Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập.
Sinh viên thực tập
Quách Sỹ Thao
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
11
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
….124
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 125
PHỤ LỤC………………………………………………………………… 126
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
22
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT
:
Bảng cân đối kế toán
BCKQKD
:
Báo cáo kết quả kinh doanh
BCLCTT
:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BĐS
:
Bất động sản
CKPTH
:
Hàng tồn kho
LNST
:
Lợi nhuận sau thuế
LNTT
:
Lợi nhuận trước thuế
P.ĐTXD
:
Phòng đầu tư xây dựng
P.TCKT
:
Phòng tài chính kế toán
SXKD
:
Sản xuất kinh doanh
Trđ
:
Trđ
TSCĐ
:
Tài sản cố định
TSDH
:
Tài sản dài hạn
TSNH
:
Tài sản ngắn hạn
VCĐ
Bảng tính nguồn vốn lưu động thường xuyên của Công ty
từ năm 2009 đến năm 2013
55
Bảng
2.5
Tình hình đầu tư của HOM trong năm 2013 56
Bảng
2.6
Tình hình đầu tư của HOM từ năm 2009 đến năm 2013 57
Bảng
2.7
Sự biến động và cơ cấu phân bổ vốn của Công ty trong năm
2013
59
Bảng
2.8
Bảng cơ cấu tài sản của HOM với BTS và HT1 từ năm
2009 đến năm 2013
63
Bảng
2.9
Phân tích diễn biến nguồn tiền và sử dụng tiền của Công ty
trong năm 2013
65
Bảng
2.10
Tổng hợp dòng tiền của Công ty từ năm 2010 đến 2013 68
Bảng
2.11
Tình hình quy mô công nợ của Công ty trong năm 2013 69
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
44
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Bảng
3.1
Danh sách các Nhà Máy sản xuất Xi măng lớn của Việt
Nam
99
Bảng
3.2
Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2014 của HOM 109
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
55
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
2.1
Sơ đồ bộ máy tổ chức Công ty cổ phẩn Xi măng vicem
Hoàng Mai
39
Hình
2.2
Sơ đồ tổ chức phòng kế toán của HOM 40
Hình
2.3
Dây chuyền công nghệ sản xuất Xi măng của Công ty 40
Hình
3.1
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2013 98
Hình
Xuất phát từ ý nghĩa của việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp,
sau gần 3 tháng thực tập tại Công ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai, dưới
sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thanh và sự
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
77
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
chỉ bảo của các anh chị cán bộ phòng Tài chính kế toán của Công ty, em đã
thực hiện đề tài sau: “ Đánh giá tình hình tài chính và các biện pháp cải thiện
tình hình tài chính của Công ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai”
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đánh giá thực trạng tài chính
doanh nghiệp
- Tìm hiểu thực trạng tài chính của Công ty cổ phần Xi măng vicem
Hoàng Mai từ đó đánh giá thực trạng về tình hình tài chính của Công ty theo
hai khía cạnh kết quả đạt được và hạn chế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công
ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vị nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại Công ty cổ
phần Xi măng vicem Hoàng Mai.
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian : Nghiên cứu về tình hình tài chính và biện pháp cải thiện tình
hình tài chính của Công ty cổ phần Xi măng vicem Hoàng Mai
+ Về thời gian: năm 2012– năm 2013
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương
pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, thống kê, logic…đồng thời sử dụng các
bảng biểu để minh họa.
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa, đem về lợi nhuận cho doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, để có các yếu tố đầu vào cần thiết, doanh
nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, và tùy theo loại hình
doanh nghiệp mà có các phương thức huy động vốn khác nhau.
Vốn vận động rất đa dạng, liên tục và không ngừng chuyển đổi hình thái
biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa
và cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Từ số vốn tiền tệ ban đầu đó, doanh nghiệp mua sắm tài sản, trang thiết
bị, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất. Sản phẩm của quá trình
sản xuất được tung ra thị trường nhờ quá trình tiêu thụ, đây chính là giai đoạn
mà doanh nghiệp bán sản phẩm và thu tiền từ bán hàng. Doanh thu bán hàng
sau khi bù đắp các chi phí, doanh nghiệp sẽ thu được một khoản lợi nhuận,
với số lợi nhuận đó doanh nghiệp sẽ tiếp tục phân phối một cách hợp lý. Như
vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
1010
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Trong quá trình đó làm phát sinh và tạo ra sự vận động của dòng tiền vào,
dòng tiền ra gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của
doanh nghiệp.
Mặt khác, sự vận động của vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp trong một chu
kỳ sản xuất, mà sự vận động đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tất
cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất – phân phối – trao đổi –
tiêu dùng). Nhờ sự vận động của tiền tệ mà hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới
hình thái giá trị đã phát sinh ở các khâu trong quá trình tái sản xuất trong nên
kinh tế thị trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng nội dung kinh tế khác
nhau, song chúng đều có những đặc trưng kinh tế giống nhau mang bản chất
của tài chính doanh nghiệp.
toán nội bộ doanh nghiệp.
