Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi: Hiện trạng và giải pháp khắc phục
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% số dân sống ở vùng nông
thôn. Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội
nước ta. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn
quy mô. Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là
các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Ô
nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất
thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ
thuật. Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho
thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30-40
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 70% số dân sống ở vùng nông
thôn. Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội
nước ta. Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn
quy mô. Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là
các vùng dân cư đông đúc đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Ô
nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất
thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ
thuật. Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho
thấy, tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30-40 lần so với
không khí bên ngoài.
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ
mắc bệnh, các chi phí phòng trị bệnh, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế Sức đề
kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh.
Vì vậy, WHO [2005] khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong
sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh
học, tăng cường sức khỏe các đàn giống. Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi
trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ
làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm
gia cầm H5N1
Hàm lượng tối đa (mg/kg thức ăn)
Gà
Số
Tên nguyên tố
Nuôi thịt Đẻ trứng
Lợn Bò
1 Kẽm (Zn) 250 250 250 250
2 Đồng (Cu) 35 35 < 4 tháng tuổi:
175
> 4 tháng tuổi:
100
50
3 Mangan (Mn) 250 250 250 250
4 Thủy ngân (Hg) 0,1 0,1 0,1 0,1
5 Cadimi (Cd) 0,5 0,5 0,5 0,5
6 Asen (As) 2 2 2 2
7 Chì (Pb) 5 5 5 5 2.2. Ô nhiễm do kim loại nặng trong chất thải chăn nuôi gây ra
Ở Việt Nam hiện nay, tổng khối lượng chất thải chăn nuôi bình quân khoảng 73
triệu tấn/năm, trong đó chất thải chăn nuôi lợn chiếm khoảng 24,38 triệu tấn/năm
tương đương 33,4% (Xuân Kỳ, Xử lý ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững
nông nghiệp, nông thôn, Báo Nhân Dân, 08/03/2009). Đồng (Cu) và kẽm (Zn) tồn
dư trong chất thải chăn nuôi là hai trong nhiều yếu tố gây ô nhiễm kim loại nặng
đối với đất. Việc bổ sung oxit kẽm (ZnO) với hàm lượng quá cao trong thức ăn
cho lợn so với quy định để phòng ngừa tiêu chảy là nguyên nhân cơ bản dẫn đến
tình trạng này.
2.3. Nguồn kim loại nặng gây ra ô nhiễm môi trường
cao có thể gây ra sự rối loạn hệ thống enzyme trên động vật khi được nuôi ở những
vùng đó và ăn phải các loại thức ăn được sản xuất tại đó (Burton and Turner, 2003).
Zn là vi khoáng thiết yếu cho cơ thể con người, chủ yếu tích tụ trong gan. Thận
có khả năng lọc tối đa khoảng 2g Zn/ngày. Nếu thừa Zn lớn có thể gây ung thư, ngộ
độc hệ thần kinh, ảnh hưởng lên tính nhạy cảm, sinh sản, gây độc hệ miễn dịch. Sự
thiếu hụt Zn trong cơ thể có thể gây liệt dương, teo tinh hoàn, mù màu, viêm da,
bệnh về gan và một số triệu chứng khác (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn và Dương Thị Bích
Huệ, 2007).
3. Vấn đề thải NH
3
vào không khí của chăn nuôi
Ammoniac (NH
3
) có trong khí, trước hết là từ sự phân hủy và bốc hơi của các
chất thải vật nuôi. Các hoạt động sản xuất nông nghiệp (chăn nuôi, sử dụng phân
bón) đã được xác định là các nguồn lớn thải khí NH
3
ra môi trường. Số lượng của
đàn vật nuôi đã và đang tăng đáng kể, cũng tương tự là sự phát thải của NH
3
từ phân
bón nitơ (Sutton et al. 1993). Sự gia tăng mạnh nhất gây ra bởi nhóm vật nuôi lợn
và gia cầm. Trong các hoạt động chăn nuôi, sự thải NH
3
vào môi trường trước hết là
từ chuồng trại, nuôi vỗ béo mở (hở), chế biến và dự trữ phân, sử dụng phân bón trên
đất
Nitơ được thải ra ở dạng ure (động vật có vú) hoặc axit uric (chim) và NH
3
,
3
trong không khí chuồng nuôi do thường xuyên được tích
tụ trong chuồng kém thông thoáng, tăng mức NH
3
sẽ ảnh hưởng xấu (-) đối với sức
khỏe và năng suất vật nuôi. Đồng thời NH
3
có thể tác động xấu (-) lên sức khỏe con
người, dù chỉ ở mức thấp cũng có thể gây sưng phổi, sưng mắt, ảnh hưởng tới hô
hấp và tim mạch.
