1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐẶNG THỊ VIỆT HƢƠNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU Ô
NHIỄM MÔI TRƢỜNG NƢỚC TẠI KHU VỰC SƠ
CHẾ SỨA HUYỆN VÂN ĐỒN – QUẢNG NINH
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG NƢỚC TẠI KHU
VỰC SƠ CHẾ SỨA HUYỆN VÂN ĐỒN – QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng
Mã số: 60 85 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN : PSG.TS. Trần Văn Thụy
Hà Nội – Năm 2012
3
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
Nguồn lợi sứa biển Quảng Ninh
15
1.4.3
Ngư trường khai thác sứa
16
CHƢƠNG II: ĐỐI TƢỢNG PHẠM VI VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
21
2.2
Phƣơng pháp nghiên cứu
23
2.2.1
Phương pháp thu thập dữ liệu
23
2.2.2
Phương pháp thống kê
23
2.2.3
Phương pháp phỏng vấn điều tra
23
2.2.4
Phương pháp khảo sát thực địa
23
2.2.5
Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
24
2.2.6
31
3.2.5
Cơ cấu tiền lƣơng và thu nhập
31
3.2.6
Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị sản xuất
32
3.2.7
Công nghệ sản xuất và chất thải
33
3.2.8
Hệ thống thu gom và xử lý chất thải
36
3.3
Thực trạng công tác quản lý các xƣởng sơ chế sứa
37
3.4.
Hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc
40
3.4.1
Độ ô xi hòa tan
40
3.4.2
Độ mặn
40
3.4.3
Độ pH
41
3.4.4
Hàm lƣợng chất rắn lơ lửng ( TSS)
cơ sở sơ chế sứa
46
3.5.1
Quan điểm
46
3.5.2
Cơ sở pháp lý
46
3.5.3
Các giải pháp
47
5
3.5.3.1
Giải pháp về tuyên truyền giáo dục
47
3.5.3.2
Giải pháp về quy hoạch
48
3.5.3.3
Giải pháp về chính sách
48
3.5.3.4
Giải pháp về đầu tư tài chính
51
3.5.3.5
Giải pháp về Khoa học Công nghệ
51
6
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BOD: Biochemical Oxygen Demand- Nhu cầu ôxy sinh hoá.
COD: Chemical Oxygen Demand- Nhu cầu ôxy hoá học
DO: Dissolved Oxygen- ôxy hoà tan.
LL: Lƣu lƣợng
Nts: Nitơ tổng số
Pts: Phốtpho tổng số
SS: Suspended Solid- Chất rắn lơ lửng.
UASB: Hệ thống đệm bùn kị khí dòng lên
ANOXIC: Hệ thống yếm khí
AEROTEN: Hệ thống xử ký hiếu khí
CHC: Chất hữu cơ
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
QCVN 10: Quy chuẩn Việt Nam 10: 2008/BTNMT Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về nƣớc biển ven bờ
QCVN11: Quy chuẩn Việt Nam 11: 2008/BTNMT Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia đối với nƣớc thải chế biến thủy sản
Tổng hợp sản lƣợng chế biến sứa từ năm 2007-2011
30
Bảng 3.4
Tổng hợp giá trị xuất khẩu sứa từ năm 2007-2011
30
Bảng 3.5
Kết quả phân tích mẫu nƣớc thải tại các cơ sở chế biến sứa
36
Bảng 3.4.1
Giá trị trung bình của hàm lƣợng TSS
42
Bảng 3.4.2
Giá trị trung bình của hàm lƣợng BOD
5
43
Bảng 3.4.3
Giá trị trung bình của hàm lƣợng COD 44
DANH MỤC HÌNH VẼ
Tên
Nội dung
Trang
Hình 1.1
Ngƣ trƣờng khai thác sứa Minh Châu - Quan Lạn
17
Hình 1.2
Ngƣ trƣờng khai thác sứa Thắng Lợi – Ngọc Vừng
8
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Tên
Nội dung
Trang
Sơ đồ 3.5.1
Phân cấp quản lý các xƣởng chế biến sứa
50
Sơ đồ 3.5.2
Quy trình giảm thiểu chất thải rắn
52
Sơ đồ 3.5.3
Quy trình giảm thiểu nƣớc thải chế biến sứa hàng ngày
55 DANH MỤC PHỤ LỤC
Tên
Nội dung
Trang
Phụ lục 01
Các mẫu phiếu điều tra
63
Phụ lục 02
Danh sách và quy mô các xƣởng sơ chế sứa toàn tỉnh Q.Ninh
70
Phụ lục 03
những kiến thức khoa học quý báu trong suốt quá trình tôi theo học để tôi thêm
vững tin trong quá trình thực hiện khóa luận và công tác chuyên môn sau này.
