tinh thể lớn, độc lập mà chúng
thường kết thành khối và có thớ. Khi ở dạng thô, chúng rất mềm và dẻo. Những
hợp chất có thể liên kết với nhóm Serpentine: cromite, olivin, garnat, talc,
calcite…
Trong đó Chrysotile(amiang trắng) là loại phổ biến nhất hiện nay( chiếm
90% sản lượng trên thế giới).
9
trạng thái liên kết với ximăng. Khi tiếp xúc với da không gây cảm giác khó chịu.
Không nguy hiểm trong môi trường nước và khi uống phải hoặc nuốt phải theo
con đường tiêu hoá. Tuy nhiên, nếu tiếp xúc lâu dài ,thường xuyên với bụi amiăng
chrysotile nồng độ lớn, thiếu các biện pháp bảo hộ hiệu quả có thể mắc bệnh nghề
nghiệp – bệnh bụi phổi.Vì vậy ,việc sử dụng amiăng chrysotile phải được kiểm
10
soát, nồng độ bụi phải được khống chế thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Công ước
162 và bản hướng dẫn 172 về “An toàn trong sử dụng amiăng “năm 1986 của Tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO), cho phép sử dụng amiăng chrysotile với những
biện pháp kiểm soát và bảo vệ sức khoẻ người lao động.
2.2.2 Nhóm Amphiboles:
Là một nhóm khoáng chất có cấu trúc silicat, trong đó các khối tứ diện SiO
4
liên kết với nhau bằng cách phân chia chung các oxy để tạo ra các mạch thẳng dài
vô hạn. Chúng tồn tại phổ biến dưới dạng khoáng chất trong đá như các loại đá
biến chất và đá hỏa thành. Nhóm Amphiboles hiện còn khoảng hơn 60 loại khác
nhau được ghi nhận và hầu hết là chúng có thành phần hóa học khác nhau.
Công thức chung: XY
2
Z
5
(Si, Al, Ti)
8
O
22
(OH,F)
2
X: đại diện cho các ion Na
+
hoặc K
, Al
3+
, Ti
4+
, Fe
2+
, Li
2+
, Mn
2+
.
Một số loại khoáng thuộc nhóm này:
Amosite: 5,5FeO1,5MgO8SiO
2
H
2
O( amiang nâu)
Actinolite: Ca
2
(Mg, Fe
2+
)
5
Si
8
O
22
(OH)
2
Anthophyllite: (Mg, Fe)
7
Si
8
O
22
(OH)
2
Edenite:NaCa
2
Mg
5
Si
8
O
22
(OH)
2
Fluorrichterite:Na(NaCa)MgSi
8
O
22
F
2
Glaucophane:Na
2
(Mg
3
Al
2
)Si
(OH)
2
Tremolite: Ca
2
Mg
5
Si
8
O
22
(OH)
2
11
Trong đó thì Crocidolite( amiang xanh) là loại khoáng màu xanh, là hỗn
hợp silicat với natri và sắt. sợi khoáng này có độ
cứng cao khi bề ngoài của nó bóng nhẵn và có
nhiều màu sắc óng ánh, đó là cấu trúc sợi của
nó. Do đó loại đá này chủ yếu được làm đồ trang
sức.
Do thành phần hóa học và cấu tạo dạng
thẳng, hình kim, chu kỳ bán tiêu hủy chậm, nên
các sợi thuộc nhóm amphibole có thể là nguyên nhân gây ra ung thư và ung thư
trung biểu mô gây hại cho con người. Công ước 162 của Tổ chức Lao Động Quốc
Tế (ILO) cấm sử dụng hoàn toàn amiăng Amphibole màu nâu và màu xanh. Hầu
hết các nước trên thế giới đều cấm sử dụng amiăng amphibole.