4. Các giải pháp để làm giảm thiểu ô nhiễm do chất thải chăn nuôi
Việc bổ sung kẽm ôxit trong thức ăn công nghiệp cho vật nuôi thường là không
thể thiếu và lượng bổ sung tùy thuộc vào từng giai đoạn. Trên thực tế, lượng kẽm
hữu dụng chỉ chiếm khoảng 5-20% trên tổng lượng kẽm bổ sung, phần còn lại (80-
95%) được thải qua phân vào môi trường (Burton and Turner, 2003).
Sự ô nhiễm Zn do chất thải chăn nuôi có thể được khắc phục tốt hơn nếu sử dụng
sản phẩm ZnO bổ sung trong thức ăn công nghiệp có tỷ lệ hữu dụng cao trong khi
vẫn đảm bảo việc phòng ngừa tiêu chảy trên lợn con. Như vậy, vấn đề ô nhiễm môi
trường đất bởi kim loại nặng sẽ được khắc phục từng bước nhờ giảm tối đa lượng
kẽm phân thải ra môi trường.
Theo ông Hoàng Kim Giao (Cục trưởng Cục chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn): “Có 3 nhóm biện pháp cơ bản hạn chế ô nhiễm do chăn nuôi. (I)
Cần quy hoạch lại, đưa chăn nuôi ra xa đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và nhất
thiết phải thực hiện quy định chăn nuôi an toàn gắn với bảo vệ môi trường. (II) Sử
dụng kỹ thuật cho vào thức ăn và chất thải chăn nuôi các men, các chế phẩm sinh
học nhằm hạn chế khí độc hại và vi sinh vật có hại. (III) Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
thân thiện với môi trường. Tùy điều kiện cụ thể từng nơi để lựa chọn một trong 3
quy trình xử lý chất thải như: bể lắng - hầm biogas - ao sinh học, hầm biogas - ao
sinh học và hầm biogas - thùng sục khí - ao sinh học; trong đó trọng tâm là chăn
nuôi theo mô hình VAC và sử dụng hầm biogas”.
,
CH
4
) thoát ra môi trường. Đồng thời, trong quá trình ủ đống phân sẽ có hiện tượng
sinh nhiệt, do vậy các mầm bệnh (trứng, ấu trùng, vi khuẩn, nấm ) sẽ bị tiêu diệt,
hạn chế phát tán, lây lan các mầm bệnh.
4.4. Xử lý nước thải bằng cây thủy sinh
Nước thải từ các trại chăn nuôi chứa rất nhiều nitrogen, phosphorus và những
hợp chất vô cơ có thể hòa tan được. Rất khó tách những chất thải này khỏi nước
bằng cách quét rửa hay lọc thông thường. Tuy nhiên một số loại cây thủy sinh như
bèo lục bình, cỏ muỗi nước có thể xử lý nước thải, vừa ít tốn kinh phí lại thân thiện
với môi trường. Cây muỗi nước (còn gọi cây cần tây nước), cây bèo lục bình (bèo
Nhật Bản) là các loại bản địa của vùng Đông Nam Á, thân và lá có thể ăn sống hoặc
ăn chín như một loại rau. Nó sinh sản theo cách phân chia rễ và sinh trưởng tốt
trong môi trường nước nông cho tới 20cm. Cây bèo lục bình (bèo Nhật Bản) có
nguồn gốc Nam Mỹ, sinh trưởng và phát triển nhanh, khỏe và nổi trên mặt nước.