Tôi xin cám ơn Sở Khoa học Công nghệ Quảng Ninh đã phê duyệt nhiệm vụ
“ Nghiên cứu đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các cơ sở sơ chế sứa huyện Cô Tô và Vân
Đồn” và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện thành công đề tài. Tôi xin cám ơn
tập thể Lãnh đạo và cán bộ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng
Ninh đã cùng tôi thực hiện tốt đề tài. Cám ơn các Sở Tài nguyên Môi trường Quảng
Ninh, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm Khoa học
và sản xuất giống thủy sản, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ
Quảng Ninh, các phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn huyện Vân Đồn, Hải Hà, phòng Kinh tế tp. Móng Cái, Hạ Long,
phòng Tài nguyên Môi trường và nông nghiệp huyện Cô Tô đã phối hợp, giúp đỡ,
cung cấp tài liệu và đóng góp ý kiến quý báu để hoàn thiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bè bạn và đồng
nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suôt quá trình học và thực hiện đề tài
nghiên cứu này.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Học viên
Đặng Thị Việt Hương
10
MỞ ĐẦU
Quảng Ninh là một trong số các địa phƣơng hội tụ nhiều yếu tố tự nhiên
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản. Có thể coi điều kiện tự nhiên của tỉnh
phần dƣ thừa từ con sứa xuống biển. Nghiêm trọng hơn, tại thời điểm đó chế biến,
sứa chỉ đƣợc cắt lấy đầu. Còn phần thân vứt xuống biển, khiến một phần vùng nƣớc
biển bị ô nhiễm chuyển sang màu, bốc mùi hôi rất khó chịu gây ảnh hƣởng xấu
chất lƣợng môi trƣờng sống của các loài thủy sinh vật nói chung và nguồn lợi thủy
sản nói riêng và đặc biệt là các loài thủy sản quý hiếm, loài có giá kinh tế cao nhƣ:
sá sùng, bào ngƣ, tu hài, trai ngọc, hải sâm Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng biển ở hai
địa phƣơng Cô Tô và Vân Đồn trở lên cần đáng lƣu tâm hơn khi quần đảo Cô Tô
nằm trong quy hoạch khu bảo tồn biển của chính phủ theo Quyết định số 742/QĐ-
TTg ngày 26/5/2010, và khu vực biển Minh Châu – Quan Lạn đã đƣợc khoanh vùng
bảo tồn bãi sá sùng thuộc Chƣơng trình bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản
Quảng Ninh giai đoạn 2005- 2015 do Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy
sản tỉnh Quảng Ninh thực hiện.
Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản tôi
chọn đề tài luận văn “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô
nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn – Quảng
Ninh” hƣớng tới việc đánh giá những tồn tại, hạn chế và hiệu quả kinh tế xã hội của
nghề sơ chế sứa, hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc nhằm nắm đƣợc những
thông tin cơ bản để làm tiền đề cho việc đƣa ra những giải pháp trong quản lý, chính
sách phù hợp với địa phƣơng.
12
ra khái niệm “các chỉ thị sinh học của ô nhiễm” và đề xuất hệ thống phân loại độ
nhiễm bẩn dựa vào các loài đƣợc tìm thấy trong quần xã sinh vật nổi (plankton),
sinh vật bám (periphyton), động vật không xƣơng sống cỡ lớn (macroinvertebrates)
và cá. Năm 1908 – 1909, hai tác giả này đã chia nhỏ thành 4 mức độ:
- Nghèo dinh dƣỡng
- Không bẩn (Oligosaprobe)
- Nhiễm bẩn vừa mức α (α – mesosaprobe)
13
- Nhiễm bẩn vừa mức β (β – mesosaprobe) và rất bẩn (polysaprobe).
Zhadin, 1964 còn chia nƣớc thành 3 loại: nƣớc bẩn ( Saprobe) chủ yếu chứa
chất hữu cơ, vi khuẩn; nƣớc độc ( toxobe) chứa các kim loại nặng, chất phóng xạ,
các hóa chất độc ( ĐT, phenop ) và nƣớc vừa bẩn vừa độc là hỗn hợp của 2 loại
nƣớc trên. Ông cũng chia thành 4 mức Oligo -, Meso-, Poly -, Hypersaprobe ( Toxo
hay saprotoxobe) [10].
