Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án xây dựng nhà máy xử lý rác thải của thị xã Hà Đông - Pdf 27

Lời nói đầu
1. Lý do lùa chọn đề tài.
Hà Đông là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh Hà Tây, là cửa
ngõ phía tây nam của thủ đô Hà Nội.
Với vai trò là thủ phủ của tỉnh Hà Tây, đồng thời nằm trên quốc lé 6 và
quốc lé 430 là những trục kinh tế, kỹ thuật quan trọng, thị xã Hà Đông cũng
nằm trong chiến lược phát triển của vùng đông bằng sông Hồng và vùng nằm
liền kề thủ đô Hà Nội.
Với vị trí và tiềm năng như vậy, việc quy hoạch cho toàn thị xã Hà
Đông, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi phải được nghiên
cứu, điều chỉnh và thiết lập hợp lý để góp phần xây dựng thị xã trở thành một
đô thị văn minh, hiện đại. Tuy nhiên hiện nay việc thu gom, xử lý rác thải của
thị xã chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu thực tế.
Hiện tại thị xã chưa có nơi xử lý rác thải. Nơi chôn lấp rác thải của thị
xã đang trong tình trạng chắp vá, không có tính kế hoạch, không ổn định,
không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của một bãi chôn lấp. Do đó có
khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường, mỹ quan và chứa đựng nhiều dấu
hiệu bất ổn trong cuộc sống đô thị. Vì vậy, việc xây dựng một nhà máy xử lý
rác thải cho thị xã Hà Đông là một yêu cầu cần thiết.
Là mét sinh viên chuyên ngành kinh tế môi trường, với mong muốn
được vận dụng những kiến thức đã học để đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội,
môi trường của dự án xây dựng nhà máy xử lý rác thải cho thị xã Hà Đông
nên em chọn đề tài: “ Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội của dự án xây
dựng nhà máy xử lý rác thải của thị xã Hà Đông”.
2. Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất thải, quản lý chất thải và phân tích
chi phí – lợi Ých (CBA).
- Nghiên cứu thực trạng rác thải và thực trạng thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải của thị xã Hà Đông.
- Đánh giá hiệu quả của dự án xây dựng nhà máy xử lý rác thải của thị
xã Hà Đông thông qua phân tích chi phí – lợi Ých.

chuyên đề của em không thể tránh được những thiếu sót, em rất mong các
thầy, các cô chỉ bảo thêm để em có thể hoàn thiện chuyên đề của mình một
cách tốt hơn.
Lời cam đoan: “ Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản
thân thực hiện, không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người
khác, nếu sai tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường”.
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2003
Ký tên
Họ tên: Nguyễn Quang Hoà
Nội dung nghiên cứu
Chương I: Những vấn đề lý luận chung
I. Cơ sở lý luận về quản lý rác thải.
1.1. Quản lý môi trường.
1.1.1. Khái niệm môi trường.
Môi trường là khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau.
Theo S. V. Kalesnik ( 1959, 1970 ) thì: “Môi trường chỉ là một bộ phận
của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài
người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ
một cách trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi
nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”.
Viện sĩ I. P. Gheraximov (1972) đã đưa ra định nghĩa môi trường như
sau: “Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao động, của cuộc sống
riêng tư và nghỉ ngơi của con người”, trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở
cần thiết cho sù sinh tồn của nhân loại.
Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là: “
Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xunh
quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai
thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của
con người”.

