luận văn kinh tế luật Pháp luật về hợp đồng gia công xuất khẩu và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu tại Công ty cổ phần Nam Thắng - Pdf 27

Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
L i nói uờ đầ 3
Ch ng I: C s pháp lý vươ ơ ở ề 7
h p ng gia công xu t kh uợ đồ ấ ẩ 7
I. Khái quát chung v Ho t ng th ng m i v h p ng trong ho tề ạ độ ươ ạ à ợ đồ ạ
ng th ng m iđộ ươ ạ 7
1. Khái quát v ho t ng th ng m iề ạ độ ươ ạ 7
1.3. Ho t ng th ng m i.ạ độ ươ ạ 12
2. Khái ni m v c i m h p ng trong ho t ng th ng m i.ệ àđặ để ợ đồ ạ độ ươ ạ 13
3. Phân lo i h p ng trong ho t ng th ng m i.ạ ợ đồ ạ độ ươ ạ 15
II. Khái quát v gia công v h p ng gia công.ề à ợ đồ 16
1.Khái ni m gia côngệ 16
2. c i m c a ho t ng gia công.Đặ để ủ ạ độ 18
3. Vai trò c a gia công trong s n xu t kinh doanhủ ả ấ 18
4. Khái ni m v c i m c a h p ng gia công.ệ àđặ để ủ ợ đồ 19
5. Quy n v ngh a v c a các bên trong h p ng gia công.ề à ĩ ụ ủ ợ đồ 21
III. Ch pháp lý v gia công h ng hoá v i th ng nhân n c ngo i.ếđộ ề à ớ ươ ướ à 25
1. Khái ni m, b n ch t v vai trò c a gia công h ng hoá v i th ng nhânệ ả ấ à ủ à ớ ươ
n c ngo i.ướ à 25
2. Các hình th c gia công h ng hoá cho n c ngo i hi n nay.ứ à ướ à ệ 30
3.Qu n lý Nh n c v ho t ng gia công h ng hoá v i th ng nhân n cả à ướ ề ạ độ à ớ ươ ướ
ngo i.à 33
4. H p ng gia công h ng hoá v i th ng nhân n c ngo i( H p ng giaợ đồ à ớ ươ ướ à ợ đồ
công xu t kh u).ấ ẩ 40
Ch ng II. Th c ti n ký k t v th c hi n h p ng gia côngươ ự ễ ế à ự ệ ợ đồ
xu t kh u t i Công tyấ ẩ ạ 50
c ph n Nam Th ngổ ầ ắ 50
I. Khái quát chung v Công ty c ph n Nam Th ngề ổ ầ ắ 50
1. Quá trình hình th nh v phát tri nà à ể 50
Fax: (04)8585921 51

3. Công tác m phánđà 96
4. Công tác ký k t h p ng gia côngế ợ đồ 96
5. Công tác th c hi n h p ngự ệ ợ đồ 97
6. Công tác o t o cán bđà ạ ộ 97
kết luận……………………………………………………………84
Danh mục tài
liệuthamhảo………………………………………………….86
2
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Những thành tựu mà nền kinh tế đất nước đạt được trong những năm qua
cho thấy hướng đi đúng đắn của Đảng ta trong công cuộc xây dựng kinh tế đất
nước, với chính sách “mở cửa” hội nhập đa dạng hoá, đa phương hoá các quan
hệ kinh tế đối ngoại, từng bước gắn nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới,
thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc đảm bảo độc lập,
chủ quyền dân téc, an ninh quốc gia và cùng có lợi. Từ một nước có nền kinh tế
“đóng” Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với hơn 100 nước và lãnh thổ thuộc
đủ các Châu lục trên thế giới, đã ký nhiều hiệp định hợp tác thương mại song
phương và đa phương(với Liên minh Châu Âu(EU), Hoa Kỳ…), gia nhập
ASEAN và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế. Từ một nước chỉ
nghiêng về nhập khẩu nay đã dần chuyển hướng sang xuất khẩu với kim ngạch
ngày càng cao.
Trong điều kiện nền kinh tế đất nước còn nghèo nàn lạc hậu, sản xuất chủ
yếu là thủ công, năng suất lao động thấp thì hình thức kinh doanh tá ra khá hiệu
quả đối với Việt Nam trong hoạt động hợp tác kinh doanh quốc tế thời gian qua
là hình thức gia công hàng hoá cho nước ngoài. Đây là một dạng của kinh doanh
xuất nhập khẩu, với hình thức kinh doanh này phần nào đã giúp Việt Nam khắc
phục được những yếu kém trên mặt khác lại giúp Việt Nam tận dông được lợi
thế về nguồn lao động dồi dào vì gia công là hoạt động đòi hỏi khá nhiều lao
động.