Slodecek, 1963 chia nƣớc thành các loại sau: nƣớc sạch ( Katarobe), nƣớc
nhiễm bẩn( limonosaprobe), nƣớc bẩn gây ra do chất hữu cơ ( eusaprobe), nƣớc bẩn
gây ra không do chất hữu cơ ( transaprobe). Nhóm cuối cùng tách thành antisaprobe
( có chất độc), radiosaprobe ( bẩn phóng xạ) và cyptoxaprobe ( bẩn vật lý, nhiệt)
[10].
Ngoài ra sử dụng các chỉ thị sinh học trong đánh giá chất lƣợng nƣớc đã có
những nghiên cứu sau Kolkwits và Marson nhƣ:
Kolkwitzs, 1950; Liebmann, 1951, 1962; Fjerdingstad, 1988, đã bổ sung và
phát triển hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn [10]
Pantle và Buck, 1955, Zelinka và Marvan, 1961 đã ứng dụng hệ thống phân
loại độ nhiễm bẩn để xây dựng hệ số ô nhiễm [10]
Sladecek, 1973, đã đƣa ra danh mục các nhóm thủy sinh vật chỉ thị ô nhiễm.
Chỉ số sinh học tiếp tục đƣợc phát triển bởi Courl, 1987 và Foissner, 1988.
Các hệ thống quan trắc sinh học đƣợc các nƣớc sử dụng nhƣ chuẩn quốc gia để
nƣớc trong hệ thống sông rạch thành phố Hồ Chí Minh [11]
Ngoài việc phân tích cấu trúc quần xã, loài ƣu thế, loài chỉ thị tác giả Phạm
Văn Miên và cộng sự còn xác lập chỉ số ô nhiễm, chỉ số tƣơng đồng để đánh giá
chất lƣợng nƣớc. Phạm Văn Miên và cộng sự, 2003 trong chƣơng trình “Nghiên cứu
đề xuất các chỉ tiêu sinh học để giám sát hệ sinh thái thủy sinh thuộc lƣu vực sông
Mê Kông của Việt Nam” đã xác lập danh mục các loài chỉ thị sinh học cho các loại
nƣớc ở vùng Điện Biên, vùng thƣợng lƣu sông Xê Băng Hiên, cao nguyên Tây
Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời xây dựng chỉ số ô nhiễm Zelinka
và Marvan và hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn hữu cơ 4 bậc cho các thủy vực [12]
15
Nguyễn Xuân Quýnh, xây dựng hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy
vực Hà Nội dựa vào sự có mặt hay vắng mặt của một số loài hay nhóm loài chỉ thị
thuộc nhóm động vật không xƣơng sống [12]
Nguyễn Xuân Quýnh, 2001 dựa vào hệ thống tính điểm BMWP/ ASPT để
xây dựng quy trình quan trắc và đánh giá chất lƣợng nƣớc bằng động vật không
xƣơng sống cỡ lớn [12]
Đoàn Cảnh, Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đình Trọng ,2004 đã
bổ sung thêm 13 họ mới vào hệ thống tính điểm BMWP – Việt Nam. Năm 2001,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nguyễn Xuân Quýnh, Mai Đình Yên, Clive Pinder và
Steve Tilling đã nghiên cứu điều chỉnh hệ thống BMWP trong điều kiện Việt Nam
thành BMWP – Việt Nam [12]
Trần Trƣờng Lƣu, 1997 đã đánh giá hiện trạng ô nhiễm nƣớc sông Thị Vải
dựa vào thành phần loài và mật độ của vi tảo và động vật đáy [12]
Ngoài việc đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc bằng các chỉ thị sinh học
hiện nay tại tất cả các nƣớc trên thế giới và tại Việt Nam sử dụng việc phân tích các
thông số hóa – lý so với các tiêu chuẩn, quy chuẩn để đánh giá chất lƣợng môi
trƣờng nƣớc và mức độ ô nhiễm nƣớc. Ở nƣớc ta Luật Bảo vệ môi trƣờng năm
1993 và bổ sung sửa đổi vào năm 2005 cùng với các bộ luật khác liên quan đến tài
khả năng tự làm sạch, tiếp nhận chất dinh dƣỡng của khu vực nghiên cứu do nuôi
trồng thủy sản qua việc đánh giá chất lƣợng môi trƣờng và tính toán hệ số ô nhiễm
và hệ số lan truyền chất ô nhiễm, nhƣng qua thống kê các nguồn phát thải từ các
hoạt động của các ngành nghề tại khu vực nghiên cứu chƣa đề cập đến lĩnh vực khai
