ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Đại học khoa học xó hội và nhõn văn
Khoa Văn học
--------------
Bài tiểu luận giữa kỳ:
Mỹ học đại cương
CHỦ ĐỀ: CÁI ĐẸP CỦA CA TỪ TRONG NHẠC PHẨM TRỊNH
CÔNG SƠN
GVHD:
SV :
Lớp :
1
TRỊNH CÔNG SƠN - TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM
Trịnh Công Sơn quê ở Huế, sinh ngày 28/2/1939, mất ngày 1/4/2001 tại
thành phố Hồ Chí Minh.
Ông là hội viên Hội nhạc sĩ Việt nam, từng là Phó tổng biên tập phụ san
Thế giới Âm nhạc (Hội nhạc sĩ Việt Nam).
Thời niên thiếu, ông ở Huế, rồi tốt nghiệp Sư phạm Quy Nhơn, lên dạy
học ở Blao (Lâm Đồng). Sau đó bỏ hẳn dạy học về sống và sáng tác tại Sài Gòn.
Từ sau năm 1975, ông về Huế hoạt động ở Hội văn học nghệ thuật một
thời gian rồi trở lại thành phố Hồ Chí Minh sống và hoạt động âm nhạc, hội họa.
Ca khúc đầu tiên: Ướt mi (Nxb An Phú, Sài Gòn).
Từ sau 1975, ông về Huế hoạt động ở Hội văn học nghệ thuật một thời
gian rồi trở lại thành phố Hồ Chí Minh sống và hoạt động âm nhạc, hội họa.
Ca khúc đầu tiên: Ướt mi (Nxb An Phú, Sài Gòn – 1959).
Các tập ca khúc: Tuổi đá buồn, Khói trời mênh mông, Ca khúc da vàng,
Kinh Việt Nam, Một cõi đi về, Huyền thoại mẹ, Em còn nhớ hay em đã quên,
Những bài ca không năm tháng...cùng với nhiều album trên băng cassette, băng
video, đĩa CD, VCD.
2
Năm 1972, ông đã được Đĩa vàng ở Nhật Bản với bài Ngủ đi con (trong
hằng chan chứa trong ca từ Trịnh Công Sơn chính là cái nguyên do chính đáng
nhất để âm nhạc của ông đi thẳng vào trái tim vốn đa cảm trong lồng ngực con
người, và cứ ở đó như đã thế, vẫn thế. Âm nhạc Trịnh Công Sơn như một bài
4
thơ, đúng là một bài thơ, sâu sắc và thấm thía đến từng chữ, từng câu, không có
chữ thừa, không có chứ thiếu: “Cái đẹp trong ca từ, cả xác chữ lẫn hồn thơ, bảng
lảng lờ mờ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng, đẹp làm sao nhưng
cũng hơi ma quái thế nào…”.
Xem xét ca từ của Trịnh Công Sơn để thấy rằng, ca khúc chỉ có thể là
nghệ thuật và sự cứu rỗi con người khi nó đẹp như một bài thơ. Người nghệ sĩ
viết nhạc nhưng cũng cần hành trình vào bề sâu của ngôn ngữ, lao động sáng tạo
một cách nghiêm túc.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁI ĐẸP TRONG ÂM NHẠC MANG ĐẬM CHẤT THƠ
1. Mối quan hệ giữa cái đẹp trong thơ và cái đẹp trong nhạc Trịnh Công
Sơn
Được sinh ra từ đời sống tinh thần phong phú và đa phức của loài người,
những đứ con của nghệ thuật là một thể hợp nhất khó tách rời. Đứng trên nhiều
góc độ khac nhau người ta đã cố gắng phân chia nghệ thuật thành bảy loại hình:
kiến trúc, hội họa, âm nhạc, văn học, điêu khắc, điện ảnh, sân khấu. Nhưng ranh
giới giữa chúng vẫn là sợi dây mảnh dẻ đến vô hình, Kôginốp đã gọi: kiến trúc
là âm nhạc ngưng tụ, âm nhạc bằng đá. Hoa văn là âm nhạc được khắc họa, âm
nhạc của thị giác. Nhảy múa là âm nhạc của cơ thể. Thơ trữ tình là âm nhạc của
ngôn ngữ. Âm nhạc là kiến trúc của âm thanh, là hoa văn của thính giác, là thơ
trữ tình không lời…
Trong sợi dây liên kết bền vững của văn học và các loại hình nghệ thuật
thì mối liên hệ giữa văn học và hội họa, văn học và âm nhạc là hai mối liên hệ
cơ bản nhất. Mặc dù ca từ của Trịnh Công Sơn cũng giống như những bức họa
khắc tạc nên hàng loạt hình ảnh siêu thực , tượng trưng. Nói đến mối quan hệ
thơ ca - âm nhạc, tức là phải nói đến ảnh hưởng của hai loại hình nghệ thuật này:
viết: “ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành …”.