khác qua nghiên cứu cho phép nhận thấy những điểm chưa hợp lý trong các quy
định từ đó có sự điều chỉnh phù hợp hơn, tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động kinh
doanh này phát triển.
Với những nhận thức trên, kết hợp với đợt thực tập tại Công ty cổ phần
Nam Thắng- một doanh nghiệp có đặc thù chủ yếu trong lĩnh vực gia công hàng
hoá cho nước ngoài. Em đã chọn đi vào nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hợp
đồng gia công xuất khẩu và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng gia công
xuất khẩu tại Công ty cổ phần Nam Thắng” cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
4
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
Chương I: Cơ sở pháp lý về hợp đồng gia công xuất khẩu
Chương II: Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng gia công xuất khẩu tại
Công ty cổ phần Nam Thắng
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc ký kết và thực hiện hợp
đồng gia công xuất khẩu tại Công ty
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, tìm hiểu thực tiễn ký kết hợp đồng tại
Công ty, em đã cố gắng tiếp cận những vấn đề liên quan, từ đó đưa ra những
kiến nghị để góp phần hoàn thiện chế độ ký kết và thực hiện hợp đồng gia công
xuất khẩu (hợp đồng gia công giầy dép với thương nhân nước ngoài) tại Công ty
cổ phần Nam Thắng.
Tuy nhiên, do thời gian có hạn, kiến thức còn hạn chế nên bài viết này chắc
chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được chỉ bảo của thầy cô và các bạn
để giúp em có điều kiện hoàn thiện hơn vấn đề nghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn!
5
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
6
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp

khác nhau về thương nhân song đều giống nhau một điểm là khi tham gia vào
hoạt động thương mại và thực hiện các hành vi thương mại thì mới trở thành
thương nhân).
1.2 Hành vi thương mại
Luật các nước không đưa ra một định nghĩa chung cho hành vi thương mại
mà chỉ liệt kê các hành vi đó, việc liệt kê các hành vi này được dùa vào các tiêu
chí khác nhau.
Bộ luật Thương mại Pháp thì quan tâm tới mặt khách thể của hành vi, theo
bộ luật này hành vi thương mại có thể phân thành 2 loại:
- Hành vi thương mại bản chất: là những hành vi mà xét về bản chất đã
hàm chứa tính thương mại trong đó(như mua động sản (để gia
công,hoàn thiện) để bán; mua bất động sản để bán lại hoặc mua để xây
thành nhà rồi bán lại; các hoạt động làm trung gian để mua, đặt mua
hoặc để bán các bất động sản…) hoặc vì hình thức của nó đương nhiên
được coi là tiêu biểu cho hoạt động thương mại (như kí hối phiếu là
hình thức của hành vi thương mại bất kể người kí hối phiếu có là
thương gia hay không hay hành vi của các Công ty thương mại không
kể tính chất của chóng ).
- Hành vi thương mại phụ thuộc : đó là các hành vi trở thành hành vi
thương mại do chúng phụ thuộc vào hoạt động thương mại. Là những
hành vi xét về bản chất là dân sự (không phải là thương mại ) nhưng
hành vi đó do thương nhân thực hiện trong khi hành nghề hay do nhu
cầu nghề nghiệp (ví dụ: thương nhân mua máy vi tính để trang bị cho
phòng làm việc của mình).
Bộ luật Thương mại của Đức lại coi thương nhân là điểm mấu chốt cho các
qui định(quan tâm đến mặt chủ thể của hành vi). Theo Bộ luật này thì một hành
vi có được coi là hành vi thương mại hay không phụ thuộc vào chủ thể thực hiện
hành vi đó có phải là thương gia(thương nhân) hay không. Có thể thấy hành vi
thương mại theo pháp luật của Đức được hiểu ở phạm vi rộng, bao gồm hành vi
của tất cả các thương gia thực hiện trong hoạt động nghề nghiệp của họ.

