II TIỂU LUẬN:
Một số biện pháp cơ bản nhằm duy trì
và mở rộng thị trường tiêu thụ sản
phẩm ở Công ty Bánh kẹo Hải Châu
Lời mở đầu Nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung chuyển sang nền kinh tế vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Nền kinh
tế thoát khỏi trạng thái trì trệ, suy thoái, bước sang giai đoạn tăng trưởng liên tục tốc
độ cao, sức sản xuất và tiêu dùng lớn, cường độ cạnh tranh cao và ngày càng gay gắt.
Các đối thủ cạnh tranh với nhau bằng mọi cách, với mọi hình thức. Trong đó nổi bật là
cạnh tranh về sản phẩm, giá cả, chất lượng, mẫu mã, bao bì, phân phối, khuếch
trương
Để đứng vững trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải nỗ lực đổi mới,
năng động trong sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp hoàn toàn lo liệu đầu vào, đầu ra,
hoạch toán kinh doanh, chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình .
Phần I
Duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm là nhân tố cơ bản tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường .
I. Quan điểm cơ bản về thị trường
1. Các khái niệm về thị trường :
Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng
hoá. Từ đó đến nay, nền sản xuất hàng hoá đã phát triển và trải qua nhiều thế kỷ.
Đứng ở mỗi góc độ khác nhau, người ta có định nghĩa khác nhau về thị trường. Có thể
hiểu một cách chung nhất : Thị trường - đó là nơi gặp gỡ giữa người mua và người
bán.
Thị trường là một phạm trù riêng có của nền sản xuất hàng hoá. Hoạt động cơ bản của
thị trường được thể hiện qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau :
- Nhu cầu về hàng hoá dịch vụ
- Cung ứng về hàng hoá dịch vụ
- Giá cả về hàng hoá dịch vụ
Qua thị trường, chúng ta có thể xác định được mối tương quan giữa cung và cầu,
Phạm vi và quy mô của việc thực hiện cung cầu dưới hình thức mua, bán hàng hoá
dịch vụ trên thị trường.Thị trường là nơi kiểm nghiệm giá trị hàng hoá - dịch vụ, xem
nó có được thị trường chấp nhận hay không. Do vậy, các yếu tố có liên quan đến hàng
hoá dịch vụ đều phải tham gia vào thị trường . Theo Các-Mác : Khái niệm thị trường không thể tách rời khái niệm phân công lao
động xã hội. Sự phân công này là cơ sở chung của mọi nền sản xuất hàng hoá. ở đâu
và khi nào có sự phân công lao động xã hội và có nền sản xuất hàng hoá thì ở đó có thị
trường.Thị trường chẳng qua chỉ là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội và do
đó nó có thể phát triển vô cùng tận .
Theo quan điểm Marketing: Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn
có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao
- Phân loại theo ứng dụng sản phẩm: Bao bì, sản xuất, là một thành phần để hoàn
tất sản phẩm.
- Phân loại theo loại hình tổ chức: Nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ.
- Phân loại theo tình trạng người mua: Thỉnh thoảng, thường xuyên, khách hàng
mới
Phân đoạn thị trường trong công nghiệp có thể được xem xét tốt nhất bằng khái niệm
hai giai đoạn. Trong giai đoạn thứ nhất, khách hàng được phân đoạn bởi các tính chất
địa lý, nhân khẩu. Đây là quá trình phân đoạn tầm vĩ mô. Giai đoạn hai, phân đoạn
tầm vi mô, liên quan vào phân đoạn trong một tổ chức. Phân đoạn tầm vi mô cố gắng
tìm sự tương tự giữa các đơn vị bằng quan điểm các quá trình mua, các phong cách ra
quyết định .