Nghệ thuật đối với ông là yêu cầu tự thân, là tiếng nói thôi thúc được cất lên,
được hát lên, và trên hết nó là đời sống của ông; mỗi câu chữ và mỗi nốt nhạc
6
cũng có một thân phận, một cuộc đời riêng của nó. Cuộc đời ấy dù ở trên môi
hay trong trái tim con người thì theo Trịnh Công Sơn cũng là “thăng hoa đồng
thời cũng để an ủi. Sản phẩm văn nghệ chỉ đẹp khi có khả năng xóa đi những nỗi
giận hờn”. Ông nói nhiều về vai trò của tiếng hát, của nghệ thuật; nghệ thuật
sinh ra từ thân thể của người nghệ sĩ, nó hàm chứa “một cõi nhân sinh bề bộn
những khổ đau và hoan lạc, khi thoát thai, dù là thơ dại nó cũng phải ngợi ca và
an ủi, vỗ về linh hồn nhân loại, nó nhắc nhở con người một điều giản dị: “Tôi
hát là tôi hiện hữu. Tôi tồn tại cũng có nghĩa là tôi mất đi. Tôi mất đi nhưng
tiếng hát còn ở lại. Ơr lại như một chứng tích vừa buồn bã, vừa huy hoàng của
một cõi đời” (Thế giới Âm nhạc. 1996). Tiếng hát câu ca như một cuộc rong
chơi của con người nhỏ bé muốn chống lại cái vô hạn vô cùng của thời gian trôi
chảy. Thân xác con người rồi có ngày cũng sẽ trở về với cát bụi, nhưng tâm hồn
thì sẽ bất tử cùng tiếng hất, tiếng hát muốn vậy, theo Trịnh Công Sơn phải
“chuyên chở được một thông điệp của lòng nhân ái” (Thế giới Âm nhạc,1/1997).
Âm nhạc thánh thiện phải như một bản kinh cầu gột rửa những bụi bặm tị hiềm
trong góc khuất con người. Đó chẳng phải là mong ước của riêng cuộc đời
những câu hát mà còn là cái đích vươn lên của những câu thơ, những bức tranh
và những bộ phim…Đó chính là chức năng, nhiệm vụ của nghệ thuật dù ở bất
kỳ một lĩnh vực nào.