2. Đại diện cho thương nhân
3. Môi giới trong thương mại
9
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
6. Gia công trong thương mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Đấu thầu hàng hoá
9. Dịch vô giao nhận hàng hoá
10.Dịch vụ giám định hàng hoá
11.Khuyến mại
12.Quảng cáo thương mại
13.Trưng bày, giới thiệu hàng hoá
14.Hội chợ, triển lãm thương mại
Như vậy, hành vi thương mại theo Luật Thương mại Việt Nam(10/5/1997)
được xem xét gắn liền với thương nhân, đó là hành vi của thương nhân trong
hoạt động thương mại. Tuy nhiên, hành vi thương mại không phải bao gồm tất
cả mà chỉ là một số hành vi của thương nhân được giới hạn ở 14 hành vi quy
định ở Điều 45 của Luật này. Nền kinh tế ngày càng phát triển và kéo theo đó là
sự xuất hiện của ngày càng nhiều các hành vi kinh doanh, trong đó có không Ýt
những hành vi kinh doanh mà bản chất của chúng giống như những hành vi nêu
trên( ví dụ: hành vi cho thuê nhà ở, máy móc thiết bị…) nhưng những hành vi
này lại không được coi là hành vi thương mại, do đó nó không chịu sự điều
chỉnh của các qui định pháp luật thương mại. Điều này là chưa phù hợp với xu
thế phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay khi mà quan niệm về thương
mại và hành vi thương mại được các nước đề cập đến ở phạm vi rộng, bao trùm
hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế.
Việc xác định một hành vi là hành vi thương mại, hành vi dân sự, hay các
hành vi khác có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ dừng lại ở việc xác định các

hiện các hành vi thương mại, bên cạnh mục tiêu lợi nhuận vẫn còn phải hướng
đến thực hiện các chính sách kinh tế -xã hội do Nhà nước giao(ví dụ: hoạt động
của các Công ty môi trường, Công ty chiếu sáng đô thị…).
11
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
Trên đây là 3 đặc điểm cơ bản của hành vi thương mại. Các đặc điểm này
giúp ta có thể phân định được hành vi thương mại với hành vi dân sự và các
hành vi khác, tạo cơ sở cho việc lùa chọn luật áp dụng cũng như cơ quan có
thẩm quyền giải quyết khi tranh chấp phát sinh.
1.3. Hoạt động thương mại.
Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại
của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương
mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận, hoặc thực
hiện các chính sách kinh tế- xã hội( khoản 2, Điều 5 Luật Thương mại ngày
10.5.1997).
Theo khái niệm trên, hoạt động thương mại chỉ bao gồm 3 nhóm hoạt động,
đó là các hoạt động mua bán hàng hoá, các hoạt động cung ứng dịch vụ thương
mại( những dịch vụ gắn liền với việc mua bán hàng hoá) và các hoạt động xúc
tiến thương mại( hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy quan hệ mua bán hàng hoá
và cung ứng dịch vụ thương mại). Sở dĩ hoạt động thương mại chỉ gồm 3 nhóm
hoạt động kể trên là do xuất phát từ quan niệm hành vi thương mại theo nghĩa
hẹp, chỉ giới hạn trong 14 hành vi mà chủ yếu là các hành vi liên quan đến mua
bán hàng hoá. Về điểm này các nước có qui định rộng hơn, hoạt động thương
mại bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu là thương mại hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động
đầu tư có liên quan đến thương mại và sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương
mại.
Hiện nay, với việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại(25/2/2003) thì
khái niệm hoạt động thương mại đã được điều chỉnh mở rộng hơn so với
trước(so với Luật Thương mại). Theo pháp lệnh này, hoạt động thương mại
được hiểu là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ

hầu hết các hợp đồng trong hoạt động thương mại thì mục đích kinh doanh
thường được xuất phát từ cả hai bên. Do đó, để phân biệt được hợp đồng trong
hoạt động thương mại với hợp đồng kinh tế ta còn phải dùa vào tiêu chí về chủ
thể và hình thức của hợp đồng.
13
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
b. Về chủ thể hợp đồng
Chủ thể hợp đồng trong hoạt động thương mại là các thương nhân hoặc
một bên là thương nhân. Khoản 6, Điều 5 - Luật Thương mại qui định: Thương
nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh
hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên”. Theo điều khoản này,
chỉ cần đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại thì dù là pháp nhân hay
không phải là pháp nhân đều có thể trở thành chủ thể của hợp đồng trong hoạt
động thương mại.
Như vậy, chủ thể của hợp đồng trong hoạt động thương mại được qui định
ở phạm vi khá rộng. Hợp đồng kinh tế thì qui định về chủ thể có hẹp hơn. Chủ
thể của hợp đồng kinh tế bắt buộc một bên phải có tư cách pháp nhân còn bên
kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng ký kinh doanh
c. Về hình thức
Hợp đồng trong hoạt động thương mại không nhất thiết phải là văn bản, trừ
trường hợp pháp luật có quy định. Khoản 2, Điều 49 - Luật Thương mại (10-5-
1997) quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hoá được thực hiện bằng lời nói bằng
văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể ”. Việc quy định hợp đồng trong hoạt động
thương mại không nhất thiết phải thể hiện bằng văn bản là hoàn toàn phù hợp
bởi vì trong qúa trình giao lưu thương mại các thương nhân có thể đã thiết lập
được mối quan hệ làm ăn lâu dài.Trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau đó họ có thể thoả
thuận miệng với nhau mà không cần phải thể hiện vào trong văn bản hợp đồng.
Về điểm này pháp luật có quy định khác với hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế
bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản.
Trên đây là ba đặc điểm cơ bản của hợp đồng trong hoạt động thương mại,

Căn cứ vào hành vi thương mại hợp đồng trong hoạt động thương mại được
chia thành nhiều loại khác nhau ứng với mỗi hành vi thương mại cụ thể. Hợp
đồng gia công là một chủng loại của hợp đồng trong hoạt động thương mại, đây
là loại hợp đồng khá đặc biệt và là loại hợp đồng được ký kết khá phổ biến
trong giai đoạn hiện nay. Bởi vậy, bài viết sau đây sẽ đi vào nghiên cứu sâu hơn
đối với loại hợp đồng này.
15
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
II. Khái quát về gia công và hợp đồng gia công.
1.Khái niệm gia công
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về gia công:
Thứ nhât: Gia công hàng hoá là phương thức sản xuất trong đó người đặt gia
công sẽ cung cấp toàn bộ tư liệu sản xuất cũng như nguyên liệu và nhận về sản
phẩm hoàn thiện. Người nhận gia công sẽ sản xuất sản phẩm theo mẫu sản phẩm
đó cho người đặt gia công và nhận tiền gia công theo số lượng sản phẩm làm ra.
Thứ hai: Gia công hàng hoá là một phương thức sản xuất hàng hoá trong đó
người đặt gia công sẽ cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm và nhận lại sản
phẩm hoàn chỉnh. Người nhận gia công tự tổ chức qúa trình sản xuất ra sản
phẩm theo mẫu của khách hàng. Giao toàn bộ cho người đặt gia công và nhận
tiền gia công.
Thứ ba: Gia công hàng hoá là phương thức sản xuất theo đơn đặt hàng và mẫu
của người đặt gia công. Người nhận gia công tổ chức quá trình sản xuất sản
phẩm theo mẫu và giao những sản phẩm đó cho người đặt gia công, đồng thời
nhận tiền gia công .
Thứ tư: Gia công là hình thức hiệp tác sản xuất giữa các đơn vị kinh tế. Bên
nhận gia công nhận của bên đặt gia công những sản phẩm dở dang hoặc nguyên
liệu, thiết bị, máy móc để sản xuất ra thành phẩm theo những tiêu chuẩn và định
mức cụ thể và giao những thành phẩm đó cho bên gia công với những điều kiện
đã được thoả thuận giữa hai bên.(
i