Để chọn được thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần thực hiện theo trình tự sau:
Bước 1: Đánh giá tất cả các phân đoạn dựa trên những đặc điểm sau :
Quy mô và tăng trưởng của phân đoạn
Tính hấp dẫn của phân đoạn
Mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp
Bước 2: Lựa chọn phân đoạn thích hợp
Sau khi đã đánh giá những phân đoạn khác nhau, doanh nghiệp phải quyết
định chọn phân đoạn nào và bao nhiêu phân đoạn. Công ty cần xem xét 5 mô hình
trong việc lựa chọn mục tiêu :
+Tập chung vào một phân đoạn
+Chuyên môn hoá có tính chọn lọc
+ Chuyên môn hoá sản phẩm
+ Chuyên môn hoá thị trường
+Bao quát toàn bộ thị trường .
3. Chức năng của thị trường :
Thị trường gồm các chức năng chủ yếu sau :
- Chức năng thừa nhận của thị trường :
Chức năng này được thể hiện ở chỗ hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp có bán
hợp đem lại lợi ích và hiệu quả cho mình .
II. Vai trò của thị trường đối với các mặt hoạt động SXKD của các doanh nghiệp
1. Trong cơ chế thị trường, thị trường là động lực, là điều kiện, là thước đo kết
quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp .
- Thị trường là tiêu chuẩn căn cứ, tác động đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Các vấn đề cung cầu, cạnh tranh trên thị trường điều chỉnh sản lượng,
phương hướng xây dựng chiến lược sản phẩm và chiến lược mở rộng thị trường. Từ
chỗ nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường, doanh nghiệp mới có kế hoạch sản xuất
kinh doanh phù hợp. Các vấn đề sản xuất bao nhiêu, ở đâu, chất lượng như thế nào,
đa dạng hoá theo hướng nào, mở rộng thị trường theo hướng nào, đều xuất phát từ thị
trường. Như vậy, việc thực hiện các chức năng của thị trường giúp doanh nghiệp có
phương án SXKD hợp lý, giải quyết các vấn đề cơ bản .
-Thị trường đảm bảo các hoạt động bình thường của quá trình tái sản xuất của doanh
nghiệp. Trao đổi là khâu quan trọng và phức tạp của quá trình tái sản xuất diễn ra trên
thị trường. Hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường nếu diễn ra tốt, lành mạnh
sẽ giúp cho việc trao đổi hàng hoá được tiến hành nhanh chóng, đều đặn. Ngược lại
khi thị trường không ổn định, hoạt động trao đổi hàng hoá bị trì trệ hoặc không thực
hiện được sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy, thị trường
có vai trò quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp .
III. Công tác tiêu thụ sản phẩm
1.Khái niệm tiêu thụ :
- Theo nghĩa rộng : Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung
gian giữa một bên là sản xuất phân phối và một bên là tiêu dùng .
- Theo nghĩa hẹp : tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển hoá từ hàng hoá sang tiền tệ
giữa các chủ thể kinh tế nhằm thực hiện gía trị trong quá trình sản xuất kinh doanh
2. Các hình thức tiêu thụ :
- Công ty sử dụng các hình thức tiêu thụ sau :
+Bán buôn
+Bán lẻ
H
SX
T
H’- Công tác tiêu thụ thực hiện tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình duy trì
và mở rộng thị trường đối với các doanh nghiệp công nghiệp. Các nhà hoạch định
chính sách thường dựa vào các chỉ tiêu kinh tế thông qua kết quả tiêu thụ để phân tích
và đưa ra quyết định có nên mở rộng thị trường hay không .
+Nếu hàng hoá tiêu thụ kém thì sẽ là mối đe doạ đối với các doanh nghiệp. Điều đó sẽ
ảnh hưởng tới việc duy trì và mở rộng thị trường .
+Nếu hàng hoá tiêu thụ tốt nó sẽ là tiền đề, điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng thị
trường.
Nó là cầu nối để tham gia và thực hiện các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị
trường. Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đi sâu và khám phá môi trường kinh
doanh từ đó có những chỉ tiêu kinh tế để phân tích các yếu tố có liên quan đến việc
duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm .
IV. Mở rộng thị trường và các nhân tố tác động tới mở rộng thị trường sản
phẩm của doanh nghiệp .