2.3 Phân bố:
Amiang được tìm thấy tại nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, Úc, Canada,
Nga, Mỹ và Trung Quốc. Thông thường, Amiang tồn tại trong các loại đá như đá
serpentine, đá mafic, đá siêu mafic, đá đôlômít biến dạng, chất xâm nhập kiềm và
carbonate. Ở dạng tự nhiên, amiang nằm sâu trong các lớp đất đá. Trên thực tế,
khoáng amiang trong các mô ở cá”. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: tiêu hóa là
con đường chính gây nên sự tích lũy amiang và được giữ lại chủ yếu trong các
mô thận của cá. Nguyên nhân là những sinh vật này đã ăn những thức ăn có
13
amiang. Belanger, S.E, D.S Cherry, J Cairns(1990): “ Sự suy yếu về chức
năng và những bệnh lý của loài cá Medaka, Nhật Bản khi tiếp xúc với amiang
trắng trong một thời gian dài”. Theo nghiên cứu này đã chỉ ra rằng sợi
amiang là một tác nhân gây ô nhiễm môi trường nước cần quan tâm…
4.1.2 Môi trường nước uống:
Hầu hết mọi người đã nhận thấy được sự nguy hiểm do hít phải những sợi
amiang trong các tấm lợp hay vật liệu cách ly… Nhưng hiện nay, amiang được
phát hiện trong nước và có nguy cơ gây nguy hiểm đến sức khỏe con người.
amiang là một loại sợi khoáng được sử dụng làm vật liệu cách nhiệt, tăng độ kết
dính trong ximang và trong các đường ống dẫn nước. Amiang thường được tìm
thấy trong một vài loại đá, giếng nước và ở bề mặt gần những mỏ khai thác
amiang đang hoạt động. Amiang có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô
hấp, hoặc đường miệng.
Khi nước di chuyển trong các ống bằng ximang, sự ăn mòn có thể giải
phóng nhiều sợi amiang từ thành ống, những sợi amiang sẽ được mang đến
vòi nước. Không thể phát hiện amiang trong nước bằng các giác quan mà tốt
nhất là phân tích chất lượng nước.
3.2 Môi trường không khí:
Đa phần những sợi amiang tồn tại trong không khí đều do các thiết bị chứa
amiang phóng thích ra. Những thiết bị có thể chứa amiang bao gồm:
Ống dẫn hơi nước, nồi đun, ống dẫn nhiệt của các lò sưởi thường phủ một
lớp amiang. Những thiết bị này có thể phóng thích ra những sợi amiang trong
không khí khi chúng bị hư hỏng. sữa chữa, vứt bỏ không đúng cách.
Vật liệu lót sàn có tính đàn hồi( nhựa vinyl, nhựa đường, cao su)
Những vật liệu cách nhiệt của lò sưởi và lò gốm như tấm lợp, bìa cứng,
giấy. việc sửa chữa hoặc vứt bỏ các thiết bị trên có thể làm phát tán sợi
kẽ, sự gia tăng số lượng thể amiăng màu nâu đỏ và những sợi amiăng không bị
bao bọc. Thể màu nâu đỏ là những sợi amiăng được bao bọc chất sắt protein .
15
Bệnh bụi amiăng thường bắt đầu dưới màng phổi, ở vùng đáy phổi. Nếu
tiến triển, nó có thể xơ hóa lan tỏa cả hai phổi. Ở những giai đoạn cuối, phổi có thể
có hình dạng lỗ chỗ như tổ ong, và có thể không phân biệt được về phương diện
X-quang với những dạng xơ mô kẽ khác.
Những nghiên cứu gần đây gợi ý rằng phản ứng tạo xơ với những sợi
amiăng hít vào đã bắt đầu ngay trong vài giờ tiếp xúc, sau đó là thương tổn hóa
học, cơ học, viêm, miễn dịch qua trung gian đại thực bào ở mức độ tế bào phế
nang.
Hút thuốc lá có thể ành hưởng đến bệnh bụi amiăng. Những người hút
thuốc lá hoặc đã bỏ thuốc lá có một tỉ lệ xuất hiện những hình mờ trên phim lồng
ngực có liên quan đến bụi amiăng cao hơn so với những đồng nghiệp không hút.