khỏi trạng thái cân bằng trước đó và hệ lại có xu hướng lập lại thế cân bằng
trước đó và hệ lại có xu hướng lập lại thế cân bằng mới. Đó là bản chất của
quá trình vận động và phát triển của hệ môi trường. Vì thế, cân bằng động là
một đặc tính cơ bản của môi trường với tư cách là một hệ thống. Đặc tính cần
được tính đến trong hoạt động tư duy và trong tổ chức thực tiễn của con
người.
* Tính mở:
Môi trường, dù với quy mô lớn nhỏ như thế nào, cũng đều là một hệ
thống mở. Các dòng vật chất, năng lượng và thông tin liên tục “chảy” trong
không gian và thời gian (từ hệ lớn đến hệ nhỏ, từ hệ nhỏ đến hệ nhỏ hơn và
ngược lại: từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ thế hệ này sang thế hệ nối
tiếp…). Vì thế, các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu
dài và cần được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp
tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới với một tầm nhìn xa, trông
rộng vì lợi Ých của thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau.
* Khả năng tự tổ chức và tự điều chỉnh:
Trong hệ môi trường, có các phần tử cơ cấu và vật chất của chúng. Các
phần tử này có khả năng tự tổ chức lại hoạt động của mình và tự điều chỉnh
để thích ứng với những thay đổi bên ngoài nhằm hướng tới trạng thải ổn định.
Đặc tính cơ bản này của hệ môi trường quy định tính chất, mức độ,
phạm vi can thiệp của con người, đồng thời tạo mở hướng giải quyết căn bản,
lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay (tạo khả năng tự phục
hồi của các tài nguyên sinh vật đã suy kiệt, sử dụng hợp lý tài nguyên không
thể phục hồi, xây dựng các hố chứa và các vành đai xanh…).
1.1.2. Khái niệm về quản lý môi trường.
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích
của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành
các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi
trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được
mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện

theo đuôỉ một chính sách phát triển bền vững, nhưng đó là một tất yếu lịch sử.
Phát triển bền vững có thể được xem là một tiến trình đòi hỏi sự tiến
triển đồng thời của cả bốn lĩnh vực: kinh tế, xã hội, môi trường và kỹ thuật
với những mục tiêu cụ thể của từng lĩnh vực. Giữa bốn lĩnh vực này có mối
quan hệ tương tác chặt chẽ và hành động trong lĩnh vực này có thể thúc đẩy
các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, nếu muốn phát triển kinh tế theo kiểu bền
vững, thì không chỉ chú ý đến những vấn đề khó khăn nan giải về môi trường
hoặc dùa vào sự huỷ hoại tài nguyên thiên nhiên, và sự phát triển cũng không
thể thành công, nếu như không có sự phát triển đồng thời tài nguyên nhân
văn, nó cũng đòi hỏi sự chuyển dịch cơ sở công nghiệp hiện tại, phát triển và
quảng bá những kỹ thuật và công nghệ thân thiện với môi trường.
1.2. Quản lý rác thải.
1.2.1. Khái niệm rác thải.
Trong quá trình sản xuât và sinh hoạt của con người, một bộ phận vật
liệu không hoặc không còn giá trị sử dụng nữa được gọi chung là chất thải.
Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác mà mắt thường
không nhìn thấy được.
Rác thải là chất thải ở dạng rắn, do các hoạt động của con người tạo ra,
thông thường nó là những sản phẩm ngoài ý muốn của con người.
1.2.2. Rác thải đô thị.
* Nguồn khối lượng và thành phần rác thải đô thị.
Chất thải đô thị được chia làm ba loại chính: chất thải sinh hoạt, chất
thải thương mại và của các công xưởng, rác thu gom trên đường phố và nơi
công cộng. Chất thải công nghiệp gồm đồ thải sinh ra từ các công đoạn xử lý
và do các chất khí, chất lỏng đông đặc lại tạo ra, chất thải xây dựng chủ yếu là
chất thải trơ do các hoạt động phá huỷ xây dựng tạo ra.
Phần lớn chất thải rắn công nghiệp không gây ra nguy hại nhiều cho
sức khoẻ hay môi trường hơn chất thải thành phố. Tuy nhiên, một tỷ lệ tương
đối nhỏ chất thải công nghiệp cũng là chất thải nguy hiểm tiềm tàng trong tự
nhiên và gây ra các rủi ro không theo một tỷ lệ nào, nếu không xác định được,

