Chuyân đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI NÓI ĐẦU 1
Ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng chưa cao. Khi được chứng kiến cảnh các hộ dân cư trú dọc
hai bên bờ xả chất thải sinh hoạt ra sông, ta mới biết được ý thức bảo vệ cộng đồng ở đây là như thế
nào. Có khi biết việc làm của mình có thể gây nguy hại cho môi trường nhưng vì lợi ích cá nhân, lợi ích
cục bộ của gia đình, doanh nghiệp nên vẫn làm; hoặc có khi chỉ vì sự “đơn giản, tiện lợi” mà có những
hành động ảnh hưởng xấu tới môi trường 33
Từ khu vực nhà vệ sinh và chuồng trại chăn nuôi của các hộ sống quanh sông Đào, hệ thống ống thoát
nước với đầy đủ kích cỡ lớn bé được bắt trực tiếp xuống mặt sông. Thậm chí, có những gia đình lắp đặt
tới 3- 4 vòi xả nước sinh hoạt ra sông. Điều đáng nói là người dân sống hai bên bờ sông vẫn ra đây
giặt giũ, thậm chí một số hộ còn bơm nước sông lên dùng làm nước sinh hoạt. Thử hỏi, nếu xuất hiện
những trận dịch nguy hiểm như dịch tiêu chảy cấp hay H5N1 thì thực trạng kể trên sẽ dẫn tới hậu quả
như thế nào? Ngoài tác động đến môi trường sinh thái và sức khỏe con người, việc người dân xả rác
bừa bãi xuống sông còn làm ách tắc dòng chảy, gây khó khăn cho quá trình tưới, tiêu nước. Qua các
khu dân cư, đập vào mắt trước tiên là những đống rác khổng lồ nằm mấp mé bên bờ sông. Đủ cả, nào
bao bóng, bì tải, giấy tờ, phế liệu cứ thế ngổn ngang, chỉ cần một trận mưa rào những thứ phế thải ấy
sẽ được cuốn xuống dòng sông, nhường mặt bằng cho chủ nhân "tập kết" đợt mới. Đó là chưa kể tới
việc một số hộ dân ban ngày "tập kết" rác tại những đoạn sông vắng, chờ đến đêm sẽ ra đẩy tất cả
xuống sông. Cứ thế, nhà này đến nhà khác, năm này sang năm khác không biết con sông Đào phải oằn
mình chở bao nhiêu tấn rác thải gây ô nhiễm môi trường. Giữa dòng, nước sông Đào có màu đen đục,
lập lờ những chiếc bì căng phồng, cơ man nào là bao bóng, rồi thi thoảng xác súc vật thối rữa nổi lềnh
bềnh Qua đây, ta có thể thấy nhận thức của công đồng về ô nhiễm môi trường và những hiểu biết về
kiến thức, kỹ năng trong việc bảo vệ môi trường là chưa đầy đủ và còn rất nhiều hạn chế 33
Chuyân đề thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Thông qua đợt thực tập này, em đã có được một thời gian thực tế quý báu,
được tiếp xúc với môi trường làm việc chuyên nghiệp và đầy năng động, sáng tạo.