Tương tự, tỉ lệ tử vong do bệnh bụi amiăng ở những công nhân tiếp xúc với
amiăng có hút thuốc cao hơn những đồng nghiệp không hút thuốc. Nguy cơ giảm
nếu người công nhân bỏ thuốc. Cơ chế liên hệ giữa amiăng và hút thuốc lá chưa
rõ. Tuy vậy, khói thuốc lá có thể can thiệp vào việc làm sạch amiăng hít vào, gây
tăng hậu quả trên phổi của bụi.
1.3 Sinh bệnh học:
Các sợi amiăng thường lắng đọng ở các chỗ chia đôi của khí đạo, ở các tiểu
phế quản hô hấp và ở các phế nang, sau đó chúng di chuyển vào mô kẽ, một phần
thông qua một tiến trình có liên quan đến các tế bào biểu mô phế nang type I, điều
này làm huy động các đại thực bào gây ra viêm phế nang đại thực bào.
Sau đó, hầu như các sợi này bị quét sạch, không để lại dấu vết gì. Nhưng
nếu sự làm sạch đó không hoàn toàn, tiến trình xơ hóa có thể xảy ra. Mức độ xơ
hóa trong bệnh bụi amiăng, nói chung, có liên quan đến lượng bụi phổi. Nếu số
lượng này nhỏ, phản ứng mô có thể giói hạn, bệnh có thể nhẹ và không tiến triển.
Nếu lượng bụi này lớn, phản ứng mô và viêm phế nang đại thực bào nặng nề hơn,
thương tổn lớn hơn, bệnh phổi tiến triển và mãn tính có thể phát triển.
bệnh bụi amiăng không hút thuốc lá. Chức năng phổi của những bệnh nhân này
thường biểu hiện một thương tổn hạn chế, gia tăng thể tích đồng lưu và một sự gia
tăng kháng lực ngược dòng.
Sinh thiết phổi mở gợi ý tình trạng tắc nghẽn có thể do xơ hóa quanh tiểu
phế quản vì có sự thâm nhiễm quanh tiểu phế quản của các đại thực bào và sự xơ
hóa lan tỏa vào mô kẽ xung quanh. Như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên là ở
những mức độ nhẹ hơn của bệnh bụi amiăng lại biểu hiện bất thường hỗn hợp giữa
hạn chế và tắc nghẽn.
Bất thường sớm nhất của xét nghiệm chức năng phổi là giảm compliance
(nghĩa là độ cứng gia tăng). Xét nghiệm gắng sức giúp xác định bệnh phổi có biểu
17
hiện lâm sàng trên những cá nhân có khó thở mà chức năng phổi tương đối bình
thường.
1.5 Chuẩn đoán:
Một chẩn đoán bệnh bụi amiăng trên bệnh nhân có các triệu chứng lâm
sàng nêu trên đòi hỏi phải có:
Một tiền sử tiếp xúc với amiăng ở một mức độ đủ để bệnh nhân có nguy cơ
phát triển hội chứng này: thời gian bắt đầu tiếp xúc, tổng thời gian tiếp xúc, loại và
mức độ tiếp xúc; thường thời gian tiếp xúc từ 10 – 20 năm đủ để gây bệnh.
Phải chứng tỏ có xơ phổi.
Phim X-quang lồng ngực trước-sau là yếu tố quan trọng nhất trước đây.Khi
thay đổi trên phim X-quang và xét nghiệm chức năng phổi không giúp chẩn đoán
chắc chắn, người ta dùng CT. scanner, phương tiện này thường cho thấy các đặc
điểm nhu mô bất thường, các mãng ở màng phổi và/hoặc sự xơ màng phổi. Những
thương tổn này, nhất là khi có cả hai bên, là những gợi ý rất giá trị về sự tiếp xúc
với amiăng.
Sinh thiết phổi mở được chỉ định khi bệnh nhân không có tiền sử tiếp xúc
đầy đủ với amiăng, hoặc khi các triệu chứng lâm sàng không rõ ràng.
1.6 Điều trị và tiên lượng:
Những nguyên nhân chính gây hoành hành triệu chứng và tử vong ở những
phổi có liên quan với amiăng. Về phương diện bệnh học, người ta nhận thấy có
những vùng sẹo màng phổi khu trú (mãng màng phổi) có thể có đóng vôi. Những
mãng màng phổi thường ở hai bên có liên quan đến 1/3 giữa và dưới của lồng
ngực. Những mãng này thường được tìm thấy trên bề mặt lá thành màng phổi và
không gây bất thường trên xét nghiệm chức năng phổi. Những mãng màng phổi
lớn có thể đưa đến bệnh phổi hạn chế đặc biệt nếu có sẵn bệnh ở nhu mô phổi.
