luận văn kinh tế luật Giải pháp tăng cường quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Sốp Cộp - Tỉnh Sơn La - Pdf 27

LỜI MỞ ĐẦU
ất nước ta ở trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
xã hội 2001 – 2010 đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chủ động hội nhập quốc tế có
hiệu quả. Trong đó chính sách tài chính - Thuế có vai trò hết sức quan trọng đòi
hỏi ngành thuế phải tập trung nghiên cứu và đề ra các biện pháp công tác cụ thể,
phải tạo cho sự chuyển biến mới, có hiệu quả thiết thực trên các mặt công tác
của mình.
Hiện nay, toàn quốc có khoảng 3 triệu cơ sở kinh doanh cá thể, mức tăng
bình quân hàng năm khoảng 5%. Khu vực kinh tế này cũng đóng góp tới 72%
tỷ trọng thuế môn bài, nhưng thuế Giá trị gia tăng chỉ chiếm khoảng 9,8% trên
tổng thu của ngành thuế. Thực tế khảo sát cho thấy mặc dù nhiều cơ sở sản xuất,
kinh doanh cá thể có quy mô khá lớn, thậm chí lớn hơn cả các doanh nghiệp
thuộc loại nhỏ song các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể này vẫn tồn tại ở dạng
cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể mà không chuyển đổi sang các loại hình doanh
nghiệp. Việc duy trì mô hình cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể không những làm
mất đi cơ hội phát triển, tạo thêm giá trị gia tăng của chính các cơ sở sản xuất,
kinh doanh cá thể này mà còn tạo thêm khó khăn trong việc quản lý thuế nói
chung, thuế Giá trị gia tăng nói riêng đối với ngành thuế.
Thời gian qua công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nói
chung, quản lý thuế Giá trị gia tăng nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực góp
phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của các hộ kinh doanh, hạn chế
thất thu, tăng thu cho ngân sách. Tuy nhiên, tiềm năng vẫn còn có thể khai thác
thu đạt ở mức cao hơn. Tình trạng thất thu tuy có giảm nhưng vẫn còn tình trạng
quản lý không hết hộ kinh doanh, doanh thu tính thuế không sát với thực tế kinh
doanh, dây dưa, nợ đọng thuế còn nhiều Vì vậy, vấn đề mang tính cách thiết
đặt ra cho Ngành Thuế là phải tìm cho được các giải pháp nhằm tăng cường
công tác quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nói chung thuế Giá trị gia
tăng nói riêng. Tình hình quản lý và thu thuế Giá trị gia tăng đối với hộ kinh
doanh cá thể tại Chi cục Thuế huyện Sốp Cộp - Tỉnh Sơn La cũng nằm trong
Đ

bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
1.1.2- Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể:
- Hộ kinh doanh cá thể có thể chọn kinh doanh bất cứ ngành nghề, lĩnh
vực nào phù hợp với điều kiện của từng hộ.
- Quy mô kinh doanh và lợi nhuận thu được của hộ kinh doanh cá thể
thường giới hạn ở quy mô nhỏ, vừa và chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu
tiêu dùng của hộ.
- Hộ kinh doanh cá thể gồm nhiều thành phần tham gia kinh doanh, hộ
kinh doanh cá thể có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế hiện
tại, không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân
sách; mà hộ kinh doanh cá thể còn là mạng lưới rộng lớn nhất phát triển về tận
những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng
được.
- Hộ kinh doanh cá thể là kênh quan trọng phân phối và lưu thông hàng
hoá tới vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn giúp cân đối thương mại và phát triển
địa phương.
1.2- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.
1.2.1- Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
• Khái niệm thuế Giá trị gia tăng:
Luật thuế Giá trị gia tăng đã được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11(họp từ ngày 2/4/1997 đến
ngày 10/5/1997), Chủ tịch nước vộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố
theo lệnh số 57/L-CTN ngày 25/5/1997 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày
3
01/01/1999. Từ khi luật thuế Giá trị gia tăng được đưa vào áp dụng và có hiệu
lực thi hành đến nay đã có nhiều lần sửa đối, bổ sung cho phù hợp với điều kiện
và tình hình phát triển của đất nước. Trong quá trình áp dụng và thi hành từ năm
1999 đến nay đã phát huy được tính ưu việt của luật thuế, đem lại thành công
trong ngành Tài chính Việt nam góp phần to lớn vào thành quả về kinh tế của
Đất Nước. Qua hơn 10 năm thực hiện luật thuế Giá trị gia tăng đã đạt được 4