Từng khẳng định trong cuộc phỏng vấn : “Sự mất mát và cái chết là ám
ảnh lớn nhất đời tôi”, nghệ thuật của Trịnh Công Sơn cất cánh từ bệ phóng của
hai nỗi ám ảnh dai dẳng ấy - nó trở thành cội nguồn sáng tạo trong hầu hết các
sáng tác thơ ca, âm nhạc, hội họa của ông. Nhưng cũng phải nhìn sâu hơn vào
hai điều ông lo sợ. Xét đến cùng, Trịnh Công Sơn sợ cái chết và mất mát là bởi
ông yêu cuộc sống quá nhiều và không muốn mất nó. Ông trân trọng tình yêu,
lúc nào cũng muốn giữ cho mình một ý nghĩa bền vững: “Cuộc sống không thể
II. CÁI ĐẸP TRONG CA TỪ CỦA TRỊNH CÔNG SƠN
1. Cái đẹp từ xác chữ
Một ca khúc hay là sự kết hợp hài hòa giữa nét nhạc và ca từ. Ca khúc của
TRịnh Công Sơn không chỉ hay mà còn tạo ra ám ảnh đối với người nghe. Có lẽ
chính ca từ đã làm trong nhiệm vụ đó. Bởi mỗi bài hát của ông với ca từ đặc sắc
8
như một bài thơ tâm sự, giãi bày. Theo Nguyễn Duy: “Chất thơ trong ca khúc
Trịnh Công Sơn bảng lảng, lờ mờ khó phân định”, nó tỏa ra từ hồn thơ, thấm sâu
vào xác chữ; nhưng thiết nghĩ nó không tạo ra sự thách đố cho người đọc, trái lại
bắt đầu từ xác chữ tiến đến hồn thơ chúng ta có thể khám phá, định dạng được
những đặc sắc của chất thơ trong sáng tác Trịnh Công Sơn. Chất thơ không tồn
tại một cách vô hình, mà nó thể hiện sinh động ở hình thức từ cấp độ thể thơ đến
ngôn từ, ở những thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm. Để khẳng định nhạc
Trịnh Công Sơn có mối liên hệ chặt chẽ với thơ ca, chúng tôi sẽ khám phá ca từ
trong nhiều ca khúc của ông ở cả hai mặt là hình thức (xác chữ) và nội dung
(hồn thơ).
1.1. Cái đẹp từ thể thơ
Trịnh Công Sơn viết nhạc và lựa chọn thơ là người bạn đường trung thành
với ca khúc trên hành trình đến với người nghe là điều có thể giải thích được.
Trong văn học, người ta thường nói “nội dung nào hình thức nấy”. Tâm hồn và
cái nhìn của ông đối với cuộc sống phù hợp với cách biểu hiện của thơ ca -một
thể loại nặng về diễn đạt thế giới nội tâm, tình cảm của người viết.
Đối với ca từ Trịnh Công Sơn, người đọc nhiều khi chỉ quan tâm đến sự
sáng tạo ngôn từ độc đáo, thế nhưng để có thể nói mỗi tác phẩm của ông giống
như một bài thơ trữ tình đặc sắc thì chỉ nhắc đến ngôn từ là không đủ. Đọc ca từ
Trịnh Sông Sơn có một điều thú vị là sự xuất hiện của thể thơ tương đương một
bài thơ trọn vẹn.
Mỗi bài thơ trong sáng tác của ông đều có mặt mạnh trong nghệ thuật
biểu hiện khác nhau. “Cái mạnh trong thơ năm chữ là chất hoài niệm”, thơ lục
bát là khả năng thể hiện tâm tình sâu lắng… Như vậy, cách thứuc mà người viết
thơ đang liền mạch mà nhiều bài thơ tự do của các tác giả khác đôi khi gặp phải.
Do đó, kết cấu bài thơ không bị rời rạc mà hài hòa và chặt chẽ....Đó là nhân tố
tạo nên vẻ đẹp trong ca từ và trong cả nội dung của ca khúc Trịnh Công Sơn.
10
Đọc những bài thơ - nhạc Trịnh ta cũng bắt gặp hồn thơ dân gian dung dị
thân thương ấy:
“Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng
Cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau”
(Nhớ mùa thu Hà Nội).
Và
“Đêm chong đèn ngồi nhớ lại
Từng câu chuyện ngày xưa
Mẹ về đứng dưới mưa
Che đàn con nằm ngủ”
(Huyền thoại mẹ)
Thể 4 chữ, 5 chữ trong ca từ Trịnh Công Sơn mang hơi thở dân gian
nhưng đã được quỵệnhòa cùng sự sáng tạo tài hoa của ông nên nó cũng tạo nên
một vẻ đẹp độc đáo lạ thường.
Thơ lục bát của Trịnh Công Sơn cũng có những nét mới. Nếu như Tố
Hữu dung giọng tâm tình của lục bát để viết về các sự kiện lớn lao của đất nước
thì Trịnh lại đưa vào thơ lục bát triết lý về cõi đời, cõi sống theo tư tưởng nhà
Phật.
“ Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xôi cũng gần
Xưa kia ở đậu miền xa
Cơn gió ở trọ bao la đát trời