Em xin cảm ơn các cơ, các chú, các anh chị tại chi cục bảo vệ Môi trường – Sở Tài
một nhánh chảy về Vinh (đổ ra Bara Bến Thủy), nhánh còn lại chảy về hướng
huyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò (đổ ra Bara Nghi Quang, Cửa Lò). Với lưu lượng
gần 33 m
3
nước/giây, sông Đào có chức năng phục vụ tưới tiêu cho khoảng 33.000
ha đồng ruộng, phục vụ nước sinh hoạt dân sinh và ngăn lũ cho các địa phương nói
trên. Đồng thời sông còn có chức năng điều hòa không khí và đáp ứng một phần
nhu cầu vận tải. Trong những năm gần đây, do xu thế đô thị hóa, công nghiệp hóa
nên việc khai thác tài nguyên nước ở con sông này đang có xu hướng quá tải; môi
trường đang bị xuống cấp ngày càng rõ rệt hơn: nước thải sinh hoạt và sản xuất
không qua xử lý, rác thải rắn (nhất là túi ni lông), tồn dư thuốc bảo vệ thực vật v.v
đang làm cho chất lượng nước giảm sút, đa dạng sinh học suy giảm. Cư dân ở lưu
vực sông phải hứng chịu gần như toàn bộ lượng nước thải ra (cả nước thải sinh hoạt
và nước thải công nghiệp). Sinh kế của dân cư các xã chủ yếu dựa vào nghề nông,
nguồn nước phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp là nguồn nước lấy từ hệ thống kênh
mương dẫn từ sông chảy qua các xã, năng suất cây trồng có xu hướng giảm, chất
lượng lương thực bị ảnh hưởng v.v Vấn đề ngày càng trở nên cấp bách hơn khi
dân số tăng nhanh (cả về tự nhiên và về cơ học), tuy nhiên do thiếu kinh phí nên các
cấp chính quyền chưa có các hành động cụ thể để giải quyết vấn đề. Chưa có nghiên
cứu cụ thể nào liên quan đến vấn đề này (như xác định mức độ ô nhiễm sông, mức
độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư, các giải pháp ) được thực hiện một cách căn
1
bản. Vì vậy các cấp chính quyền cũng như người dân nơi đây chưa ý thức được một
cách đầy đủ sự nghiêm trọng của vấn đề, do đó chưa có sự quan tâm đúng mức để
có được các biện pháp giải quyết cần thiết.
Từ thực tế đó, tôi xin lựa chọn và nghiên cứu đề tài " Hiện trạng và giải pháp
khắc phục ô nhiễm môi trường nước tại lưu vực sông Đào – Nghệ An” nhằm xem
xét một cách cụ thể về hiện trạng môi trường nước tại lưu vực sông Đào, xác định
mức độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư và sản xuất nông nghiệp để từ đó có thể đề
xuất được những giải pháp khả thi nhằm giải quyết vấn đề một cách căn bản, có đầy
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan
Phương pháp thống kê
Điều tra khảo sát: được áp dụng cho những hoạt động phỏng vấn nhóm,
phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn hộ gia đình cũng như phỏng vấn các cơ sở sản
xuất trên địa bàn lưu vực sông và các ban ngành địa phương.
Nghiên cứu tài liệu, xử lý số liệu điều tra của một số đề án đã được thực
hiện để thấy được thực trạng môi trường nước lưu vực sông Đào.
5. Kết cấu chuyên đề:
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận thì chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về ô nhiễm nước
Chương II: Hiện trạng kinh tế, xã hội, tài nguyên nước, môi trường lưu vực
sông Đào – Nghệ An
Chương III: Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông
Đào – Nghệ An.
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC
1.1 Khái niệm chung về ô nhiễm nước:
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạt
động sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiều
hóa chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật. Hiến chương Châu Âu về nước
đã định nghĩa về ô nhiễm nước: “ là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất
lượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp,
nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, đối với động vật nuôi và các loài hoang dại”
1.1.2 Nguồn gốc ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo.
Nguồn gốc tự nhiên của ô nhiễm nước là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt. Các
tác nhân trên đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có
hại, kể cả xác chết của chúng.
máy đo trong phòng thí nghiệm hoặc trên hiện trường. Thang đo độ đục là NTU.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết
của lưu vực hoặc môi trường khu vực. Nước thải từ các nhà máy nhiệt điện chạy
bằng than hoặc nhiên liệu hạt nhân thường có nhiệt độ cao hơn nước tự nhiên trong
khu vực. Nhiệt độ cao của nước thải làm thay đổi nhiệt độ nước ở các lưu vực nước,
làm cho các quá trình sinh, hóa, lý bình thường của hệ sinh thái nước bị biến đổi.