thiết bị có công suất lớn.
Các trạm vận chuyển gồm hai loại chính: loại thứ nhất là sử dụng thùng
chứa nhỏ dễ đổ bằng nhân công, loại thứ hai là bãi chia tách ra từng khâu theo
nhiều bậc.
Một trạm vận chuyển không chỉ là nơi chuyên chở chất thải từ hình
thức này sang hình thức khác mà còn là xử lý nén chặt, phân loại và tái sinh.
Khối lượng chất thải cần chôn lấp có thể giảm đáng kể ở trạm vận chuyển.
Tuy nhiên các nhà lập chính sách cần xem xét liệu trạm vận chuyển có đóng
vai trò gì trong quản lý chất thải rắn, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
Rõ ràng việc thu gom, vận chuyển tạo ra một thách thức rất lớn về tổ
chức và gánh nặng tài chính trong hệ thốn quản lý chất thải rắn. Tuy nhiên,
cần phải cân nhắc cẩn thận tuyến chuyên chở, các phương tiện hoạt động tối
ưu nhằm phát triển hệ thống thu gom và vận chuyển có hiệu quả.
1.2.3. Tác động của rác thải đến kinh tế, môi trường và sức khoẻ
cộng đồng.
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về mọi mặt của xã
hội, chất lượng cuộc sống ngày càng tăng lên, và cùng với điều đó là lượng
rác thải ngày càng tăng lên.
Xét về kinh tế, các nước đều phải đầu tư rất nhiều nguồn lực vào việc
xử lý rác thải: nguồn vốn, sức lao động và đất đai. Rác thải làm giảm diện tích
đất sử dụng vì chúng có thể tích rất lớn. Hầu hết các phương pháp xử lý rác
thải đều cần sử dụng diện tích đất lớn ngoại trừ giải pháp chế biến rác thành
phân hữu cơ, giải pháp này tốn Ýt đất và là phương pháp hữu hiệu nhất hiện
nay. Tuy nhiên phương pháp này có khả năng ảnh hưởng tới sức khoẻ của
người lao động trực tiếp.
Nếu xét về khía cạnh môi trường, rác thải ảnh hưởng trực tiếp đến môi
trường đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước và môi trường đất.
Rác thải phân huỷ tạo ra các khí độc như mêtan, nitơ, sunphuarơ…
khuếch tán vào bầu khí quyển làm vấn đục không khí.
Môi trường đất là nơi lưu giữ rác thải, nên thường xuyên tiếp nhận

2
…, diệt các côn trùng sinh bệnh: ruồi, muỗi…, tiếp tục chôn lấp các líp
tiếp theo. Khi đạt độ cao chôn lấp tính toán mới phủ đất dày từ 80 – 100 cm
để kết thúc ô chôn lấp và chuyển sang ô khác.
Trong bãi chôn lấp có bố trí hệ thống ống thoát khí gas, hệ thống ống
châm lỗ thu gom nước rác, hệ thống thu nước mưa khi bãi chôn lấp chưa hết
diện tích, chúng nối với mạng ống chung đưa về bể điều hoà rồi bơm lên khu
xử lý.
Ưu điểm:
+ Quy trình công nghệ đơn giản, chi phí vận hành, quản lý thấp.
+ Chi phí đầu tư ban đầu không lớn lắm.
+ Hạn chế được sự ô nhiễm không khí do quá trình phân huỷ sinh học
thải ra ngoài tự nhiên.
+ Kiểm soát được nước do rác phân huỷ và giảm phần lớn lượng vi
trùng gây bệnh trong rác.
Nhược điểm: nhược điểm lớn nhất của phương pháp chôn lấp là chiếm
diện tích đất rất lớn. Ngoài ra, trong quá trình bãi chôn lấp hoạt động việc hạn
chế nước mưa vào rác gặp nhiều trở ngại phức tạp, vẫn còn một lượng lớn
nước thải không thu hồi được ngấm vào các mạch nước ngầm gây ô nhiễm
cho môi trường xunh quanh. Mặt khác, thời gian phân huỷ rác rất lâu, đặc biệt
là các chất khó phân huỷ như: đồ nhựa, thuỷ tinh, vải…
Rác hữu cơ khi phân hủy sản sinh ra gas là hỗn hợp khí nhẹ nên luôn
luôn có xu hướng tìm một lối thoát ra ngoài. Thành phần của khí gas gồm có
55% khí metan CH
4
và 45% khí CO
2
và hơi nước. Lượng khí gas thoát ra
manh lại một mùi hôi vô cùng khó chịu. Cùng với sự ô nhiễm không khí, việc
sản sinh ra khí gas bên trong nội bộ bãi rác tạo nên một nguy cơ phát nổ nguy

gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt
rác sinh hoạt như là một dịch vụ phóc lợi xã hội của toà dân ( giá thành xử lý
rác bằng phương pháp này thường cao gấp 8 – 10 lần so với phương pháp
chôn lấp hợp vệ sinh ). Năng lượng phát sinh có thể tận dụng cho các lò hơi,
lò sưởi hoặc các công việc sử dụng nhiệt lượng khác. Tuy nhiên, đốt rác sinh
hoạt bao gồm nhiều chất khác nhau dễ sinh khói độc, cac chất dioxin… gây
ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, do đó mỗi lò đốt phải được trang bị
một hệ thống xử lý khói và bụi rất tốn kém. Hiện nay ở các nước Châu Âu
đang có xư hướng giảm việc đốt rác vì hàng loạt các vấn đề kinh tế cũng như
vệ sinh môi trường. Phương pháp này chỉ còn áp dụng rộng rãi trong việc xử
lý rác thải bệnh viện hoặc một số loại rác thải công nghiệp mà các phương
pháp khác không có khả năng xử lý triệt để.
Ưu điểm:
+ Xử lý triệt để vi trùng lây bệnh có trong rác.
+ Chiếm diện tích đất nhỏ nhất so với các phương pháp xử lý khác.
+ Không gây ô nhiễm nước ngầm hoặc nước mặt do quá trình phân huỷ
sinh học rác thải ngoài tự nhiên.
+ Có thể thu hồi được nhiệt lượng để sản xuất điện, cung cấp nhiệt…
Nhược điểm:
+ Chi phí đầu tư ban đầu cao ( ước tính cần chi 5 tỷ đồng cho một lò
đốt đủ tiêu chuẩn vệ sinh môi trường có công suất 5 tấn rác/ngày ).
+ Quy trình công nghệ phức tạp, chi phí vận hành, quản lý cao.
+ Nếu xử lý không tốt khói và tro muội của lò bay ra sẽ gây ô nhiễm
không khí ( muốn giảm thiểu được nhược điểm này cần phải lắp thêm các hệ
thống lọc bụi, khử mùi, khử khí… làm cho chi phí đầu tư ban đầu quá lớn,
vận hành khó khăn tốn kém ).
* Công nghệ đúc Ðp, hoá rắn.
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập trung
thu gom vào nhà máy. Tại đây, rác thải được phân loại bằng phương pháp thủ
công trên băng tải: các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như kim loại,

Ở các nước đang
phát triển.
2 Chế biến
phân
compost
Chi phí thấp,
Diện tích đất Ýt,
Tận dụng được các
chất hữu cơ trong
rác thải theo chu
trình sinh thái.
Có khả năng
ảnh hưởng đến
sức khoẻ của
người lao động
trực tiếp.
Ở các nước đang
phát triển, nước
nông nghiệp.
3 Thiêu đốt Ýt nguy cơ ô
nhiễm môi trường (
khi được trang bị
đồng bộ cả hệ
thống xử lý khói,
bụi và cả thiết bị
làm vật liệu xây
dựng.
Chi phí cao nhất Cho rác công
nghiệp, rác y tế và
rác thải độc hại

bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội.
Nói rộng hơn, phân tích chi phí – lợi Ých là một khuôn khổ nhằm tổ
chức thông tin, liệt kê những thuận lợi và bất lợi của từng phương án, xác
định các giá trị kinh tế có liên quan, và xếp hạng các phương án dùa vào giá
trị kinh tế.
2.2. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên ( CVM ).
Thu gom r¸c VËn chuyÓn r¸c
Xö lý r¸c
Nguån ph¸t sinh
Phần lớn các dự án tạo ra các chi phí và lợi Ých không được đem trao
đổi trên thị trường. Những kết quả này không có giá cả thị trường và do đó
chúng ta gọi là các chi phí và lợi Ých “không có giá” ( hoặc không được định
giá ). Để xác định những chi phí và lợi Ých “không có giá” này chúng ta có
một số phương pháp riêng và một trong những phương pháp đó là phương
pháp đánh giá ngẫu nhiên.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) bá qua nhu cầu tham khảo
giá thị trường bằng cách hỏi thẳng từng cá nhân một cách rõ ràng để đánh giá
tài sản môi trường. Mặc dù có rất nhiều biến tố của kỹ thuật này, phương cách
thường được áp dụng nhất là phỏng vấn các gia đình hoặc tại nhà họ và hỏi
cái giá sẵn lòng trả (WTP) của họ cho việc bảo vệ môi trường, kỹ thuật này
dùa trên nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền(UPP).Về thực chất nguyên tắc
UPP có thể được sử dụng như là một định hướng hỗ trợ nhằm đạt được các
mục tiêu môi trường, nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục
tiêu môi trường thì chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả
về môi trường.
Các nhà phân tích có thể tính toán giá trị WTP trung bình của những
người trả lời phỏng vấn và nhân nó với tổng số người thụ hưởng địa điểm hay
tài sản môi trường đang xtôi xét, để có được tổng giá trị ước tính của tài sản
đó.
Một ưu điểm của phương pháp CVM là trên lý thuyết nó có thể được sử

tiền WTP sau cùng của người trả lời.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG RÁC THẢI CỦA
THỊ XÃ HÀ ĐÔNG
I. Tổng quan về thị xã Hà Đông.
1.1. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Vị trí địa lý.
Thị xã Hà Đông nằm dọc trên trục quốc lé 6 từ thủ đô Hà Nội đi Hoà
Bình và nằm liền kề thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 12 km về phía
đông. Quá trình đô thị hoá các khu dân cư phát triển dọc theo quốc lé 6 đã nối
liền Hà Đông với thủ đô Hà Nội.
Thị xã Hà Đông được giới hạn bởi:
Phía Bắc giáp xã Đại Mỗ, Trung Văn thuộc huyện Từ Liêm ngoại
thành Hà Nội.
Phía Nam giáp xã Phú Lương thuộc huyện Thanh Oai.
Phía Tây giáp xã Yên Nghĩa, Yên Nội huyện Hoài Đức.
Phía Đông giáp xã Thanh Liệt, Yên Kiểm, Hữu Hoà huyện Thanh Trì
Hà Nội.
Thị xã Hà Đông có 5 phường:
- Quang Trung
- Nguyễn Trãi
- Yết Kiêu
- Văn Mỗ
- Phóc La
và 4 xã ngoại thị là:
- Vạn Phóc
- Văn Khê
- Hà Cầu
- Kiến Hưng
1.1.2. Điều kiện tự nhiên.
Tính đến năm 2001 thì quy mô diện tích của thị xã Hà Đông là 1626 ha.