Tại điều 2 luật thuế Giá trị gia tăng đã quy định: Đối tượng chịu thuế là
hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Trừ
28 mục hàng hoá, dịch vụ quy định tại điều 4 luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của luật thuế Giá trị gia tăng. Quy định này đã được xác định thuế Giá trị gia
tăng là loại thuế gián thu, số thuế Giá trị gia tăng phải nộp được tính trong giá
thành sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng phải chịu.
• Đối tượng nộp thuế Giá trị gia tăng:
Tại điều 3 của luật thuế Giá trị gia tăng đã quy đinh: Tổ chức, cá nhân,
sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân khác nhập
khẩu hàng hoá chịu thuế là đối tượng nộp thuế Giá trị gia tăng.
Việc quy định này đã không phân biệt các thành phần kinh tế, tổ chức
hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo bình đăng quyền lợi và nghĩa vụ đối với các
thành phần kinh tế.
1.2.3- Căn cứ và phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng:
1.2.3.1- Căn cứ tính thuế Giá trị gia tăng:
Thuế Giá trị gia tăng được xác định trên hai căn cứ là giá tính thuế và thuế
suất.
- Giá tính thuế: Giá tính thuế Giá trị gia tăng được quy định đối với từng
loại hình sản xuất kinh doanh cụ thể như sau:
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế Giá trị gia tăng.
Như phân tích ở trên, thuế Giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, phần tiền
thuế phải nộp ngân sách được cộng vào giá thanh toán của hàng hoá, dich vụ và
do người tiêu dùng phải chịu.
Vậy giá thanh toán được xác đinh = (bằng) giá bán chưa có thuế Giá trị
gia tăng + (công) thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá nhập khẩu, giá tính thuế được xác định bằng giá nhập
tại cửa khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng để trao đổi sử dụng nội bộ, biếu,
tặng là giá của sản phẩm cùng loại tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu được từng kỳ.

quan tâm đến việc xuất khẩu hàng hoá, mở rộng thị trường buôn bán với các
nước, động viên, khuyến khích xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ và tiêu thụ sản
phẩm tăng tổng sản phẩm xã hội (GDP). Đây là chủ trương lớn của Đảng, NHà
nước trong điều hành nền kinh tế quốc gia.
6
+ Mức thuế suất 5%: Được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ phục vụ
trực tiếp đến tiêu dùng của đại đa số nhân dân hoặc hàng hoá đó là nguyên,
nhiên vật liệu phục vụ sản xuất các loại hàng hoá, dịch vụ khác.
- Mức thuế suất 10%: Được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ còn lại
không thuộc nhóm thuế suất 0% và 5%.
Căn cứ vào hai căn cứ tính thuế trên, thuế Giá trị gia tăng được xác
định bằng công thức sau:
Thuế Giá trị gia tăng đối
với hàng hoá, dịch vụ
=
Giá tính thuế Giá
trị gia tăng
X
Thuế suất thuế
Giá trị gia tăng
1.2.3.2- Phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng:
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng vẫn kiên định
với 5 loại hình kinh tế và bổ sung một loại hình kinh tế mới là:
+ Kinh tế nhà nước; (đóng vai trò chủ đạo với tư liệu sản xuất chủ yếu có
thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế;
+ Kinh tế tập thể;
+ Kinh tế cá thể; tiểu thủ;
+ Kinh tế tư bản tư nhân;
+ Kinh tế tư bản nhà nước;
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (đây là loại hình kinh tế mới xuất