Một số loài sinh vật không chịu đựng được sự thay đổi sẽ chết hoặc di chuyển đi
nơi khác, một số loài khác thì phát triển mạnh mẽ. Sự thay đổi nhiệt độ nước thông
thường không có lợi cho sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái. Để đo sự biến đổi
nhiệt độ nước, người ta thường dùng các loại nhiệt kế khác nhau.
- Chất rắn lơ lửng: Chất rắn lơ lửng là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ,
kích thước bộ, rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, măn,v.v…. Sự có
mặt của chất rắn lơ lửng trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác.
Để xác định nồng độ chất rắn lơ lửng (SS) người ta thường để lắng các bình chứa
mẫu nước, sau đó lấy ra phần chất lắng, sấy khô và cân.
- Độ cứng của nước gây ra do có muối Ca và Mg trong nước. Độ cứng của
nước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat hoặc bicacbonat Ca, Mg. Loại
nước này khi đun sôi sẽ tạo ra các kết tủa CaCO
3
hoặc MgCO
3
. Độ cứng vĩnh cửu
của nước do các loại muối sunfat hoặc clorua Ca, Mg tạo ra. Độ cứng vĩnh cửu của
nước thường rất khó xử lý và tạo ra nhiều hậu quả kinh tế cho việc sử dụng chúng.
Độ cứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theo
hàm lượng Ca, Mg trong nước.
Độ cứng (mg CaCO
3
/l) = 2,55 Ca (mg/l) + 3,58 Mg (mg/l)
Theo giá trị độ cứng tính bằng mg/l CaCO
(kiềm), pH > 7.
Như vậy, pH là độ axit hay độ chua của nước. Độ pH có ảnh hưởng tới điều
kiện sống bình thường của các sinh vật nước. Cá thường không sống được trong
môi trường nước có độ pH < 4 hoặc pH > 10. Sự thay đổi pH của nước thường liên
quan tới sự có mặt của các hóa chất axit hoặc kiềm, sự phân hủy chất hữu cơ, sự
hòa tan của một số anion SO
4
2-
, NO
3
-
, v.v…
Độ pH của nước có thể xác định bằng phương pháp điện hóa chuẩn độ hoặc
các loại thuốc thử khác nhau.
- Nồng độ oxy tự do trong nước (DO):
Oxy tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước ( cá, lưỡng
thê, thủy sinh, côn trùng,…) thường được tạo ra do sự hòa tan từ khí quyển hoặc do
quang hợp của tảo. Nồng độ oxy tự do trong nước nằm trong khoảng 8 – 10 ppm,
và dao động mạnh phù thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy hóa chất, sự quang hợp của
tảo,v.v… Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết.
Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thủy
vực. Có nhiều phương pháp xác định giá trị DO của các mẫu như phương pháp iot
của Winkler và phương pháp điện cực.
- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học COD:
Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy mà vi sinh vật cần dùng để oxy hóa các
chất hữu cơ theo phản ứng:
Nhu cầu oxy hóa học là các lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa
học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Như vậy. COD là lượng oxy cần để
6
oxy hóa toàn bộ các chất hóa học trong nước, trong khi BOD là lượng oxy cần thiết
thải công nghiệp và sinh hoạt, giao thông, y tế, nông nghiệp, khai thác khoáng sản.
Một số các nguyên tố như Hg, Cd, As rất độc đối với sinh vật kể cả ở nồng độ thấp.
Do vậy, trong các tiêu chuẩn chất lượng nước, nồng độ các nguyên tố kim loại nặng
được quan tâm hàng đầu. Để xác định nồng độ kim loại nặng trong nước, người ta
có thể dựng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích hóa học, phân tích
quang phổ hấp thụ, phân tích kích hoạt hoặc phân tích cực phổ.
- Các nhóm anion NO
3
-
, PO
4
3-
, SO
4
2-
, NH
4
+
Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp là các nguyên tố dinh dưỡng đối với tảo
và thực vật dưới nước. Khi ở nồng độ cao, các nguyên tố này gây ra sự phú dưỡng
hoặc các biến đổi sinh hóa trong cơ thể sinh vật và người. Thí dụ NO
3
-
có thể là
nguyên nhân gây ra ung thư.