thác và chế biến thủy sản nhƣ: số lƣợng tàu thuyền khai thác thủy sản, các cơ sở chế
biến hải sản khô, chế biến tu hài, nƣớc mắm, chế biến sứa
Huỳnh Tiến Dũng , 2006 nghiên cứu kết hợp các công cụ mô hình và điều tra
khảo sát về chất lƣợng nƣớc trong khu vực nghiên cứu [31], tuy nhiên tác giả mới
chỉ quan tâm đến khả năng hấp thụ các chất dinh dƣỡng, ô nhiễm của một số loài
sinh vật ( thực vật phù du, rừng ngập mặn, cỏ biển, rong biển ) chƣa quan tâm
nhiều đến việc đề xuất các giải pháp trong quản lý môi trƣờng tại các ban, ngành tại
địa phƣơng để phát triển bền vững đầm phá ven biển
17
Khu vực ven biển thuộc huyện Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh cùng với
Vịnh Hạ Long, quần đảo Cát Bà hình thành một hệ tự nhiên giàu tiềm năng về du
lịch sinh thái. Với cảnh quan đặc sắc và những hệ sinh thái biển nhiệt đới với rừng
ngập mặn, bãi triều, rạn san hô, cỏ biển. Trong những năm gần đây, kinh tế Quảng
Ninh đã phát triển nhanh chóng năm 2010 Quảng Ninh trở thành tỉnh đứng thứ 2 có
mức thu ngân sách lớn nhất của cả nƣớc, trong đó có sự đóng góp rất lớn từ Vân
Đồn và Hạ Long. Nơi đây cũng đã đƣợc xác định là vùng phát triển động lực của
tỉnh với sự tập trung của các ngành kinh tế mũi nhọn nhƣ: công nghiệp khai thác và
chế biến than, cảng và giao thông thủy, du lịch dịch vụ, nuôi trồng, khai thác, chế
biến thủy hải sản Tuy nhiên sự phát triển đó làm gia tăng quá trình bồi lắng, suy
giảm đa dạng sinh học, phá vỡ cảnh quan bởi các công trình lấn biển, đổ thải đang
là những vấn đề nổi cộm ở khu vực này. Chính vì vậy phát triển kinh tế xã hội nhƣ
thế nào mà vẫn khai thác, phát huy lợi thế tự nhiên của vùng, bảo vệ môi trƣờng là
yêu cầu cơ bản trong chính sách, chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Ninh.
Long – Bái Tử Long [30]. Với nguồn tài liệu phong phú, có hệ thống làm cơ sở để
kế thừa những kinh nghiệm và tài liệu tốt để hoàn thành các mục tiêu và nội dung
của đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn – Quảng Ninh”
Đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc tại các khu vực chế biến sứa và đề
xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng nƣớc hiện nay là vấn đề mới chƣa
có nghiên cứu, thông qua đề tài này ngoài việc đánh giá chất lƣợng nƣớc, lần đầu
tiên nghề chế biến sứa đƣợc điều tra khảo sát toàn diện, những thông tin định lƣợng
và số liệu tin cậy qua việc thu mẫu và phân tích mẫu nƣớc biển ven bờ và mẫu nƣớc
thải từ các xƣởng chế biến sứa. Các kết quả khoa học của đề tài có giá trị trong quy
hoạch, quản lý và định hƣớng phát triển kinh tế thủy sản tại địa phƣơng gắn liền với
việc bảo vệ, duy trì, phục hồi môi trƣờng sinh thái và tài nguyên sinh vật biển
hƣớng tới mục tiêu phát triển bền vững.
19
1.3. Điều kiện tự nhiên Kinh tế - xã hội huyện Vân Đồn
1.3.1. Điều kiện tự nhiên huyện Vân Đồn
Vân Đồn là một huyện đảo nằm ở vị trí tiền tiêu đông bắc Tổ Quốc, đƣợc
đánh giá là vùng động lực có nhiều lợi thế về địa lý, tài nguyên thiên nhiên, đồng
thời có vị trí hết sức quan trọng về quốc phòng an ninh. Với trên 600 hòn đảo, có 12
đơn vị hành chính.
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Phía Bắc giáp với vùng biển các huyện Tiên Yên và Đầm Hà, Hải Hà. Phía
Đông giáp với vùng biển thuộc huyện Cô Tô. Phía Tây giáp với thị xã Cẩm Phả.