chỉ việc nộp thuế theo phương pháp khấu trừ.
Xác định thuế Giá trị gia tăng phải nộp:
Số thuế Giá trị
gia tăng phải nộp
=
Thuế Giá trị gia tăng
đầu ra
-
Thuế Giá trị gia tăng đầu
vào được khấu trừ
Trong đó: + Thuế Giá trị gia tăng đầu ra được xác định bằng (=) giá
tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân ( X )thuế suất thuế Giá
trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó.
+ Thuế Giá trị gia tăng đầu vào được xác định bằng (=) tổng
số thuế Giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn Giá trị gia tăng (hoá đơn hợp lệ và hợp
pháp) mua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, diạch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng, số thuế Giá trị gia tăng
ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế Giá
8
trị gia tăng thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ tài chính áp dụng
đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động kịnh doanh tại Việt Nam
không thuộc các hình thức đầu tư theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trong một số trường hợp sử dụng hoá đơn đặc thù ghi giá thanh toán là
giá đã có thuế Giá trị gia tăng như: tem, vé in sẵn mệnh giá thì giá chưa có thuế
Giá trị gia tăng được xác định bằng công thức sau:
Gía chưa có thuế Giá
trị gia tăng
=
Giá thanh toán (tiền bán vé, tem, tổng số tiền trên
hoá đơn bán hàng )

phải nộp tương ứng
* Đối với hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hoá
đơn, chứng từ khi mua hàng hoá, dịch vụ: Về nguyên tắc, những hộ hộ loại này
thường là những hộ kinh doanh nhỏ, bán lẻ và kinh doanh nhiều mặt hàng vụn
vặn, hàng bán có thể không có hoá đơn, chứng từ (vì chi phí cho hoá đơn chứng
từ chiếm tỷ lệ cao trong doanh số). Những hộ này nộp thuế Giá trị gia tăng như
sau:
Thuế GTGT = Doanh số ấn định X Tỷ lệ GTGT X Thuế suất thuế
phải nộp GTGT
1.2.4- Chế độ hoá đơn chứng từ:
Việc quản lý sử dụng hoá đơn là một vấn đề nóng bỏng, là một bài toán
khó trong công tác quản lý mà nghành thuế đặt ra. Việc quản lý hoá đơn yêu cầu
phải chặt chẽ, chính xác nhưng phải đảm bảo thuận tiện cho đối tượng nộp thuế.
Việc sử dụng hoá đơn đối với từng đối tượng được quy định cụ thể như sau:
+ Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, khi bán
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng phải sử dụng hoá đơn Giá trị gia
tăng.
Để tăng cường quản lý hoá đơn, nâng cao trách nhiệm của cơ sở sản xuất ,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ luật thuế Giá trị gia tăng cho phép các cơ sở kinh
doanh tự in hoá đơn (gọi là hoá đơn tự in) nhưng phải được nhất trí bằng văn
bản của Tổng cục thuế và thực hiện việc in và quản lý theo đúng chế độ quy
định.
+ Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên Giá trị gia
tăng khi xuất bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng hoá đơn bán hàng.
1.2.5- Miễn, giảm thuế Giá trị gia tăng:
Về nguyên tắc, thuế Giá trị gia tăng là thuế gián thu do người tiêu dùng
chịu thông qua giá thanh toán đã có thuế Giá trị gia tăng cho nên không xét
miễn, giảm thuế Giá trị gia tăng cho cho đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên tại luật
thuế Giá trị gia tăng năm 1997 có xem xét đến miễn, giảm thuế Giá trị gia tăng
cho các cơ sở sản xuất kinh doanh lỗ do có mức thuế Giá trị gia tăng lớn hơn