Dày màng phổi lan tỏa là một tiến trình riêng biệt đưa đến dày hoặc xơ hai lá
màng phổi.
Tuy nhiên, ngày càng có nhiều các bằng chứng khoa học chứng minh các
bệnh về phổi liên quan đến amiăng đều có ngưỡng nhất định. Việc sử dụng một
cách có kiểm soát amiăng chrysotile (amiăng trắng) không gây ảnh hưởng đến sức
khỏe con người. Không thể phủ nhận sự tích tụ của sợi có thể dẫn đến quá trình ủ
và hình thành bệnh. Những nghiên cứu mới nhất đều nhận định rằng nguy cơ hình
thành bệnh là rất thấp dù con người có tiếp xúc một lượng lớn sợi chrysotile trong
thời gian ngắn.
Trong khi hầu hết các sợi tự nhiên và nhân tạo hít vào phổi đều bị đào thải
ra ngoài, thì vẫn có một số loại khác “trú ngụ” lại trong phổi. Những loại sợi này
19
sẽ tích tụ và là nguyên nhân dẫn đến các bệnh u, viêm. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình hít thở, tăng khả năng dẫn đến ung thư phổi. nhưng các sợi khi vào phổi
bị đào thải nhanh chóng lại giảm đáng kể nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe
con người. Sự tồn tại hay bị loại bỏ trong cơ thể cũng như trong môi trường của
sợi được gọi là “Độ bền sinh học”. Tính trơ của sợi khi tồn tại trong phổi bị coi là
nguyên nhân chính cho những những căn bệnh tiềm tàng nguy hại. Liên minh
Châu Âu chỉ rõ trong điều 97/69/EC, mục phân loại hàng hóa, đóng gói và dán
nhãn các chất nguy hại rằng chúng phải được kiểm tra một cách cẩn thận nhằm
đánh giá và phân lọai các sợi.
Amiang trắng bị đào thải nhanh chóng ra khỏi phổi. Những thí nghiệm gần
đây nhất trên động vật được tiến hành nghiêm ngặt (theo quy chuẩn của Liên minh
Châu Âu) từ năm 2003 đến 2006 tại các nước Brazil, Canada và Mỹ. Kết luận nêu
2
/năm.
Trong 6 năm đầu thế kỷ 21 lại có thêm 16 cơ sở sản xuất Tấm lợp A-C tiếp
tục xuất hiện, hầu hết là của tư nhân, nâng số lượng nhà máy lên 41, phân bố trên
23 tỉnh thành với 70 dây chuyền, công suất 100 triệu m
2
/ năm.
Các nguyên liệu chính để sản xuất tấm lợp fibrô-ximăng là sợi amiăng, ximăng
(với tỷ lệ 1:10) và một vài phụ gia như bột giấy, sợi thủy tinh.
Nguyên liệu chính dùng trong sản xuất tấm lợp AC
Đơn vị tính: Tấn
TT
NĂM
VẬT LIỆU
2005 2006 2007
1 Amiăng Chrysotile AC 57.776 61.862 59.186
2 Ximăng 708.428 724.801 740.836
3 Bột giấy 2.300 2.355 2.675
4 Sợi Thủy tinh 430 840 1.250
21
Amiăng được sử dụng nhiều nhất là trong ngành công nghiệp composit amiăng-
ximăng, chiếm 90% sản lượng amiăng toàn thế giới.
Các nhà máy sản xuất Tấm lợp A-C Việt nam đều áp dụng công nghệ ướt
của Haasheck- chuyên gia người Áo đề ra năm 1950, rất ít phát tán bụi .