Sự có mặt các nhóm anion trên trong nước liên quan tới việc đưa vào môi
trường nước các loại nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và các chất hữu cơ
như rác thải, v.v…Để xác định nồng độ các nhóm anion trên, người ta thường dùng
các phương pháp hóa học.
- Thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồn
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân, rác, nước
thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải của các bệnh viện, v.v… Để đánh giá
chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ
số coliform. Đây là chỉ số phản ánh số lượng coliform trong nước, thường không
gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện cho ô nhiễm nước bởi các tác nhân
sinh học. Để xác định chỉ số coliform, người ta nuôi cấy mẫu trong các môi trường
đặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định. Ô nhiễm nước được
xác định theo các giá trị - tiêu chuẩn môi trường.
1.1.5 Các loại ô nhiễm nước:
8
1.1.5.1 Ô nhiễm nước mặt:
Nước mặt bao gồm nước mưa, nước hồ ao, đồng ruộng và nước các sông, suối
kênh mương. Trong đó, các sông và kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị và đất
trồng lúa nước là các đối tượng thường có mức độ ô nhiễm trầm trọng. Nguồn gây
ra ô nhiễm nước mặt là cáckhu dân cư tập trung như thành phố, thị trấn các hoạt
động công nghiệp khai thác mỏ, cơ khí, luyện kim hoạt động giao thông thủy bộ,
sản xuất nông nghiệp. Các dạng ô nhiễm nước thường gặp là phú dưỡng, ô nhiễm
do kim loại nặng và hóa chất độc hại, ô nhiễm vi sinh vật và ô nhiễm bởi thuốc bảo
vệ thực vật.
Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh dẫn
nước thải. Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, P
cao, tỷ lệ P/N cao do sự tích lũy tuơng đối P so với N, sự yếm khí và môi trường
khử của lớp nước đáy thủy vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sự
kém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen,
có mùi khai thối do thoát khí H
2
S, v.v… Nguyên nhân của sự phú dưỡng là sự thâm
nhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín và
thiếu đầu ra của môi trường hồ. Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫn
nước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết các
tượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thế giới. Trong quá trình
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, một lượng đáng kể thuốc và
phân không được trồng tiếp nhận. Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước
và các sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật. Tác dụng tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là
làm suy thoái chất lượng môi trường ở khu vực canh tác nông nghiệp như phú
dưỡng đất, nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông
thôn, suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với
thuốc bảo vệ thực vật.
1.1.5.2 Ô nhiễm và suy thoái nước ngầm:
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích
bở rời như cát, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt Trái Đất,
có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người. Theo độ sâu phân bố, có thể
chia nước ngầm thành: nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. Đặc điểm
chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành
dòng chảy ngầm theo địa hình. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn
cách với địa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ
thuộc vào trạng thái của nước mặt. Loại thường nằm trong lớp đất đá xốp được
ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước. Theo không gian
phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
- Vùng thu nhận nước;
10
- Vùng chuyển tải nước;
- Vùng khai thác nước có áp.
Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường khá xa, từ vài
chục đến vài trăm km. Các lỗ khoan nước ở vùng khai thác thường có áp lực. Đây là
loại nước ngầm có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định lớn.
Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ
di chuyển theo các khe nứt caxtơ. Trong các dải cồn các vùng ven biển thường có
các thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển.
suối, các chất thải từ hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản,
giao thông vận tải biển. Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ chất thải độc hại
như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới. Các biểu hiện của sự ô
nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số dạng như sau:
- Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại
nặng, các hóa chất độc hại.
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ.
- Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, cỏ biển,……
- Suy giảm chất lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh vật
biển.
11
- Xuất hiện các hiện tượng như thủy triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong
các thực phẩm lấy ra từ biển.