được khấu trừ
Trong trường hợp số thuế Giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ lớn hơn
thuế Giá trị gia tăng đầu ra nghĩa là số thuế Giá trị gia tăng đầu vào chưa được
khấu trừ hết, kết quả số thuế Giá trị gia tăng phải nộp tronh kỳ âm (-) thì được
chuyển số thuế Giá trị gia tăng chưa được khấu trừ hết sang tháng sau hoặc được
hoàn thuế theo quy định sau:
Đối tượng được hoàn thuế:
+ Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên có số thuế đầu vào
chưa được khấu trừ hết.
11
+ Cơ sở kinh doanh có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế Giá trị
gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu phát sinh tronh tháng chưa
được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế trong tháng.
+ Về bản chất, việc hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại người nộp thuế các
khoản thuế mà cơ sở kinh doanh đã nộp thừa, đã nộp trước vào ngân sách Nhà
nước. Đây cũng là chính sách chống chiếm dụng vốn, tạo điều kiện cho doanh
nghiệp mở rộng đầu tư và phát triển của Nhà nước.
1.2.7- Quyết toán thuế Giá trị gia tăng:
Các cơ sở kinh doanh ( trừ hộ kinh doanh vừa và nhỏ nộp thuế theo mức
ấn định) phải thực hiện lập và gửi báo cáo quyết toán thuế Giá trị gia tăng hàng
năm cho cơ quan thuế. Năm quyết toán tính theo năm dương lịch. Thời hạn cơ
sở kinh doanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế chậm nhất không quá 60 ngày
kể từ 31 tháng 12 của năm quyết toán.
Cơ sở kinh doanh sát nhập, giải thể, chia tách, phá sản, chuyển đổi chủ sở
hữu cũng phải thực hiện việc quyết toán với cơ quan thuế trong thời hạn 45
ngày kể từ ngày có quyết định sát nhập, giải thể, chia tách, phá sản, chuyển đổi
chủ sở hữu
Cơ sở kinh doanh phải chịu trách về nhiệm tính đúng đắn của số liệu
quyết toán thuế, nếu cơ sở kinh doanh báo cáo sai để trốn, lậu thuế sẽ bị xử phạt
theo quy định của pháp luật.

thuế.
Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được quyền xử lý đối
với các vi phạm của đối tượng nộp thuế quy định tại các khoản 1,2 và 3 Điều 19
của luật thuế quy định.
Cục trưởng, Chi cục trương cơ quan thuế quản lý trực quản lý thu thuế
được áp dụng các biện pháp xử lý và chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền
để xử lý theo quy định của pháp luật đối với từng trường hợp vi phạm.
1.2.10- Hạn chế của thuế Giá trị gia tăng:
Mỗi sắc thuế không phải bao giờ cũng hoàn thiện bởi thực tế có nhiều vấn
đề phát sinh mà các nhà làm luật không thể lường trước được hết. Thuế Giá trị
gia tăng cũng vậy, bên cạnh những ưu điểm kể trên nó còn có những thiếu sót,
hạn chế nhất định cần nghiên cứu hoàn thiện và khắc phục.
Việc kê khai, quản lý thuế Giá trị gia tăng nói chung phức tạp, mọi hoạt
động mua bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn, chứng từ, phải theo đầu
ra, đầu vào hoặc hoàn thuế. Để khắc phục nhược điểm này, thì việc sử dụng hoá
13
đơn, chứng từ trong mọi giao dịch phải được áp dụng cũng như ý thức chấp
hành nghĩa vụ thuế của các hộ kinh doanh cá thể trên tinh thần tự giác cao.
Việc tồn tại đồng thời cả hai phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng sẽ tạo
ra sân chơi không công bằng giữa các cơ sở kinh doanh, điều này sẽ tạo ra sự sơ
hở cho sự suất hiện cơ chế chuyển giao sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trốn thuế
giữa các đối tượng nộp thuế.
Quy định về hoàn thuế, miễn giảm thuế còn nhiều sơ hở, về thuế suất còn
có sự phân biệt ngành hàng. Thực tế những quy định đó không sai là đòn bẩy
thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, nhưng ngược lại nếu quản lý không tốt
thì đây sẽ là một lỗ hổng lớn để những kẻ xấu lợi dụng làm biến dạng tính tích
cực thuế Giá trị gia tăng.
1.3- QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI HỘ KINH
DOANH CÁ THỂ.
1.3.1-Sự cần thiết quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh

quyết định mạnh mẽ đến tổng sản phẩm quốc nội, ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình phát triển kinh tế của đất nước do vậy việc tăng cường quản lý chặt chẽ
thuế Giá trị gia tăng sẽ làm tăng hiệu quả, tính ưu việt của luật thuế Giá trị gia
tăng. Điều đó thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- Tăng cường quản lý chặt chẽ thuế Giá trị gia tăng làm lành mạnh hoá
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, giá thành trên một đơn vị sản phẩm cùng
loại quyết định lớn đến khả năng tiêu thụ hàng hoá. Điều đó đã thúc đẩy các nhà
sản xuất đầu tư trang thiết bị hiện đại, đồng bộ, giảm các chi phí sản xuất để hạ
giá thành sản phẩm ở khâu sản xuất từ đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường, để tăng khả năng cạnh tranh các nhà sản xuất đã tính đến việc giảm tỷ lệ
giá trị lợi nhuận trong giá thành sản phẩm để tăng tỷ lệ thị phần chiếm lĩnh thị
trường và tất yếu sẽ tăng tổng doanh thu tiêu thụ hàng hoá do đó sẽ tăng được
lợi nhuận. Tỷ trọng lợi nhuận trong hàng hoá tiêu thụ có thể còn nhỏ hơn tỷ
trọng thuế Giá trị gia tăng (từ 5 đến 10%) tronh giá bán của sản phẩm. Như đã
phân tích ở trên, thuế Giá trị gia tăng là thuế gián thu, xét về bản chất đối tượng
nộp thuế là người tiêu dùng thông qua giá thành hàng hoá, dịch vụ đã có thuế
Giá trị gia tăng, nếu giảm được tỷ lệ thuế Giá trị gia tăng chiếm trong giá thành
sản phẩm thì các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ giảm được giá thành sản phẩm,
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và tất nhiên sẽ thu được các khoản lợi
nhuận khổng lồ. Đây là động cơ cơ bản để nhiều doanh nghiệp, nhiều cơ sở sản
xuất, kinh doanh tìm cách trốn thuế.
Mặt khác thuế Giá trị gia tăng là khoản thuế phải nộp của tất cả các cơ sở
sản xuất kinh doanh (trừ doanh nghiệp sản xuất hàng hoá để xuất khẩu). Vì vậy
15
tăng cường quản lý chặt chẽ thuế Gia trị gia tăng sẽ làm lành mạnh cạnh tranh
trên thị trường.
- Tăng cường quản lý chặt chẽ thuế Giá trị gia tăng thúc đẩy sản xuất
hàng hoá trong nước.
Như đã phân tích ở trên, thuế Giá trị gia tăng có chức năng điều tiết vĩ mô

nắm chắc số hộ có sản xuất, kinh doanh trên địa bàn., nắm diễn biến hoạt động
của các hộ như: Hộ mới ra kinh doanh, hộ nghỉ kinh doanh, di chuyển địa điểm
kinh doanh, Đối với hộ mới ra kinh doanh, đội thuế cấp phát tờ khai đăng ký
thuế và hướng dẫn cách kê khai để người nộp thuế kê khai đăng ký với cơ quan
thuế.
- Người nộp thuế kê khai đăng ký thuế: có 2 trường hợp:
+ Hộ kinh doanh lần đầu phải tiến hành kê khai đăng ký thuế để được cấp
mã số thuế.
+ Hộ trước đó đã được cấp mã số thuế nhưng nghỉ kinh doanh dài hạn,
sau đó lại ra kinh doanh lại vẫn phải thực hiện đăng ký nộp thuế lại với cơ quan
thuế, nhưng không cấp mã số thuế mới.
- Nhận tờ khai đăng ký thuế:
Đội thuế nhận tờ khai đăng ký thuế của người nộp thuế. Kiểm tra các chỉ
tiêu kê khai và trực tiếp liên hệ với người nộp thuế chỉnh sửa tờ khai đăng ký
thuế nếu có lỗi. Qua kiểm tra tờ khai đăng ký thuế nếu phát hiện người nộp thuế
chưa có giấy phép đăng ký kinh doanh thì phải có biện pháp nhắc nhở hoặc phối
hợp với các cơ quan liên quan xử lý phạt hành chính.
Đối với người nộp thuế mới ra kinh doanh lần đầu thì các đội thuế lập
bảng kê tờ khai theo mẫu số 01/NQD tập trung tờ khai chuyển đội nghiệp vụ -
Dự toán soát xét lại trước khi gửi về Cục thuế để cấp mã số thuế, hiện nay Cục
thuế đã uỷ quyền cho các Chi cục thuế trực nhận hồ sơ và cấp mã số thuế cho hộ
kinh doanh cá thể. Đối với các tờ khai đăng ký thuế đã có mã số thuế thì Đội
nghiệp vụ - Dự toán ghi bổ sung vào danh bạ để đưa vào danh sách lập bộ thuế.
- Nhận giấy chứng nhận đăng ký thuế:
Đội nghiệp vụ - Dự toán nhận giấy chứng nhận đăng ký thuế, các tờ khai
đăng ký thuế và bản danh sách người nộp thuế được cấp mã số thuế của Chi cục
từ Cục Thuế gửi về hay in trực tiếp tại Chi cục. Căn cứ vào danh sách của người
nộp thuế đã được cấp mã số thuế từ Cục Thuế gửi về hay in ở Chi cục, Đội
nghiệp vụ - Dự toán lập sổ danh bạ thuế theo mẫu quy định. Sổ này luôn được
cập nhập khi nhận được danh sách mã số thuế từ Cục Thuế và thông báo hộ