1. Các khái niệm mở rộng thị trường :
Mở rộng thị trường hiểu theo nghĩa trực tiếp, đó là quá trình mở rộng khách hàng
và khối lượng tiêu thụ hàng hoá bằng cách lôi kéo khách hàng về phía mình hoặc khai
thác khách hàng tiềm năng .
Theo cách khác, mở rộng thị trường là doanh nghiệp dùng mọi bịên pháp để thâm
nhập sang thị trường của đối thủ cạnh tranh làm thu hẹp thị trường của đối thủ cạnh
tranh và có khả năng khai thác thị trường mới .
Mở rộng thị trường là tạo thêm cơ hội kinh doanh, tăng cường thế và lực cho doanh
nghiệp trong cạnh tranh. Doanh gnhiệp không thể mở rộng tuỳ tiện mà phải căn cứ
trong tình trạng thiếu hụt. Cơ chế kinh tế cũ kìm hãm sản xuất. Trong kinh tế thị
trường, người tiêu dùng được lựa chọn hàng hoá thích ứng nhu cầu, giá cả phù hợp.
Khoa học kỹ thuật cho phép tạo ra hàng hoá ưu việt hơn. đáp ứng nhu cầu chuyên đa
dạng, khác biệt.Đời sống được cải thiện, người tiêu dùng có khả năng chi trả cao nên
có nhiều cơ hội lựa chọn hàng hoá đặc thù.Kinh tế trị trường được khuyến khích các
doanh nghiệp áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất đã tạo được sản phẩm chất
lượng cao, đa chủng loại mẫu mã với giá thành hạ. Do chính sách của nhà nước về cổ
phần hoá, tăng cường độc lập tự chủ trong sản xuất kinh doanh nên nhà sản xuất phải
nhanh nhậy, năng động, tìm tòi nhiều hơn và chịu trách nhiệm cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Sự tăng lên các nhà sản xuất do họ nắm bắt thời cơ, đều dẫn đến
tăng lượng cung, tạo lên thị trường đa dạng, cạnh tranh gay gắt. Người sản xuất không
cách nào khác phải nắm bắt được nhu cầu, coi khách hàng là mục tiêu đáp ứng. Và vì
có rất nhiều các nhà sản xuất khác nhau cùng cạnh tranh nên cung về hàng hoá không
ngừng tăng và ngày càng đa dạng .
- Doanh nghiệp mở rộng thị trường mới, mở rộng doanh thu, đạt lợi nhuận, đảm bảo
mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Doanh nghiệp luôn tiềm ẩn nguy cơ thất bại nếu
không theo sát nắm bắt thị trường. Khách hàng được phép yêu cầu đòi hỏi đáp ứng tốt
nhu cầu thường xuyên, nhu cầu thay đổi, cả những nhu cầu tiềm ẩn. Khách hàng được
đặt vào vị trí trọng tâm là mục tiêu nỗ lực đáp ứng của các doanh nghiệp. Tiếng nói
của họ chi phối phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó bắt
buộc các doanh nghiệp luôn nỗ lực, tìm mọi biện pháp, không ngừng cải tiến để giữ
vững thị trường. Đồng thời tiến xa hơn là mở rộng thị trường, chiến thắng đối thủ cạnh
tranh, tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp .
- Trong kinh tế thị trường, sức ép của cạnh tranh rất lớn. Để thắng thế trong cạnh
tranh, mở rộng thị trường, doanh nghiệp phải thực thi đổi mới công nghệ phát triển
chất lượng sản phẩm hàng hoá, tạo sự khác biệt để chống lại sự cạnh tranh mạnh mẽ,
duy trì chỗ đứng trên thị trường. Mặt khác giữa các doanh nghiệp trong nghành cũng
tạo lên sức ép, sự giành giật lẫn nhau phần thị trường .Vì thế điều hết sức cần thiết là
doanh nghiệp cần mở rộng thị trường khi thấy có cơ hội.
hàng .