Theo công ước luật biển năm 1982, có 5 nguồn có thể gây ra ô nhiễm biển: các
hoạt động trên đất liền, việc thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và
đáy đại dương, việc thải các chất độc hại ra biển, vận chuyền hàng hóa trên biển, ô
nhiễm không khí. Cả 5 nguồn này đang có xu thế gia tăng, đe dọa tới chất lượng
môi trường biển.
Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản
phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô
nhiễm khác. Theo tính toán, vào các năm 60 của thế kỷ này, lượng chất thải rắn đổ
ra biển hàng năm khoảng 50 triệu tấn, gồm đất,cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất
phóng xạ. Một số chất thải này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ. Một số chất khác bị
phân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển.
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của các
chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới.
Công ước luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Công
ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu là
các ví dụ về sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển.
CHƯƠNG II
Nguyên, Nghi Lộc còn có các tuyến kênh Gai, kênh Hồng Cần, kênh Lam Trà cùng
làm nhiệm vụ kết hợp tưới tiêu cho vùng Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc.
2.2. Hiện trạng Sông Đào, dòng chảy, tình hình tưới tiêu và môi trường:
2.2.1. Đoạn từ cống Nam Đàn đến cầu Nam Anh (Nam Đàn)
Hiện trạng lòng Sông:
Sông Đào, dài 5,1km, chiều rộng lòng Sông trung bình
b =15 ÷ 20 m, cao độ đáy Sông -1,0 ÷ -1,5
Dòng chảy trong Sông:
- Mùa lũ: Cống Nam Đàn đúng, dòng chảy trong Sông do mưa lũ chảy từ đất
của thị trấn, các xã Vân Diên, Xuân Hồ, Nam Nghĩa, Nam Thanh, Nam Anh của
huyện Nam Đàn chảy về, lưu lượng lũ:
Q
L
= 25 ÷ 30m
3
/s, lưu tốc dòng chảy trên Sông V = 1,2÷1,5 m/s
- Mùa kiệt: Nguồn chính do nước Sông Lam chảy qua cống Nam Đàn vào,
Ngoài ra nước sau khi tưới theo các kênh tiêu trở về Sông, nước mưa ngấm xuống
đất chảy vào Sông, nước sinh hoạt vùng thị trấn chợ chảy vào Sông, lưu lượng bình
quân Q
K
= 20÷25m
3
/s. Lưu tốc dòng chảy V
k
= 0,3÷ 0,5m/s, những năm hạn lớn kéo
dài Q
K
= 15 ÷ 20 m
3
lớn, kéo dài, nước Sông Lam thấp Q
K
= 12 ÷15 m
3
/s.
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho 942 ha đất canh tác hàng năm của xã Nam Xuân và
Hùng Tiến của huyện Nam Đàn. Nguồn nước tưới chủ yếu do các trạm bơm lấy
nước Sông Đào tưới, vùng cao Nam Xuân lấy nước các hồ chứa tưới lúa màu.
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 2285 ha, trong đó có 335 ha đồi núi Nam Xuân.
2.2.3. Đoạn từ ngã ba Kênh Lam Trà đến Cầu Mượu (Nam Đàn)
Hiện trạng lòng Sông:
Sông dài 6,2 km, chiều rộng lòng trung bình 15÷20m, cao độ đáy Sông -1,15 ÷
-1,7.
Dòng chảy trong Sông:
- Mùa lũ: Do mưa lũ vùng đầu Sông và lưu vực hai bên Sông đổ vào, lưu
lượng lũ trung bình Q
L
= 60÷70 m
3
vận tốc dòng chảy lũ V
L
= 1,2 ÷1,5 m/s, thời kỳ
mưa lũ hè thu Q
HT
= 30÷40 m
3
/s, vận tốc dòng chảy V= 0,8÷1,0 m/s.