vừa và nhở sẽ ổn định thuế 1 năm. Các hộ mới phát sinh kinh doanh trong tháng
6 và tháng 12 thì sẽ được tính thời hạn ổn định thuế lần đầu bằng số tháng tính
từ tháng bắt đầu kinh doanh đến tháng 6 hoặc tháng 12 kế cận. Các thời hạn ổn
định tiếp theo sẽ là 6 tháng hoặc 1 năm tuỳ theo quy mô kinh doanh.
- Hướng dẫn Người nộp thuế kê khai thuế:
18
Đội thuế hướng dẫn các thủ tục kê khai thuế cho các hộ mới ra kinh doanh
nộp thuế theo phương pháp ấn định thuế và các hộ kinh doanh sắp hết hạn ổn
định thuế (kê khai dự kiến doanh số trung bình hàng tháng cho thời gian ổn định
thuế tới). Đối với thuế Giá trị gia tăng sử dụng mẫu số 05/GTGT (ban hành theo
Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính) thời hạn nộp tờ
khai là chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng trước tháng hết hạn ổn định.
- Điều tra xác định doanh số của Người nộp thuế:
Trước tháng 6 và tháng 12 đội thuế chọn mỗi ngành nghề, mỗi loại hộ,
một số hộ điển hình trực tiếp điều tra hoặc phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế
xã, phường tổ chức điều tra xác định doanh số điển hình theo mẫu số 03/NQD
để làm căn cứ tham khảo khi xác định doanh số chung của các hộ. Hàng tháng,
đội thuế tổ chức điều tra tình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ mới ra
kinh doanh. Đầu tháng 6 và tháng 12 Đội nghiệp vụ - Dự toán cung cấp danh
sách các hộ tháng sau sẽ hết hạn ổn định thuế để các đội thuế tiến hành điều tra
lại doanh số của các hộ này và dự kiến thời hạn ổn định thuế tiếp theo. Sau khi
điều tra, đội thuế lập danh sách dự kiến mức doanh số ấn định của từng hộ theo
mẫu số 04/NQD. Việc điều tra doanh số của các hộ có sự tham gia của đội kiểm
tra hoặc đội nghiệp vụ - Dự toán (không để một cán bộ thuế làm).
Sau khi điều tra, đội thuế lập danh sách các hộ và mức doanh số ấn định
dự kiến để thực hiện công khai hoá và chuyển cho Hội đồng tư vấn thuế xem xét
trước ngày 15 của tháng.
- Thực hiện công khai hoá doanh số dự kiến:
Đội thuế niêm yết danh sách dự kiến doanh số ấn định của các hộ mới ra
kinh doanh và các hộ điều chỉnh doanh số khi hết hạn ổn định thuế tại trụ sở