- Nhà cung ứng : Là nhà doanh nghiệp hoặc cá nhân đảm bảo cung ứng các yếu tố cần
thiết cho Công ty và các đối thủ cạnh tranh để có thể kinh doanh các loại hàng hoá,
dịch vụ nhất định. Bất kỳ sự thay đổi nào từ phía nhà cung ứng đều ảnh hưởng tới quá
trình sản xuất, thực hiện kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu nguồn nguyên
vật liệu đầu vào không có hoặc hiếm hoi, gía cả đắt, khó tìm kiếm nguyên vật liệu thay
thế thì buộc doanh nghiệp phải nghĩ đến phương án khác .
- Các trung gian môi giới :
Các doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp tổ chức tốt tiêu thụ hàng hoá dịch vụ của
mình tới người tiêu dùng cuối cùng. Doanh nghiệp có các trung gian môi giới tin cậy,
nhanh nhậy thì sẽ thúc đẩy tiêu thụ .
Nhân tố khách quan :
Đây là nhân tố bên ngoài doanh nghiệp nhưng có tác động tới phương hướng kinh
doanh, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ nên tận dụng những
điểm có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình chứ không lên chống đối .
- Đường lối chính sách nhà nước
Nhà nước có chủ trương khuyến khích hỗ trợ cho ngành nghề nào thì doanh nghiệp
phải nắm được để hưởng ưu đãi về thuế, hỗ trợ vấn đề thị trường tiêu thụ, về quảng
cáo . Doanh nghiệp cần chú ý hỗ trợ của nhà nước có thể là chỉ trên một vùng, một
phạm vi nào đó hay lớn hơn là quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Nếu Việt Nam là
thành viên của hiệp hội, khối liên minh hoặc được tài trợ bởi các tổ chức thì có nhiều
cơ hội xâm nhập và mở rộng thị trường hơn.
- Bối cảnh chung nền kinh tế : Kinh tế đang ở giai đoạn suy thoái hay tăng trưởng sẽ
làm nền cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp biến động hay ổn định
- Trình độ khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật tạo cơ hội cho doanh nghiệp ứng dụng vào sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm nhưng cũng đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng cạnh tranh gay gắt .
-Yếu tố văn hoá xã hội :
Bao gồm phong tục tập quán, thói quen, lối sống của dân cư trong vùng văn hoá. Nhân
thực hiện các biện pháp sau : 1. Giữ nguyên số lượng chủng loại sản phẩm nhưng tăng cường hoạt động
marketing :
Doanh nghiệp chọn sản phẩm là thế mạnh tập chung toàn bộ nỗ lực vào sản phẩm đó
thông qua các hoạt động marketing để mở rộng quy mô thị trường. Nhiệm vụ của
marketing là thực hiện tốt các hình thức khuyến mại định giá, phân phối dịch vụ sau
khi bán và dịch vụ kèm theo. Mục tiêu là khiến các khách hàng hiện có hài lòng. Bản
thân họ sẽ là hình thức quảng cáo tích cực cho doanh nghiệp.
Điều kiện áp dụng chiến lược tăng trưởng theo chiều sâu với phương hướng giữ
nguyên sản phẩm và thị trường hiện có, tăng cường biện pháp marketing, đó là :
+Thị trường hiện tại không bị bão hoà với các sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp
+Khi nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp có thể coi tăng cao
+Khi thị phần của đối thủ cạnh tranh còn giảm sút
+Việc tăng chi phí cho hoạt động marketing của doang nghiệp có tác dụng , tăng lên
về doanh thu, tăng lên về lợi nhuận .
+Có lợi thế về cạnh trạnh so với các doanh nghiệp khác .
2. Giữ nguyên sản phẩm truyền thống nhưng đa dạng hoá theo chiều sâu
Qua nghiên cứu thị trường, sau khi phát hiện ra đoạn thị trường tiềm năng, doanh
nghiệp tập chung mọi nỗ lực vào nghiên cứu sản phẩm, cải tiến tạo tính năng mới, tạo
tính khác biệt để khách hàng chú ý và ưa thích sản phẩm của doanh nghiệp. Điều kiện
để doanh nghiệp áp dụng phương hướng này là :
+ Kênh phân phối để doanh nghiệp tăng lợi nhuận .