Nước thải từ các chuồng gia súc trước tiên cho chảy vào bể lắng, để chất thải rắn
lắng xuống đáy. Sau vài ngày cho nước thải trong bể lắng chảy vào bể mở có bèo
lục bình hoặc cỏ muỗi nước. Mặt nước trong bể được cây che phủ (mật độ khoảng
400 cây/bể). Nếu là bèo lục bình, bể có thể làm sâu tùy ý, đối với cỏ muỗi nước thì
để nước nông một chút, độ sâu bể xử lý khoảng 30cm. Cỏ muỗi nước cần thời tiết
mát mẻ, còn bèo lục bình phù hợp với thời tiết ấm. Kích cỡ của bể tùy thuộc vào
lượng nước thải cần được xử lý. Ví dụ, chất thải của 10 con gia súc vào khoảng 456
lít, sẽ cần bể mỗi cạnh 6m, sâu 0,5m. Bể phải có tổng khối lượng 18m
3
và diện tích
bề mặt 36m
2
. Bể có thể chứa nước thải chuồng nuôi khoảng 30 ngày. Nước thải
được giữ trong bể xử lý 10 ngày. Trong thời gian này, lượng phospho trong nước
chăn nuôi. Dung dịch hoạt hóa điện hóa Anôlit đã được áp dụng tại nhiều nước tiên
tiến như một chất khử trùng hiệu quả cao và "thân thiện với môi trường". Dung dịch
này có khả năng khử trùng nước sinh hoạt, bảo quản nông sản, chế biến thủy sản,
sản xuất tôm giống, khử trùng trong các cơ sở y tế, chăn nuôi Ngoài ra, dung dịch
hoạt hóa điện hóa Anôlit có tác dụng diệt virus H5N1 an toàn, không gây độc đối
với sinh vật cấp cao, có thể được sử dụng làm dung dịch phun tiêu độc cho các cơ
sở chăn nuôi. Các kết quả nghiên cứu hiệu quả khử trùng của Anôlit trên hiện
trường sản xuất, chăn nuôi gia cầm (tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy
Phương) cũng đã cho nhận xét: Phương pháp khử trùng nền chuồng bằng Anôlit, có
thể áp dụng có hiệu quả đối với chuồng nuôi vừa xuất lứa hoặc đang chuẩn bị đưa
vào nuôi lứa mới. Với Anôlit 250ml/m
2
, mật độ tổng vi khuẩn hiếu khí giảm trung
bình 2-3 bậc, trong khi Coliforms và Salmonella thực tế được loại hoàn toàn. Các
thí nghiệm tương tự thực hiện với chất khử trùng Virkon-S 0,5% cũng cho kết quả
tương tự như khi khử trùng bằng Anôlit, song giá thành đắt hơn tới 6 lần so với việc
sử dụng Anôlit.
- Sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM trong chăn nuôi sẽ làm cho chất thải
nhanh phân hủy, khử mùi tốt và giảm quần thể côn trùng ruồi muỗi, giảm nguy cơ
lây lan dịch bệnh. Cho gia súc, gia cầm uống hoặc ăn thức ăn thô có trộn chế phẩm
EM còn giảm được nguy cơ mắc bệnh đường ruột.
4.6. Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái
Trong vài năm gần đây, một số nước cũng như ở Việt Nam đang phát triển một
hình thức chăn nuôi mới, đó là chăn nuôi trên nền chuồng đệm lót với các vi sinh
vật có ích. Hình thức chăn nuôi này còn được gọi là chăn nuôi với đệm lót sinh thái
hay chăn nuôi đệm lót lên men. Thay vì nuôi các vật nuôi trên nền xi măng hoặc
gạch cứng, người ta đã nuôi các con vật nền chuồng bằng đất nện, sâu hơn mặt đất
(-, âm), trên nền chuồng rải một lớp đệm lót dày 60cm và trên bề mặt đệm lót có
phun một dung dịch men (hỗn hợp các vi sinh vật có ích). Đệm lót thường là các
nguyên liệu thực vật như mùn cưa, trấu, thân cây ngô và lõi bắp ngô khô nghiền
1. Hồ Kim Hoa, Lê Thanh Hiền, Trần Thị Dân, 2005, Tình hình quản lý chất
thải chăn nuôi ở một số huyện ở TP Hồ Chí Minh và ba tỉnh lân cận, Tạp chí
Chăn nuôi số 1-2005.
2. Cục Chăn nuôi 2006, Báo cáo tổng kết chăn nuôi trang trại tập trung giai
đoạn 2001-2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2000-2015.
3. Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 679-2006, Tiêu chuẩn vệ sinh không khí chuồng
nuôi. Tiêu chuẩn, quy định ngành thú y (Vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn thực
phẩm), Nxb Nông nghiệp, 2007.
4. Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 6678-2006, Tiêu chuẩn vệ sinh nước thải trong
chăn nuôi. Tiêu chuẩn, quy trình ngành thú y (vệ sinh thú y và vệ sinh an toàn
thực phẩm), Nxb Nông nghiệp, 2007.
5. Battye, R., W. Battye, C. Overcash, and S. Fudge. 1994, Development and
Selection of Ammonia Emission Factors. EPA/600/R-94/190. Final report
prepared for U.S.
6. Becker, J.G., and R.E. Graves. 2004. Ammonia emissions and animal
agriculture. In Proceedings Mid-Atlantic Agricultural Ammonia Forum.
Woodstock, Va. March 16.
7. Meisinger, J.J., and W.E. Jokela. 2000. Ammonia losses from manure.
Proceedings 62
nd
Cornell Nutrition Conference for Feed Manufacturers, 109-
116. Ithaca, N.Y.
8. Van der Eerden, L.J.M., P.H.B. de Visser, and C.J. Van Dijk. 1998. Risk of
damage to crops in the direct neighbourhood of ammonia sources.
Environmental Pollution 102(S1): 49-53.
9. WHO, 2005. Avian influenza: assessing the pandemic threat, 64 pages.
■ PGS.TS. Nguyễn Kim Đường