-Mùa kiệt: Do nước Sông Lam qua cống Nam Đàn về và một phần lưu lượng
nước sau khi tưới chảy về kênh tiêu về Sông Đào, lưu lượng nước Q
HT
= 40÷ 50 m
3
/s
- Mùa kiệt: Chủ yếu do nước Sông Lam về và một phần nước sau khi tưới
nước chảy về kênh tiêu quay trở về Sông Đào, lưu lượng dòng chảy trung bình Q
K
=
10÷15 m
3
/s lưu tốc dòng chảy, V
K
= 0,3÷0,4 m/s, những năm hạn lớn kéo dài nước
Sông Lam xuống thấp nhỏ hơn +1,0, lưu lượng Q= 8÷ 10m
3
/s.
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích 2410 ha đất trồng cây hàng năm của các xã
Xuân Lâm, Nam Cát, Hưng Long, Hưng Lĩnh, Hưng Thông, Hưng Đạo của huyện
Hưng Nguyên. Nguồn nước tưới do các trạm bơm lấy nước từ Sông Đào và kênh
Lam Trà lên tưới ( kênh Lam Trà là nhánh Sông Đào). Vùng này ngoài tưới, có
trạm bơm cầu Mượu bơm nước Sông Đào Q= 40.000 m
3
/ ngày, phục vụ nước sinh
hoạt cho 250.000 người dân thành phố Vinh.
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho 4313 ha đất tự nhiên của các xã trong khu vực.
2.2.5. Đoạn từ cầu Hưng Đạo đến ngã ba cầu Đước (Hưng Nguyên)
Hiện trạng lòng Sông:
Sông dài 3,3 km, chiều rộng lòng Sông bình quân b=18÷20m , cao độ đáy
Sông -2,0÷ –2,4.
Hồng Cần dẫn nước từ Sông Đào về).
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho diện tích 1724 ha của Hưng Chính, thị trấn và
Hưng Mỹ ,nước chảy qua các kênh tiêu về Sông Đào hoặc vào kênh Hồng Cần về
Sông Đào.
2.2.6. Đoạn từ ngã ba cầu Đước đến cầu Cửa Tiền( Sông Vinh)
Hiện trạng lòng Sông:
Dài 1,6 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b=18÷ 22 m, cao độ đáy Sông
-1,5÷ -1,7
Dòng chảy trong Sông:
- Mùa lũ: Do mưa lũ đầu nguồn Sông Đào và mưa lũ ở các phường xã hai bên
Sông Đào dồn về, lưu lượng lũ bình quân Q
L
= 90÷ 100 m
3
/s, lưu tốc dòng chảy V
L
=
1,0÷ 1,2 m/s, lũ hè thu lưu lượng nhỏ Q= 50÷ 60 m
3
/s. Đoạn Sông này khi mực
nước Sông Lam thấp nước lũ qua cống Bến Thuỷ (thành phố Vinh) về Sông Lam,
khi nước Sông Lam cao nước lũ chảy ngược về ngã ba Đước (Hưng Nguyên) về
cống Nghi Quang ra biển.
- Mùa kiệt: Nguồn nước Sông Lam qua cống Nam Đàn và nước tái sinh sau
khi tưới và sinh hoạt về đây, nước được phân về hai ngả để phục vụ tưới sinh hoạt
và thông thuyền nên Q
K
= 4÷ 5 m
3
/s, V= 0,3÷ 0,4 m/s, những năm hạn lớn kéo dài
L
=15÷ 20 m
3
/s.
- Mùa kiệt: Chủ yếu nước Sông Lam qua cống Nam Đàn về, ngoài ra còn có
nước tái sinh sau khi tưới, nước chảy qua các cống tiêu, kênh tiêu, lưu lượng dòng
chảy Q
K
=2÷ 3 m
3
/s, vận tốc dòng chảy V=0,2÷ 0,3 m/s, những năm hạn lớn kéo dài
Q
K
= 1,5÷ 2 m
3
/s.
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích 229 ha đất trồng rau hàng năm của phường
Vinh Tân và phường Trung Đô (thành phố Vinh)
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho 1252 ha vùng dân cư và đất canh tác của Trung
Đô và Vinh Tân.