Như vậy: Xét về mặt hình thức: Tài chính doanh nghiệp là các quỹ tiền
tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với các
hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất: Tài chính doanh nghiệp là các
quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử
dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của mình.
1.1.1.2 Các quyết định tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp thực chất quan tâm nghiên cứu ba quyết định
chủ yếu, đó là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ (nguồn vốn) và quyết định
phân phối lợi nhuận.
Quyết định đầu tư
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
1212
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ
phận tài. Quyết định đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
- Quyết định đầu tư tài sản lưu động: Quyến định tồn quỹ, quyết định tồn kho,
quyết định chính sách bán chịu hàng hóa , quyết định đầu tư tài chính ngắn
hạn…
- Quyết định đầu tư tài sản cố định: Quyết định mua sắm tài sản cố định mới,
quyết định thay thế tài sản cố định cũ, quyết định đầu từ dự án, quyết định
đầu từ tài chính dài hạn…
- Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư tài sản lưu động và tài sản cố định, bao
gồm : Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn.
Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trọng nhất trong các quyết
định tài chính doanh nghiệp vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết
định đầu tư đúng sẽ góp phần làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó gia tăng
giá trị tài sản cho chủ sở hữu. Ngược lại, một quyết định đầu tư sai sẽ là tổn thất
giá trị doanh nghiệp, do đó sẽ làm thiệt hại tài sản cho chủ doanh nghiệp.
Quyết định nguồn vốn
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định
và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp. Do các quyết định tài chính của doanh nghiệp
đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá
trình hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy có thể nói quản trị tài chính doanh
nghiệp là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá
trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu hoạt
động của doanh nghiệp.
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
1414
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp
Thứ nhất , tham gia việc đánh giá, lựa chọn quyết định đầu tư.
Quyết định đầu tư dài hạn là quyết định có tính chiến lược của doanh
nghiệp. Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn
vào quyết định đầu tư, vì quyết định đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
cảu doanh nghiệp trong một thời gian dài, chi phối quy mô kinh doanh, trình
độ trang bị kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả
năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tương lai.
Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc
trên nhiều mặt về kinh tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính
phải xem xét các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và dự tính thu nhập trong
tương lai, hay nói cách khác đó là xem xét dòng tiền liên quan đến khoản đầu
tư, từ đó đánh giá và ra quyết định đầu tư.
Thứ hai, Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp
thời, đủ nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố và là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và phát triển
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà quản trị cần phải xác định các
nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ, từ đó tổ
chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ, có lợi cho các hoạt
phân tích tình hình tài chính định kỳ mà doanh nghiệp biết được hiệu quả sử
dụng vốn, điểm mạnh - điểm yếu trong quản lý, dự báo tình hình tài chính
tương lai để đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh
và tài chính của doanh nghiệp trong kỳ tới.
Thứ sáu, thực hiện kế hoạch hóa tài chính
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
1616
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông
qua việc lập kế hoạch tài chính. Có kế hoạch tài chính tốt thì mới có thể đưa
ra các quyết định tài chính đúng đắn để thực hiện mục tiêu doanh nghiệp. quá
trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra các giải
pháp hữu hiệu khi thị trường có sự biến động.
1.1.2.2 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận và là nội dung quan
trọng hàng đầu của quản trị doanh nghiệp, nó có quan hệ chặt chẽ tới tất cả
các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt là hiện nay khi mà nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp tự chủ hoàn toàn về sản
xuất kinh doanh và tài chính, đồng thời phải đương đầu với nhiều thách thức
do cạnh tranh khốc liệt và sự biến động khôn lường của thị trường thì vai trò
của quản trị tài chính doanh nghiệp lại trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt
chủ yếu sau:
Một là, huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn
ra bình thường và liên tục.
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá
trình hoạt động, doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu về vốn
ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động động kinh doanh thường xuyên cũng như
cho đầu tư phát triển doanh nghiệp. Nếu không kịp thời huy động đủ vốn sẽ
làm gián đoạn hoạt động doanh nghiệp. Do vậy, việc đảm bảo cho hoạt động
Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì công tác quản trị tài chính doanh nghiệp
cũng không giống nhau. Đó là vì giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt về
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
1818
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành
kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, ở nước ta hiện nay có các
loại hình doanh nghiệp sau đây: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh,
Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần
Các loại hình doanh nghiệp khác nhau chi phối đến việc tổ chức, huy
động vốn cũng như việc phân chia lợi nhuận cũng khác nhau. Chẳng hạn như
với doanh nghiệp tư nhân thì vốn là do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ ra,
cũng có thể huy động thêm từ bên ngoài dưới hình thức đi vay. Loại doanh
nghiệp này không được phép phát hành một loại chứng khoán nào trên thị
trường để tăng vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng
của chủ doanh nghiệp. Còn đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn thì vốn điều
lệ của Công ty là do các thành viên đóng góp. Trong quá trình hoạt động vốn
có thể tăng nên nhờ kết nạp thêm thành viên mới, trích từ quỹ dự trữ hoặc đi
vay bên ngoài nhưng không được phép phát hành chứng khoán. Việc phân
chia lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định, mức lợi nhuận các thành
viên nhận được phụ thuộc vào vốn đóng góp…
Do vậy, khi phân tích đánh giá và lựa chọn các quyết định tài chính, nhà
quản trị không thể bỏ qua hình thức pháp lý của doanh nghiệp, bởi với mỗi
hình thức pháp lý khác nhau sẽ có sự khác nhau trong việc lựa chọn các quyết
định tài chính.
Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh
Tổ chức tài chính doanh nghiệp còn dựa vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật
của ngành kinh doanh. Mỗi ngành kinh doanh có đặc điểm về mặt kinh tế và
phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của
doanh nghiệp căng thẳng
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
2020
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
- Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp: Như các
chính sách khuyến khích đầu tư; Chính sách thuế; Chính sách xuất khẩu, nhập
khẩu; Chế độ khấu hao tài sản cố định,… đây là các yếu tố tác động lớn đến
các vấn đề tài chính của doanh nghiệp.
- Mức độ cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề,
lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều
hơn cho việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm,
cho quảng cáo và tiếp thị, cho tiêu thụ sản phẩm.
- Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính: Sự phát triển của thị
trường tài chính làm đa dạng hóa các công cụ và các hình thức huy động vốn
cho doanh nghiệp. Sự phát triển của các trung gian tài chính sẽ cung cấp các
dịch vụ tài chính ngày càng phong phú, đa dạng hơn cho các doanh nghiệp,
như sự phát triển của các ngân hàng thương mại.
1.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm đánh gia thực trạng tài chính doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp là quá trình thu thập và
phân tích các thông tin tài chính, tính toán các chỉ số, để đối chiếu xem hoạt
động cảu doanh nghiệp có đạt được mục tiêu, kết quả tương xứng với nguồn
lực (chi phí) bỏ ra hay không. Thông thường, đáng giá thực trạng tài chính
nhằm phân tích sự phù hợp, tính hiệu quả của tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá thực trạng tài chính là một khâu rất quan trọng, nó ảnh hưởng
rất lớn đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ những kết
quả đánh giá thực trạng tài chính, các nhà quản trị sẽ căn cứ vào đó mà đưa ra
các quyết định tài chính cho phù hợp. Đánh giá đúng thực trạng tài chính là
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
2222
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp đối với người cho vay là xác
định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng để có chính sách cho vay thích hợp.
Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp
Đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm
ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công, đảm nhiệm.
Do đó, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được
dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh
nghiệp, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp từng đối tượng lựa
chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.2.2 Nội dung đánh giá thực trạng tài chính doanh nghiệp
1.2.2.1 Đánh giá tình hình huy động vốn của doanh nghiệp
Đánh giá tình hình huy động vốn thông qua sự biến động của nguồn vốn
và cơ cấu nguồn vốn.
Đánh giá sự biến động của nguồn vốn được thực hiện thông qua so sánh
cả tổng số và từng loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ để xác
định chênh lệch tuyệt đối và chênh lệch tương đối của tổng số cũng như từng
loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn.
Đánh giá cơ cấu nguồn vốn bằng cách tiến hành xác định tỷ trọng từng
loại, từng chỉ tiêu nguồn vốn chiếm trong tổng của nó ở cuối kỳ và đầu kỳ.
Đồng thời so sánh tỷ trọng từng loại nguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ từ đó
đánh giá được cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn của doanh
nghiệp trong kỳ.
Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu nguồn vốn được xác định theo công thức:
Tỷ trọng từng
loại nguồn vốn
=
TSLĐ tạm thời được đảm bảo rằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần
TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
- Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được
đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn một phần TSLĐ thường xuyên và
toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời.
1.2.2.2 Đánh giá tình hình đầu tư và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Đánh giá tính hình đầu tư của doanh nghiệp
SV: Quách Sỹ Thao Lớp: CQ48/11.19
2424
Học viện tài chính Luận văn tốt nghiệp
Mục tiêu của việc đánh giá tình hình đầu tư là để trả lời các câu hỏi: Hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp chủ yếu vào lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
doanh hay hoạt động tài chính? Đầu tư ngắn hạn hay dài hạn là chủ yếu? Cơ cấu
đầu tư có hợp lý không? Hiệu quả không? Trên cơ sở đó đề xuất những kiến
nghị giúp doanh nghiệp có chính sách đầu tư hợp lý, hiệu quả hơn nữa.
Để đánh giá tình hình đầu tư, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Tỷ suất đầu tư tài sản cố định
Tỷ suất đầu tư TSCĐ =
Tài sản cố định
x
100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp thì số
vốn đầu tư vào TSCĐ chiếm bao nhiêu phần trăm. Nó vừa thể hiện cơ cấu đầu
tư về TSCĐ, vừa thể hiện quy mô đầu tư về TSCĐ, loại hình đầu tư, lĩnh vực
đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tỷ suất đầu tư tài chính
Tỷ suất đầu tư tài chính =
Các khoản đầu tư tài
chính