- Tái chế, lắp giáp
- Phân loại hàng hoá
- Đóng gói hàng hoá.
Như vậy, để một hoạt động gia công là một hoạt động gia công trong thương
mại thì hoạt động đó phải thoả mãn những điều kiện nhất định.
+ Phải bao gồm các nội dung gia công trên.
+ Phải thực hiện gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công.
+ Phải bằng nguyên vật liệu của bên đặt gia công
+ Bên nhận sản phẩm gia công hàng hoá về phải để thực hiện kinh doanh
thương mại.
17
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
Theo quy định trong Luật Thương mại thì phạm vi điều chỉnh của gia công
có sự thu hẹp bởi vì đối với hoạt động gia công chịu sự điều chỉnh của luật này
thì một điều kiện bắt buộc là bên đặt gia công phải có nguyên vật liệu và mẫu
gia công gửi cho bên nhận gia công. Trong Bộ luật Dân sự thì qui định này lại
không phải là bắt buộc.
2. Đặc điểm của hoạt động gia công.
Hoạt động gia công có các đặc điểm sau:
- Là hoạt động sản xuất gắn liền với hoạt động tiêu thụ hàng hoá,
bên đặt hàng là người cung cấp nguyên vật liệu đồng thời cũng chịu trách
nhiệm tiêu thụ sản phẩm.
- Là hình thức kinh doanh sử dụng nhiều lao động bởi vì thông
thường sản phẩm gia công là những sản phẩm có công nghệ trung bình và
bao gồm nhiều công đoạn thủ công.
- Nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp còn bên nhận gia
công chỉ việc sản xuất ra sản phẩm theo đúng mẫu và bằng chính nguyên
vật liệu được cung cấp từ bên đặt gia công. Đây là một đặc điểm khá đặc
trưng của hoạt động gia công.
- Trong một số trường hợp máy móc thiết bị cũng do bên đặt gia

của nước ta quy định: “ Hợp đồng gia công là sự thoả thuận giữa các bên, theo
đó bên nhận gia công thực hiện một công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu
của bên đặt gia công, còn bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công”.
Theo định nghĩa trên, hợp đồng gia công là sự thoả thuận giữa các bên, nó
xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự nguyện bình đẳng
không trái pháp luật.
Việc ký kết và thực hiện hợp đồng gia công có thể thực hiện bởi nhiều
loại chủ thể khác nhau, với nhiều mục đích khác nhau. Do đó, hợp đồng gia
công có thể là hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế hay hợp đồng trong hoạt động
19
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
thương mại. Hợp đồng gia công nói chung có những đặc điểm riêng nhất định
dùa vào những đặc điểm riêng này người ta có thể phân biệt nó với các loại hợp
đồng khác như hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý…
- Thứ nhất: Việc xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý quy định trong
hợp đồng gia công có liên quan nhiều đến nguyên vật liệu dùng trong gia
công. Vì vậy, quá trình thực hiện hợp đồng gia công sẽ có sự chuyển giao
nguyên vật liệu từ bên đặt gia công cho bên nhận gia công. Đây là một
đặc điểm rất riêng của hợp đồng gia công mà các loại hợp đồng khác
không có, đặc điểm này là cơ sở giúp ta phân biệt hợp đồng gia công với
các loại hợp đồng khác.
Nếu vật liệu của bên đặt gia công thì Bên nhận gia công sẽ nhận nguyên
vật liệu từ bên đặt gia công và chuyển lại cho bên đặt gia công sản phẩm
theo yêu cầu khi đặt gia công . Trường hợp này số tiền bên gia công nhận
được là tiền công gia công.
- Thứ hai: Nếu đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là
những vật có sẵn, là những vật có thực thì đối tượng của hợp đồng gia
công có thể là chưa có thực và chỉ theo mẫu, theo tiêu chuẩn mà các bên
thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Thứ ba: Nếu như quyền và nghĩa vụ của hợp đồng mua bán chỉ