tiểu thủ công nghiệp. Riêng trong khu vực thị xã có 44 cơ sở công nghiệp -
tiểu thu công nghiệp, trong đó có 8 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài với các
sản phẩm: áo Jacket xuất khẩu, đồng hồ, ổ khoá xe máy, đồ chơi trẻ em, lắp
ráp xe máy, đá sẻ ốp lát, bê tông trộn sẵn…
Các sản phẩm chủ yếu của tiểu thủ công nghiệp là: than tổ ong, cửa
xếp, dao kéo, gạch, lốp xe đạp, lọ đựng thuốc, lụa tơ tằm, bia, thảm, đồ méc,
mũ, khăn mặt, chi tiết xe máy…
Tổng GDP của các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp xấp xỉ
222,71 tỷ đồng, chiếm 57,45% trong tổng GDP của thĩ xã.
Mạng lưới ngành thương mại, dịch vụ của thị xã Hà Đông phát triển
rộng khắp trên toàn địa bàn, từ các doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp
địa phương, doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh, các hộ gia đình tự sản
xuất. Hàng hoá giao lưu thuận lợi, phong phú, giá cả tương đối ổn định đáp
ứng đòi hỏi nhu cầu người tiêu dùng. Tổng GDP ngành dịch vụ là 153 tỷ đồng
chiếm 36,96% tổng GDP toàn thị xã.
Hà Đông là nới giàu tiềm năng về thiên nhiên cũng như về nguồn lực
lao động, là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm dồi dào không chỉ riêng
cho thị xã mà cho cả thị trường rông lớn Hà Nội và các vùng phụ cận. Tính
đến năm 1997 toàn thị xã Hà Đông có 1519,4 ha đất canh tác nông nghiệp,
trong đó diện tích cấy lúa là 1281,52 ha. GDP ngành nông nghiệp là 23,142 tỷ
đồng chiếm 5,59% tổng GDP toàn thị xã.
1.2.2. Tình hình xã hội.
Hiện tại thị xã có 28 trường học các cấp trong đó có 9 trường mẫu giáo
mầm non, 9 trường tiểu học, 7 trường trung học phổ thông cơ sở, 3 trường
phổ thông trung học. Số lượng học sinh khoảng 27.439 người, trong đó học
sinh phổ thông là 25.439 người, tính trung bình có 2.680 học sinh/vạn dân.
Nằm trên địa bàn khu vực nội thị của thị xã có 11 trường Đại học và
trung học chuyên nghiệp: Trường THXD sè 1, Học Viện Quân Y 103, Học
Vin Chớnh Tr, Trng trung hc Y t, Trng nhc ho, Trng h Kin
trỳc, Trng Bu chớnh vin thụng, Trng Tu Tnh, Trng Nghip v cỏn

thành các loại sau:
- Rác thải sinh hoạt
- Chất thải công nghiệp
- Chất thải xây dựng
- Chất thải bệnh viện
Chất thải sinh hoạt là các chất thải phát sinh từ các hoạt động của con
người ở khu dân cư, các khu dịch vụ, thương mại, du lịch và các hệ thống như
giao thông, cấp thoát nước.
Chất thải công nghiệp là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Chất thải xây dựng là các phế liệu như đất, đá, gạch ngãi, bê tông vỡ do
hoạt động xây dựng thải ra.
Chất thải bệnh viện là chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn
trong các bệnh viện thải ra.
Theo ước tính của công ty môi trường đô thị Hà Đông thì khối lượng
rác thải của thị xã Hà Đông năm 2001 như sau:
Bảng 2.1. Khối lượng rác thải của thị xã Hà Đông năm 2001
Nguồn
Khối lượng rác thải Dung
trọng
(Tấn/m
3
)
Khối lượng rác
theo thể tích
Tấn/năm Tấn/ngày m
3
/năm m
3
/ngày

Thành phần hoá học Tỷ lệ ( % )
1 Độ Èm 44,2
2 Cácbon 31,3
3 Đạm tổng số 1,5
4 Phốt pho 2,1
5 Kali 1,4
6 Canxi 8,2
7 Natri 0,9
8 Magiê 0,32


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status