Phía Nam là Biển Đông [34]
1.3.1.2. Diện tích tự nhiên
Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên là 222.411 ha, trong đó phần đất nổi là
tháng 9 đến tháng 4. Nhiệt độ giảm 4-50 C thậm chí 100C. Tốc độ gió trung bình 5-
10m/s, cao nhất tới 15m/s [ 29]
* Về thủy văn:
Trong hệ thống sông Đông Bắc Việt nam, sông Tiên Yên, sông Mông
Dƣơng có ảnh hƣởng trực tiếp và lớn nhất đến chế độ thủy văn phần biển Vân Đồn
qua cửa Mô và Cửa Ông. Sông Tiên Yên có chiều dài 82 km bao gồm 7 phụ lƣu
trên lƣu vực rộng 1070 km
2
bắt nguồn từ độ cao 1175m thuộc địa phận Bình Liêu.
Chủ lƣu rộng trung bình 100m và sâu 3m, lƣu lƣợng thấp nhất đạt 28m
3
/h. Các đảo
thuộc Vân Đồn đều có quy mô nhỏ, trên đó không có dòng chảy mặt thƣờng xuyên,
chỉ có suối ngắn và dốc hình thành trong mùa mƣa.
Chế độ thủy triều và mực nƣớc biển: Biển Vân Đồn là khu vực có chế độ
thủy triều nhật triều điển hình với đặc trƣng mỗi tháng có 2 kỳ nƣớc cƣờng và 2 kỳ
nƣớc kém. Mỗi kỳ nƣớc cƣờng từ 11 đến 13 này, mức nƣớc cao nhất có thể cao từ
3,5 đến 4m so với mực nƣớc 0 m HĐ. Mực nƣớc biển tại khu vực vịnh Bái Tử Long
có biên độ dao động lớn nhất nƣớc ta, Mực nƣớc lớn nhất có thể đạt tới 4,8 m
Sóng: Ở vùng biển phía đông, độ cao sóng tƣơng đối lớn, đạt trung bình
0,28m cả năm và trung bình riêng các tháng chƣa tới 1m. Do đƣợc che chắn bởi dãy
đảo Sậu, ba mùn, Minh Châu – Quan Lạn. khu vực ven biển Vân Đồn đƣợc bảo vệ
an toàn khi xảy ra những thiên tai bất thƣờng nhƣ bão và sóng ở biển Đông.
21
- Dòng chảy: Chịu ảnh hƣởng của hải lƣu ven bờ có hƣớng và tốc độ thay đổi
theo mùa. Về mùa Đông, dòng chảy hƣớng Tây- Nam với tốc độ trung bình trong
khoảng 0,25-0,4 m/s. Ngƣợc lại về mùa hè, dòng chảy hƣớng Đông Bắc và tốc độ
nhỏ hơn, trong khoảng 0,15-0,25 m/s. Đặc biệt dòng chảy có tốc độ rất lớn ở các
phòng chống dịch bệnh đƣợc tăng cƣờng, không có dịch bệnh lớn xuất hiện. Tổng
đàn trâu, bò tăng bình quân đạt 10%/năm; tổng đàn gia cầm tăng 12,5%/năm.
Về lâm nghiệp:
Công tác quản lý, bảo vệ phát triển tài nguyên rừng đƣợc quan tâm, thực hiện
tốt các chƣơng trình trồng rừng nhƣ chƣơng trình trồng rừng 661, chƣơng trình
1602, chƣơng trình trồng cây môi trƣờng Trong 5 năm toàn huyện trồng đƣợc
5.601,7 ha rừng tập trung, trung bình mỗi năm trồng 1120,34 ha, tăng 158,6% KH
của nhiệm kỳ; Mật độ che phủ rừng 55% (đạt 96,8% so với kế hoạch); khai thác
nhựa thông đạt bình quân 235,9 tấn/năm.
Về công nghiệp chế biến nông lâm sản:
Trên địa bàn huyện có 1 công ty chế biến gỗ, 1 xí nghiệp chế biến nƣớc mắn;
một số cơ sở nhỏ chế biến chè tại gia đình. Ngoài ra còn có trên 10 cơ sở sản xuất
nƣớc đá lạnh phục vụ chế biến, bảo quản thủy hải sản. Các cơ sở này đã thu hút
hàng trăm lao động nông thôn tham gia.