+Thị trường mới chưa có hoặc chưa bão hoà về sản phẩm mà doanh nghiệp định xâm
nhập
+Doanh nghiệp có đủ tiềm lực để mở rộng thị trường
-Năng lực sản xuất gồm:
+Phân xưởng sản xuất mỳ sợi : Gồm 6 dây chuyền máy bán cơ giới công suất 2.5-3
tấn/ca.Sản phẩm chính là mỳ sợi.
+Phân xưởng bánh: Gồm 1 dây chuyền máy cơ giới, công suất 2.5 tấn/ca. Sản phẩm
chính: quy bơ(Hương thảo, quy dứa, quy bơ quýt), bánh lương khô(phục vụ quốc
phòng).
+Phân xưởng kẹo: Gồm 2 dây chuyền máy cơ giới, công suất mỗi dây là 2.5 tấn/ca.
Sản phẩm chính là kẹo cứng và kẹo mềm.
+Số CBCNVC: Bình quân 850 người/năm.Trong thời kỳ này do chiến tranh phá hoại
của đế quốc Mỹ (1972) nên một phần nhà xưởng máy móc, thiết bị hư hỏng, Công ty
được bộ tách phân xưởng kẹo sang nhà máy miến Hà Nội thành lập nhà máy Hải Hà
(nay là Công ty bánh kẹo Hải Hà - Bộ công nghiệp).
1.2 Thời kỳ (1976-1985).
-Sang thời kỳ này Công ty đã khắc phục những thiệt hại sau chiến tranh và đi vào hoạt
động bình thường.
Năm 1976 bộ công nghiệp thực phẩm cho nhập nhà máy sữa Mậu Sơn (Lạng Sơn)
thành lập phân xưởng giấy phun. Phân xưởng này sản xuất hai mặt hàng là sữa đậu
nành công suất 2.4-2.5 tấn/ngày và bột canh công suất 3.5 - 4tấn/ngày.
Năm 1978 bộ công nghiệp thực phẩm cho điều động 4 dây chuyền mỳ ăn liền từ Công
ty Sam Hoa (TPHCM) thành lập phân xưởng mì ăn liền với công suất dây chuyền là
2.5 tấn/ngày .
Năm 1982 do khó khăn về bột mỳ và nhà nước bỏ chế độ độn mỳ sợi thay lương
thực, Công ty được bộ công nghiệp thực phẩm cho ngừng hoạt động phân xưởng mỳ
lương thực.
Trong thời kỳ này, Công ty đã tận dụng mặt bằng và lao động, đồng thời đầu tư 12
lò sản xuất bánh kem xốp công suất 240kg/ca. Bánh kem xốp là sản phẩm đầu tiên ở
nước ta .
Số CBCNVC Là: 250 người/năm.
1.3 Thời kỳ (1986-1991).
tư phát triển sx với quy mô lớn hơn, đã nghiên cứu khảo sát xây dựng dự án khả thi
đầu tư một dây chuyền sản xuất bánh mềm cao cấp Custard Cake của Tây Âu, dự án
đã được bộ chủ quản thẩm định phê duyệt với tổng mức đầu tư về thiết bị đầu tư và
xây dựng trên 60 tỷ đồng. Công ty đã thực hiện đấu thầu thiết bị và xây dựng với giá
trị thiết bị trên 47 tỷ đồng xây lắp nên 6.5 tỷ đồng hiện nay công trình xây dựng lắp
đặt thiết bị xí nghiệp bánh mềm cao cấp đã cơ bản hoàn thành, đang triển khai kế
hoạch đưa vào sx chính thức trong dịp cuối năm dự kiến đưa sản phẩm bánh mềm cao
cấp mới đầu tư cùng với sản phẩm hiện có để phục vụ nhân dân trong dịp tết nguyên
đán Quý mùi
2. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của Công ty có ảnh hưởng đến việc
duy trì và mở rộng thị trường sản phẩm .
