Biện chứng cái đẹp trong xã hội thông qua ngũ luân
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nghiên cứu các phạm trù của khách thể thẩm mĩ, phạm trù cái
đẹp là một phạm trù mà không một nhà nghiên cứu nào có thể bỏ qua.
Điều đó không có gì là khó hiểu cả, bởi “trong cuộc sống của con người,
cái đẹp luôn là người bạn đồng hành, có mặt khắp mọi nơi; cái đẹp vây
quanh con người trong mỗi bước đi, mỗi việc làm, mỗi hành vi ứng xử.
Ở đâu có cuộc sống của con người là ở đó có cái đẹp. Cái đẹp đem lại
niềm vui, niềm hạnh phúc, nâng đỡ con người trong mọi khó khăn, tiếp
thêm sức mạnh để con người vượt qua thử thách. Nhờ có cái đẹp mà con
người không mất lòng tin vào cuộc sống, vào chân lí, vào ngày mai. Cái
đẹp luôn là khát khao vươn tới của con người”.
(Lê Văn Dương)
Cái đẹp được biểu hiện qua muôn vàn những sự vật, hiện tượng tồn
tại xung quanh ta. Có những cái đẹp của thế giới tự nhiên do tạo hoá sinh
ra như sông, núi, biển, trời, trăng, sao…; cũng có những cái đẹp do chính
bàn tay con người làm ra - họ chính là những người nghệ sĩ, bằng tài
năng và tâm huyết của mình, đã tạo ra những tác phẩm độc đáo, sinh
động làm đẹp cho đời (được gọi là cái đẹp trong nghệ thuật). Tuy nhiên,
điều mà chúng ta muốn đề cập đến ở đây lại là cái đẹp tồn tại trong một
trạng thái khác, đó là cái đẹp trong xã hội. Chúng ta sẽ phần nào hiểu rõ
hơn về nó khi đi vào tìm hiểu nếp sống tình cảm của con ngươì thông
qua Ngũ luân.
Và lẽ dĩ nhiên, theo quy luật tất yếu, trước khi đi vào nghiên cứu
sâu một khía cạnh nào đó của vấn đề đặt ra, chúng ta phải có nền tảng
chung, hay nói cách khác là, phải có hiểu biết nhất định về vấn đề đó.
Bởi vậy, để hiểu rõ được cái đẹp trong xã hội thông qua Ngũ luân, những
hiểu biết chung về cái đẹp là một điều hết sức cần thiết. Dưới đây sẽ là
những phần mà bài viết đề cập đến:
* Phần I: Tìm hiểu chung về cái đẹp.
* Phần II: Biện chứng cái đẹp trong xã hội thông qua Ngũ luân.
3
đẹp mang một tầm vóc lớn lao, phi thường, là cái đẹp quá mức bình
thường.
Như vậy, ở mức độ này hay mức độ káhoàn cảnh thì cái đẹp đều
liên quan, chi phối đến các phạm trù khác. Nó được xem là tiêu chuẩn, là
điểm tựa để khái quát nên các phạm trù khác. Nếu không có cái đẹp thì
nghĩa là không có các phạm trù kia.
Tóm lại, dù xét từ phương diện nào, khách thể hay chủ thể, thì cái
đẹp bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ thẩm mĩ của
con người với hiện thực.
1.2. Bản chất của cái đẹp
Cái đẹp là một phạm trù hết sức phức tạp, vì thế không dễ gì nhận
diện được bản chất mang tính khái quát của nó.
Trước khi mĩ học Mác - Lênin ra đời, lịch sử tư tưởng mĩ học đã
từng ghi nhận ít nhất là có ba khuynh hướng quan niệm khác nhau về bản
chất của cái đẹp: khuynh hướng duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan
và khuynh hướng duy vật. Mỗi học thuyết đều có lí riêng của mình.
- Mĩ học duy tâm khách quan (Platon, Hêgel…) không tìm thấy cơ
sở của cái đẹp ở trong các sự vật, hiện tượng của thế giới hiện thực, họ lí
giải nguồn gốc của nó trong thế giới ý niệm. Bởi vậy, cái đẹp, theo họ là
một phạm trù vĩnh cửu, bất biến.
- Mĩ học duy tâm chủ quan (Hume, Lalo, Kant…) lại có quan niệm
khác, họ tuyệt đối hoá cái đẹp theo quan niệm chủ quan, tìm nguồn gốc
cái đẹp trong ý thức của chủ thể, trong cảm xúc chủ quan của cá nhân.
“Cái đẹp không ở trên đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong con
mắt của kẻ si tình”.
- Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, mĩ học duy vật trước Mác lại tập
trung sự chú ý vào phương diện khách quan của cái đẹp. Họ cho rằng,
cái đẹp là một thuộc tính tự nhiên, vốn có của sự vật, sự vật tự nó đã đẹp
rồi, con người chẳng qua chỉ là kẻ thưởng ngoạn vẻ đẹp ấy một cách bị
mô là gia đình đến một phạm vi rộng vĩ mô là xã hội, mà nếu quy lại,
chúng được gọi là văn hoá ứng xử.
5
Ta có thể định nghĩa văn hoá ứng xử như sau :
“Văn hoá ứng xử là lối sống, lối suy nghĩ, hành động của con
người với con người, con người với tự nhiên, con người với xã hội qua
những luân thường đạo lý”.
Bản chất của văn hoá ứng xử là Tâm và Nhẫn : Tâm (tim) là nơi
thiêng liêng nhất, quan trọng nhất. Tâm còn có nghĩa là lương tâm, đạo
đức, tư cách, nhân ái. Theo Chu Dịch và Kinh Dịch của Chu Công Đán
và Chu Văn Vương (sau này được Khổng Tử phát triển thành Kinh
Dịch). Tâm có nghĩa là Đạo và Đức:
Đạo là ngũ thường, bao gồm: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Đạo là Ngũ luân, trong nó bao hàm các mối quan hệ giữa : vua -
tôi, thầy - trò; bố mẹ - con cái, vợ - chống và anh em, bạn bè, hàng xóm .
“Đạo” là cái lí tự nhiên của trời đất, là con đường rộng ai cũng phải theo
mà đi, tức là cái công lệ trung chính để làm quy tắc cho hành động của
người đời. Ai theo đạo ấy mà ăn ở là hay, là người quân tử, không theo
được đạo cũng là dở, là kẻ tiểu nhân”.
(Khổng Tử)
Qua Ngũ luân, ta sẽ thấy được phần nào cái đẹp trong xã hội
6
PHẦN II
BIỆN CHỨNG CÁI ĐẸP TRONG XÃ HỘI QUA NGŨ LUÂN
1. QUAN HỆ VUA TÔI
Trong Ngũ luân, quan hệ vua tôi là mối quan hệ đầu tiên mà nó đề
cập đến. Theo tư tưởng của Nho giáo thì quân quyền phải để một người
giữ cho rõ cái mối thống nhất. Người giữ quân quyền gọi là đế hay
vương, ta thường gọi là vua. Vua phải lo việc trị nước, tức là lo sự sinh
hoạt, sự dạy dỗ và sự mở mang cho dân. Ở trong nhà thì con phải hiếu