- Trả tiền công là nghĩa vụ quan trọng khi bên nhận gia công đã
hoàn thành nghĩa vụ và giao sản phẩm.
5.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công.
Theo quy định Điều 555 Bộ luật Dân sự bên nhận gia công có quyền và
nghĩa vụ sau:
- Yêu cầu bên đặt gia công giao nguyên vật liệu theo đúng số
lượng, chất lượng, thời hạn, địa điểm thoả thuận.
21
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
- Từ chối sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công nếu thấy
chỉ dẫn đó có thể làm giảm chất lượng sản phẩm nhưng phải báo ngay cho
bên đặt gia công biết.
Theo điều khoản này thì bên nhận gia công có quyền tự đình chỉ việc
sản xuất, thực hiện hợp đồng nếu có sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt
gia công mà không bị coi là vi phạm hợp đồng.
- Bên nhận gia công có quyền yêu cầu bên đặt gia công trả đủ tiền
gia công đúng thời hạn, địa điểm, phương thức đã thoả thuận.
Tương ứng với các quyền đó bên nhận gia công có những nghĩa vụ sau(qui
định tại Điều 554- BLDS):
- Bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp, nếu
trong quá trình nhận nguyên vật liệu về bảo quản, sản xuất mà có rủi ro
xảy ra thì bên nhận gia công phải chịu trách nhiệm.
- Báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu
nguyên vật liệu gia công không bảo đảm chất lượng.
- Từ chối thực hiện gia công nếu việc sử dụng nguyên vật liệu chế
tạo sản phẩm gây nguy hại cho xã hội, nếu không báo hoặc từ chối thì
phải chịu trách nhiệm khi tạo ra sản phẩm đó.
- Giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng số lượng, chất lượng,
phương thức, thời hạn và địa điểm.
- Bên nhận gia công có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin về quá

tiêu huỷ, tặng theo qui định tại Nghị định này;
- Được cử chuyên gia đến Việt Nam để hướng dẫn kỹ thuật sản
xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm gia công theo thoả thuận trong hợp
đồng gia công;
- Chịu trách nhiệm về quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá,tên gọi
xuất xứ hàng hoá.Trường hợp nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ hàng
hóa đã được đăng ký tại Việt Nam thì phải có giấy chứng nhận của Cục
Sở hữu Công nghiệp Việt Nam;
- Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến
hoạt động gia công và điều khoản của hợp đồng gia công đã được ký kết.
Quyền và nghĩa vụ đối với bên nhận gia công:
23
Bộ môn Luật kinh doanh Luận văn tốt nghiệp
- Đựơc miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, phụ liệu, vật tư tạm nhập khẩu theo định mức để thực hiện hợp đồng
gia công;
- Được thuê thương nhân khác gia công;
- Được cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, phụ liệu, vật
tư để gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công và phải nép thuế
xuất khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với
phần nguyên phụ liệu, vật tư mua trong nước;
- Được nhận tiền thanh toán của bên đặt gia công bằng sản phẩm
gia công, trừ sản phẩm thuộc danh mục hàng hoá cấm nhập khẩu, cấm
xuất khẩu. Đối với sản phẩm thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập
khẩu có điều kiện phải được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền;
- Phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động
gia công xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất hàng hoá trong nước và các điều
khoản của hợp đồng gia công đã ký kết.
Trên đây là những điểm khái quát về hoạt động gia công và hợp đồng gia
công nói chung. Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng

với Việt Nam ngoài việc có thực lực về tài chính, có thiện chí trong quan hệ
buôn bán, không có biểu hiện hành vi lừa đảo thì Luật Thương mại còn quy định
chặt chẽ là yêu cầu thương nhân nước ngoài phải có trụ sở chính hoặc nơi cư trú
thường xuyên tại một nước. Điều này đảm bảo cho các thương nhân trong một
chõng mực nào đó tránh được những rủi ro nhất định. Pháp luật Việt Nam còng
cho phép thương nhân nước ngoài(thương nhân được thành lập theo pháp luật
nước ngoài) được đặt chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam. Văn phòng
đại diện là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, không có tài sản
riêng, không có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập khi
có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật Việt Nam về mọi hoạt động của văn phòng đại diện (của mình)
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status