Về ngành nghề nông thôn:
Tình hình hoạt động ngành nghề nông thôn của huyện Vân Đồn trong những
năm qua nhìn chung phát triển còn chậm, chƣa đồng đều giữa các loại ngành nghề,
chủ yếu là sữa chữa cơ khí; đóng mới và sữa chữa tàu thuyền; chế biến nông, lâm,
hải sản, chế tác ngọc trai. Ngành nghề nông thôn đã thu hút hàng trăm lao động
nông nghiệp tham gia, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, tăng thời gian sử dụng lao động
ở nông thôn.
Về kinh tế hợp tác:
Nòng cốt là các hợp tác xã, tổ hợp tác xã đã góp phần tích cực vào phát triển
kinh tế, nhất là trong nông, lâm, ngƣ nghiệp. Tăng thu nhập, tạo việc làm cho xã
viên xóa đói giảm nghèo. Mặc dù quy mô sản xuất còn nhỏ nhƣng đã thu hút đƣợc
một lƣợng lao động nông thôn tham gia. 23
24
1.4. Nguồn lợi sứa biển ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu
1.4.1. Nguồn lợi sứa biển Việt Nam [13]
Trên các vùng biển Việt Nam hiện nay thƣờng xuất hiện 03 loài sứa: Sứa
kinh tế là sứa trắng (Rhopilema hispidum); sứa đỏ (Rhopilema esculentum) và sứa
rô (Crambione mastigophora) tập trung chủ yếu vùng ven biển phía tây vịnh Bắc bộ
và Trung bộ Việt Nam. Mật độ trung bình của sứa trắng ở vùng ven biển phía tây
vịnh Bắc bộ là 2.218 con/km
2
(38,1 tấn/km
2
) và ở ven biển Trung bộ là 506
con/km
2
(5,8 tấn/km
2
). Sứa trắng tập trung ở vùng nƣớc nông ven bờ vịnh Bắc bộ,
nơi có nhiều rạn đá, độ sâu < 20 m, độ muối < 31,0‰ và nhiệt độ nƣớc biển tầng
mặt < 26,0
0
C. Mật độ trung bình của sứa đỏ ở vùng biển Quảng Ninh – Thái Bình là
166 con/km
2
(0,43 tấn/km
2
). Sứa đỏ tập trung ở vùng nƣớc quanh đảo Cát Bà với
mật độ từ 125-207 con/km
2
. Sứa rô chỉ phân bố ở vùng ven biển Trung bộ với mật
hóa. Do vậy đến năm 2007 sứa đã thực sự đƣợc coi là loài hải sản có giá trị và nghề
khai thác sứa từ đây đã phát triển, góp phần tích cực trong việc xóa đói, giảm nghèo
cho ngƣời dân các xã đảo nói riêng và ngƣ dân vùng biển tỉnh Quảng Ninh nói
chung.
1.4.3. Ngƣ trƣờng khai thác sứa [26]
Tại Quảng Ninh có 5 ngƣ trƣờng khai thác chính cụ thể nhƣ sau:
1.4.3.1. Ngư trường vịnh Bái Tử Long.
- Vị trí: Phía Nam giáp với đảo Cống Đỏ, phía Tây giáp dãy đảo hòn Xếp, bờ
phía Bắc là dãy đảo đá Quang Hanh đến bến Do.
- Diện tích ngƣ trƣờng khoảng 90 km
2
- Độ sâu từ 3,8 - 5,3 m trung bình là 4 m
- Địa hình đáy tƣơng đối bằng phẳng, hơi dốc về phía đông có 2 luồng tàu
phía bắc và phía Đông Nam là luồng lạch Buộm sâu 6-8m, luồng hòn đũa sâu 6 -23
m. Chất đáy ngƣ trƣờng chủ yếu là bùn.
- Chế độ thuỷ văn: Thuỷ triều theo chế độ nhật triều đều, biên độ triều lớn
nhất 4,80 m, trung bình 3,4 m. Gió ở ngƣ trƣờng chủ yếu có hai loại; gió đông bắc
từ tháng 11 - 3 năm sau, gió đông nam từ tháng 4-10 hàng năm; tốc độ gió rất nhỏ
trung bình 3,2 m/s.
- Khu vực khai thác sứa từ phía Đông đảo hòn Nét đến khu vực đảo Cống đỏ.
Sản lƣợng khai thác trung bình trên tàu từ 120 – 150 đầu/tàu/đêm. thời gian khai
thác từ cuối tháng 2 âm lịch đến đầu tháng 4 âm lịch hàng năm.
1.4.3.2. Ngƣ trƣờng vịnh Vân Đồn.