Hơn bất kỳ loại sợi nào khác, sợi amiăng có diện tích phủ rộng, dai, trương
nở lớn và đồng tương thích với ximăng (kiềm tính) nên khi được khuấy trộn với
ximăng trong nước, sợi amiăng sẽ bám dính các hạt ximăng tạo ra huyền phù rất
tốt thuận lợi cho quá trình xeo thành tấm. Sau 28 ngày dưỡng hộ tấm A-C hoàn
toàn đông cứng, đạt cường độ tối đa, có thể cung cấp cho người tiêu dùng .
Thực hiện công ước 162 tháng 6 năm 1986 của Tổ chức Lao động Thế giới
7 Trồng cây xanh trong khu vực nhà máy 35/42 83
Ngoài ra, Hiệp hội đã kết hợp với Viện máy - Bộ CN chế tạo gần 20 máy
tạo sóng bằng hút chân không, theo mô hình của Pháp – Ý đang được dùng ở công
ty Đồng Nai và Nam Việt nhưng có cải tiến, làm giảm 50% nhân công và hạn chế
tối đa sự tiếp xúc của người lao động đối với xi măng và amiang trong công đoạn
này.
2.2 Chất thải rắn:
Chủ yếu là ba-via ( chất thải còn ướt), mảnh vỡ và chất lắng đọng khi vệ
sinh máy( chất thải khô), chất thải rắn thường chiếm 1-2 % nguyên liệu đầu vào,
khoảng 6.000 tấn/năm.
TT CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN SỐ ĐƠN VỊ TỶ LỆ %
1 Thu gom chất thải ướt để tái SXTL 42/42 100
2
Nghiền Chất thải khô để làm gạch block
hay chất độn Klinke XM
23/42 58
3 Chôn lấp 10/42 24
Vừa qua, theo đề xuất của Hiệp hội Tấm lợp VN, Viện Thổ nhưỡng Nông
hóa Bộ NN & PTNT đã nghiên cứu su dung làm chất cải tạo đất ở Thái Bình. Ban
đầu có kết quả tốt.
23
2.3 Nước thải
Chủ yếu từ vệ sinh máy và dưỡng hộ sản phẩm.
Các giải pháp đã thực hiện để hạ thấp pH và chất lơ lửng để tái sử dụng:
TT
Các giải pháp đã thực hiện Số đơn vị Tỷ lệ %
1
Làm hệ thống bể lọc để tái sử
dụng
36/42 86
của Nhà nước.
3. Một số vấn đề vệ sinh lao động trong sản xuất tấm lợp amiang-ximang ở
Việt Nam hiện nay:
Amiang được xếp vào bảng độc hại có yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh lao
động của Việt Nam. Hiện Việt Nam vẫn cho phép sử dụng amiang để sản xuất tấm
lợp theo hướng “sử dụng có kiểm soát” theo Công ước quốc tế 162.
Năm 2008 Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có kế hoạch
thanh tra 14/40 doanh nghiệp sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng và đến nay đã
tiến hành được 8 doanh nghiệp. Qua thanh tra 8 cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng - xi
măng, Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thấy có một số ưu điểm
và tồn tại cần khắc phục về vệ sinh lao động như sau:
3.1Một số nội dung vệ sinh lao động doanh nghiệp đã thực hiện được
a. Hầu hết các doanh nghiệp đều chấp hành việc báo cáo đánh giá tác động môi
trường theo quy định của Luật bảo vệ môi trường dưới sự giám sát của Sở Tài
nguyên môi trường các địa phương;
b. Một số doanh nghiệp đã đầu tư về kĩ thuật công nghệ làm giảm hoặc cách ly
nguồn phát sinh bụi amiăng tại các công đoạn nghiền và xé bao amiăng. Nhiều
doanh nghiệp đã đầu tư máy tạo sóng dỡ khuôn hút chân không. Hiệu quả đã
làm giảm cường độ lao động và giảm số lao động tiếp xúc với amiăng;
c. Các doanh nghiệp đều cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân như quần áo bảo
hộ lao động, khẩu trang chống bụi, găng tay và giày dép đầy đủ;
d. Nhiều doanh nghiệp đã khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động. Một số
doanh nghiệp đã đo môi trường lao động và khám bệnh nghề nghiệp cho người
lao động.
25