2.2.8. Đoạn từ cầu Trung đô đến ngã ba kênh Hồng Cần (thuộc Vinh)
Hiện trạng lòng Sông:
Dài 1,2 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b = 20-25m, độ cao đáy -2,5÷ -3,0.
Dòng chảy trong Sông:
- Mùa lũ khi mực nước Sông Lam thấp, hầu hết lũ đầu nguồn Sông Đào và lưu
vực kênh Hồng Cần đều tiêu nước vào Sông Vinh qua cống bến thuỷ về Sông Lam,
lưu lượng lũ bình quân Q
L
= 110÷115 m
Chiều dài 0,7 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b = 25 ÷ 30 m, cao độ - 3,0
÷ -3,5 m đây là đoạn cửa ra của Sông Đào với Sông Lam qua cống Bến Thuỷ
Dòng chảy trong Sông
- Mùa lũ: Khi mực nước Sông Lam thấp, mưa lũ vùng Nam Đàn, Hưng
Nguyên, Vinh tập trung về Sông Đào, về Sông Vinh, qua cống Bến Thuỷ về Sông
Lam, lưu lượng lũ trung bình Q
L
= 115 ÷ 120 m3/s, lưu lượng lớn nhất qua cống
Q
max
= 180 m
3
/s, vận tốc dòng chảy V
L
= 1,0 ÷ 1,2 m/s khi mực nước Sông Lam cao,
cống Bến Thuỷ đúng, nước Sông Vinh chảy ngược về ngó ba Đước (Hưng
Nguyên), về cổng Nghi Quang (Nghi Lộc) ra Cửa Lò. Lũ hè thu Q
L
= 60 ÷ 70 m
3
/s.
- Mùa kiệt: Chủ yếu nguồn nước Sông Lam qua cống Nam Đàn về phục vụ
tưới, nuôi trông thuỷ sản, dân sinh và các khu công nghiệp, lưu lượng còn lại tập
trung về cửa cống Bến Thuỷ để đẩy mặn Q
K
= 1÷ 1,5 m3/s, vận tốc dòng chảy V =
0,2 ÷ 0,3 m/s
Diện tích tưới tiêu:
Đây là đoạn Sông cuối cùng của Sông Đào trước lúc ra Sông Lam nên không
phục vụ tưới, tiêu, nước chủ yếu là tiêu nước cho vùng đầu của Sông Đào và Sông
nguồn nước đã bị ô nhiễm sẵn nên muốn sử dụng cho sinh hoạt cần phải kiểm tra
chất lượng nước
2.3.3 Đoạn từ ngã ba Kênh Lam Trà đến Cầu Mượu (Nam Đàn)
Dân số sử dụng nước sinh hoạt:
Vùng này có dân số 4 xã, số hộ 6609 hộ, dân số 30.013 người, sử dụng nước
sinh hoạt chủ yếu là giếng đào và giếng khoan, nguồn nước chủ yếu là nước Sông
Đào sau khi tưới ngấm vào giếng một phần dân Nam Lĩnh và Nam Giang gần chân
nơi nước giếng ngấm từ nước ngầm trong nơi vào giếng.
Các điểm cấp nước và xả thải vào Sông Đào:
- Các điểm cấp nước: Chủ yếu nước Sông Lam về qua cống Nam Đàn, nước
các trạm bơm sau khi tưới về kênh tiêu, về Sông Đào.
- Các điểm xả thải: Các vị trí cấp nước cho Sông Đào chính là các điểm xả thải
vào Sông Đào, chất thải vào Sông bao gồm các rác bẩn bột đất đá do khai thác đá rú
Mượu, phân bón ruộng và thuốc trừ sâu phun cho lúa và hoa màu.