quan sẽ được cơ quan thuế xem xét giảm thuế trong kỳ thuế tiếp sau.
Đội thuế tập hợp đơn nghỉ và đơn đề nghị miễn thuế để chuyển danh sách
đơn cho đội kiểm tra của Chi cục. Đội kiểm tra lập kế hoạch kiểm tra tại cơ sở
trình lãnh đạo duyệt, sau đó tổ chức kiểm tra tại cơ sở.
- Kiểm tra, giải quyết đơn đề nghị miễn, giảm thuế.
Đội kiểm tra Chi cục phối hợp với các đội thuế tổ chức tiến hành kiểm tra
các hộ có đơn nghỉ kinh doanh. Sau khi kiểm tra, đội kiểm tra phải lập danh sách
các hộ thực nghỉ kinh doanh theo mẫu số 05/NQD gửi đội nghiệp vụ - Dự toán
trước ngày 10 của tháng tính thuế. Trường hợp Người nộp thuế có đơn nghỉ kinh
doanh trước ngày mùng 5 nhưng thời gian nghỉ bắt đầu từ giữa hoặc cuối tháng,
hoặc các hộ nghỉ vì các lý do đột xuất ngoài dự kiến thì đội thuế lập danh sách
thông báo cho đội nghiệp vụ - Dự toán để tính giảm thuế, đồng thời gửi danh
sách cho đội kiểm tra để tiến hành kiểm tra sau. Các tháng trước hoặc sau Tết
nguyên đán, nếu số hộ có đơn nghỉ kinh doanh quá nhiều, đội kiểm tra không
20
kiểm tra xong trước ngày 10 thì đội kiểm tra phải lập danh sách các hộ đã kiểm
tra và chưa kiểm tra cho đội nghiệp vụ - Dư toán để tính giảm thuế sau đó tiếp
tục tiến hành kiểm tra sau và thông báo kết quả kiểm tra cho đội nghiệp vụ - Dự
toán.
Đội kiểm tra phối hợp với các đội thuế kiểm tra xác minh thu nhập thực tế
đạt được trong quá trình kinh doanh của Người nộp thuế có đơn đề nghị miễn
thuế. Sau đó chuyển kết quả kiểm tra cho đội nghiệp vụ - Dự toán. Đội nghiệp
vụ - Dự toán xem xét các trường hợp đề nghị miễn thuế, kết quả kiểm tra đối
chiếu với các quy định trong chính sách, chế độ về miễn thuế. Nếu thủ tục hợp
lệ và đúng diện được miễn thuế thì đội nghiệp vụ - Dự toán làm thủ tục trình
lãnh đạo Chi cục quyết định. Kết quả duyệt sẽ được chuyển về đội nghiệp vụ -
Dự toán để điều chỉnh miễn thuế. Đội thuế phải quản lý biến động về hoạt động
kinh doanh của Người nộp thuế trong thời gian miễn thuế để phát hiện kịp thời
các đối tượng có thay đổi thu nhập kinh doanh tăng quá mức được miễn thuế để
yêu cầu đưa các đối tượng này vào diện nộp thuế.

từng hộ, xem xét các trường hợp đề nghị miễn thuế, nghỉ kinh doanh, kết quả
kiểm tra hộ miễn thuế, hộ nghỉ kinh doanh. Sau khi Hội đồng duyệt bộ xem xét
cho ý kiến, đội nghiệp vụ - Dự toán điều chỉnh lại sổ bộ thuế và trình lãnh đạo
Chi cục duyệt và chuyển trả đội nghiệp vụ - Dự toán. Việc duyệt sổ bộ thuế phải
xong trước ngày 17.
- Công khai thuế:
úau khi lãnh đạo duyệt sổ bộ thuế, các đội thuế thực hiện niêm yết công khai hoá
mức thuế của các hộ này tại trụ sở của UBND xã, phường, thị trấn, các tổ ngành
hàng để các đối tượng được biết.
- Thông báo thuế: Từ ngày 17 đến ngày 22 đội nghiệp vụ - dự toán căn cứ
vào sổ bộ đã được duyệt để tiến hành in thông báo thuế trên máy tính.
Thông báo thuế ghi đầy đủ mã số thuế của Người nộp thuế, số thuế nợ
tháng trước chuyển qua, số thuế phải nộp tháng này, địa điểm nộp thuế và các
chỉ tiêu khác. Thời hạn nộp thuế ghi trên thông báo chậm nhất là ngày cuối cùng
của tháng, thông báo thuế được gửi đến Người nộp thuế chậm nhất trước 3 ngày
so với thời hạn ghi trên thông báo.
Thông báo thuế được lãnh đạo Chi cục ký và chuyển đội hành chính đóng
dấu. Liên thông báo chính chuyển cho các đội thuế để đưa trực tiếp tới hộ kinh
doanh. Liên 2 chuyển đội nghiệp vụ - Dự toán lưu.
* Xử lý tờ khai.
- Người nộp thuế lập tờ khai thuế:
22
+ Hộ nộp thuế theo phương pháp trực tiệp trên Giá trị gia tăng, phải lập tờ
khai thuế Giá trị Gia tăng chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp theo.
+ Hộ kê khai nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên doanh số bán ra thì
lập và gửi tờ khai thuế Giá trị gia tăng chậm nhất là ngày thứ 20 của tháng tiếp
theo.
- Nhận và kiểm tra tờ khai: Đội thuế nhận tờ khai thuế từ các hộ kinh
doanh. Ghi sổ theo dõi việc nhận tờ khai theo mẫu số 06/NQD. Sau đó tiến hành
kiểm tra tờ khai để phát hiện các lỗi như:

các kết quả kiểm tra, quyết định phạt hành chính để tiến hành tính thuế, tính nợ
kỳ trước chuyển sang và tính phạt nộp chậm tiền thuế. Sau đó lập sổ thuế.
- Thông báo thuế:
+ Thông báo lần 1: Đội nghiệp vụ - Dự toán tiến hành in thông báo thuế
lầm một là ngày 18 hàng tháng, hạn nộp thuế ghi trên thông báo thuế có thể sau
ngày thông báo từ 4 đến 7 ngày.
+ Thông báo lần 2: Qua theo dõi thu nộp của Người nộp thuế, đội nghiệp
vụ - Dự toán lựa chọn đối tượng nộp thuế cần phát hành thông báo thuế lần 2.
Số tiền trong thông báo thuế lần 2 gồm: Số tiền thuế chưa nộp và số tiền phạt
của số thuế nộp chậm.
+ Ký và gửi thông báo thuế: Thông báo thuế được lãnh đạo Chi cục thuế
ký. Sau đó chuyển đội hành chính sao thành 2 bản và 01 bản gửi cho đối tượng
nộp thuế, 01 chuyển cho đội nghiệp vụ - Dư toán lưu.
- Phạt hành chính thuế:
Trong quá trình quản lý thu, nếu phát hiện đối tượng nộp thuế vi phạm
quy định vi phạm hành chính về lĩnh vực thuế, đội thuế hoặc đội kiểm tra Chi
cục đề xuất và dự thảo quyết định phạt hành chính trình lãnh đạo Chi cục duyệt.
Quyết định phạt sao thành 03 bản: Gửi Người nộp thuế 01 bản; chuyển đội
nghiệp vụ - Dư toán 01 bản để theo dõi việc thu nộp; đội hành chính lưu 01 bản.
- Lập lệnh thu:
Đội nghiệp vụ - Dự toán phối hợp với đội thuế và đội kiểm tra Chi cục lập
danh sách đối tượng nộp thuế hộ thuế lớn, kéo dài nhiều tháng đề nghị lập lệnh
thu trình lãnh đạo Chi cục duyệt.
Đội nghiệp vụ - Dự toán lập lệnh thu trước ngày 5 hàng tháng theo danh
sách lãnh đạo duyệt và trình lãnh đạo ký lệnh thu, sau đó chuyển lệnh thu cho
đội hành chính sao 03 bản, đóng dấu, gửi đối tượng nộp thuế 01 bản, lưu đội
hành chính 01 bản và chuyển đội nghiệp vụ - Dự toán để theo dõi việc trích
chuyển tài khoản của đối tượng nộp thuế.
24
Lệnh thu bao gồm thuế nợ, tiền phạt các tháng trước, không bao gồm số

thuế và nợ đọng thuế của đối tượng nộp thuế.
25

Trích đoạn Tổ chức thu nộp thuế: Các nhân tố tác động đến tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với hộ kinh doanh cá thể. Chủ trương của huyện về phát triển các hộ kinh doanh cá thể tại huyện Sốp Cộp. Một số giải pháp khác. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status