2.1.Tính chất và nhiệm vụ SX của Công ty:
Hiện nay Công ty bánh kẹo Hải Châu có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh chủ yếu là :
-Kinh doanh các sản phẩm bánh kẹo
-Kinh doanh các sản phẩm bột gia vị
-Kinh doanh các sản phẩm nước uống có cồn và không có cồn
-Kinh doanh các sản phẩm mỳ ăn liền
-Kinh doanh vật tư nguyên liệu, bao bì nghành công nghiệp thực phẩm
-Xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng của Công ty được phép kinh doanh theo giấy phép
kinh doanh ngày 29/09/1994.
Mô hình tổ chức quản lý
Kế toán
trưởng
Phó giám
đốc kinh
doanh
Phòn
g kỹ
thuậ
t
Ban
bảo
vệ
Phòn
g tổ
chức
Ban
XDCB
Phòn
g
KHVT
Phân
xưởng
bánh
I
Phân
xưởng
bánh
II
+Quản lý xây dựng kế hoạch sửa chữa, thay thế thiết bị
+Kiểm tra chất lượng sản phẩm và nguyên liệu đầu vào
- Phòng HC-ĐS có nhiệm vụ: Tham mưu cho giám đốc về công tác hành chính, đời
sống, nhà ytế, nhà trẻ.
Có 4 phân xưởng sản xuất chính và 1 phân xưởng phụ trợ:
PX bánh I: Gồm 2 dây chuyền SX
PX bánh II: Gồm 2 dây chuyền SX
PX kẹo : Gồm 2 dây chuyền SX
PX bột canh: Gồm 2 dây chuyền SX
PX cơ điện : Gồm có tổ cơ khí và tổ điện
2.2. Đặc điểm về lao động:
Cơ cấu lao động của Công ty Đơn vị : người
Phân loại Năm 2000 Năm 2001 Năm2002
S
ố l
ư
ợng
%
S
ố l
ư
ợng
%
29.8
316
30.98
+Nữ 597 70.2 660 70.2 704 69.02
-
Theo
hình th
ức làm việc
+Lao động gián tiếp 128 15.1 124 13.2 130 12.7
+Lao đ
ộng trực tiếp
722
84, 9
816
+Dây chuyền Trung Quốc: 31người/ca, bâc thợ bình quân 3,5
+Dây chuyền Đài Loan: 23 người/ca, bậc thợ bình quân 3,7
- Phân xưởng bánh II:
+Dây chuyền bánh kem xốp 24 người/ca, bậc thợ bình quân là 3,85
+Dây chuyền bánh kem xốp phủ sôcôla 11 người/ca , bậc thợ bình quân là 4,2
-Phân xưởng bột canh:
+Dây chuyền bột canh thường 70 người/ngày, bậc thợ bình quân là 3,27
+Dây chuyền bột canh iốt 85 người/ngày, bậc thợ bình quân là 3,27
-Phân xưởng kẹo
+Dây chuyền kẹo là 15 người/ca, bậc thợ bình quân là 4,1
+Dây chuyền kẹo cứng 12 người/ca, bậc thợ bình quân là 4,4
2.3.Đặc điểm về trang thiết bị máy móc của Công ty :
Trong suốt quá trình phát triển kinh doanh, Công ty bánh kẹo Hải Châu luôn quan
tâm tới việc đổi mới công nghệ. Công ty xác định công nghệ là một yếu tố có tính chất
quyết dịnh tới chất lượng sản phẩm khi mới thành lập, công nghệ sản xuất (máy móc,
thiết bị, kiến thức, kỹ năng ) đều được nước bạn tài trợ. Đến nay những công nghệ đó
đã được thay thế bằng những công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại .
Bảng : Tình trạng máy móc thiết bị của Công ty :