2.3.4 Đoạn từ cầu Mượu đến cầu Hưng Đạo (Hưng Nguyên):
Dân số sử dụng nước sinh hoạt:
Toàn vùng có 8738 hộ, dân số 35.974 người. Nước sinh hoạt chủ yếu là nước
giếng đào và giếng khoan, nguồn nước sử dụng do nước Sông Đào, kênh Lam Trà
và nước sau khi tưới lúa, nước ngấm vào giếng.
Các điểm cấp nước và xả thải vào Sông Đào:
19
- Các điểm cấp nước: Chủ yếu nước Sông Đào về và một phần nước sau khi
tưới lúa, màu nước về kênh tiêu quay về Sông Đào.
- Các điểm xả rhải: Các vị trí cấp nước cho Sông Đào chính là các vị trí xả thải
vào Sông, nguồn xả thải chính là rác thải, phân bón, thuốc trừ sâu hồ tan vào nước
chuyển về Sông Đào, tuy nguồn nước luôn chảy nhưng nước trong Sông Đào vẫn bị
ô nhiễm.
2.3.5 Đoạn từ cầu Hưng Đạo đến ngã ba cầu Đước (Hưng Nguyên)
Dân số sử dụng nước sinh hoạt:
Toàn vùng có 4397 hộ, dân số 18.169 người, các xã Hưng Chính, Hưng Mỹ
- Các điểm cấp nước:
Nguồn nước chính là nước Sông Lam theo Sông Đào về và nước tái sinh sau
khi tưới và sử dụng sinh hoạt, qua cống tiêu kênh tiêu về như kênh tiêu Vinh Tân,
cống Cầu Đen(thuộc phường Vinh Tân)
- Các điểm xả thải: Các vị trí cấp nước cho Sông Đào chính là các điểm xả thải
vào Sông, chất thải chính do thượng nguồn Sông đào cấp vùng này còn do khu dân
cư đông đúc: chợ Vinh, bệnh viện thành phố, chợ Cửa Đông, chợ Vinh Tân, mang
các loại rác bẩn, xác động vật, hoá chất về Sông Đào.
2.3.8. Đoạn từ cầu Trung đô đến ngã ba kênh Hồng Cần (thuộc Vinh)
Dân số sử dụng nước sinh hoạt:
Toàn vùng có 3873 hộ dân số 117.105 người, nước sinh hoạt chủ yếu là giếng
đào, giếng khoan và xây, bể đựng nước mưa, giếng đào và giếng khoan chủ yếu
nước kênh Hồng Cần và nước sau khi tưới ngấm vào
Các điểm cấp nước và xả thải:
- Các điểm cấp nước: Nước Sông Đào, nước Sông Hồng Cần và các cống tiêu
qua đê cấp nước cho Sông Vinh
- Các điểm xả thải: Các vị trí cấp nước cho Sông Vinh chính là các điểm xả
thải vào Sông Vinh, chất thải chủ yếu là rác bẩn, phân bón, hoá chất, thuốc trừ sâu
2.3.9 Đoạn từ ngã ba Sông Hồng Cần đến cống Bến Thuỷ (thuộc Vinh)
Dân số sử dụng nước sinh hoạt:
Đây là vùng cuối Sông Vinh, dân số chỉ một số hộ rất ít, nước sinh hoạt chủ
yếu là giếng đào, nước trong nơi ngấm vào giếng, một số hộ cũng bị ảnh hưởng do
nước Sông Vinh ngấm vào nhưng chỉ vài chục hộ.
Cấp nước và xả thải:
- Cấp nước: Đây là vùng cửa Sông nước ngọt trên Sông chủ yếu là phục vụ
đẩy mặn và đảm bảo giao thông ra vào cống Bến Thuỷ, nguồn nước chủ yếu là
nước Sông Lam qua cống Nam Đàn và nước sau khi tưới, sinh hoạt tái sinh
- Xả thải: Do cống Bến Thuỷ thường xuyên đúng nên rác thải Sông Đào về bị
ứ đọng tại đây, khi cống mở chất bẩn lại chảy vào Sông Lam, giảm độ ô nhiễm cho
Sông Vinh.