Lập kế hoạch chiêu ký túc xá sinh viên Khánh Toàn trong năm 2010 - Pdf 27


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ NGUYỄN DIỄM HƯƠNG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở PHƯỜNG MỸ
PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH
AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

KHÓA HỌC: 2006-2010 An Giang, 2010

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

cảm ơn chân thành đến:
- Quý thầy cô trường đại học An Giang. Đặc biệt là quý thầy cô trong khoa Lý
Luận Chính Trị đã trang bị kiến thức và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này.
- Cô Nguyễn Thị Vân đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời
gian thực hiện khóa luận.
- Quý cô, chú đang công tác ở Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thu thập nguồn tài liệu phục vụ
tốt cho quá trình nghiên cứu và viết khóa luận.
Chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lê Nguyễn Diễm Hương
MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài…………………………………………………………… 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài…………………………...…………………… 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận……………………………… 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu khóa luận……………………………….4
5. Phương pháp nghiên cứu khóa luận ………………………………………..4
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học của khóa luận ……………………. 4
7. Kết cấu của khóa luận……………………………………………………… 5
PHẦN NỘI DUNG…………….............................................................. 7
CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO……………………………..……………… 7
1.1. Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo……………... 7
1.1.1. Quan niệm về nghèo đói, ngưỡng cửa nghèo………...……..7
1.1.1.1. Quan niệm hiện tại về nghèo đói…………………………..7
1.1.1.2. Khái niệm ngưỡng cửa nghèo……………………………. 12

tác xóa đói, giảm nghèo……………………………………………………… 36
2.2.2.2. Một số chủ trương, giải pháp của thành phố Long Xuyên về
công tác xóa đói, giảm nghèo……………………………………………….. 40
2.2.2.3. Một số chủ trương, giải pháp của phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo…………. 42
2.2.3. Những thành tựu và hạn chế thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
từ năm 2006 đến năm 2009………………………………………..……..… 45
2.2.3.1. Thành tựu………………………………………………… 45
2.2.3.2. Hạn chế.………………………………………………….. 48
2.2.3.3. Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế………………. 49
2.3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố
Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới…………………....….. 51
2.3.1. Mục tiêu chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà
nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang………………………………………………………………………....51
2.3.2. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới………...… 52
2.3.2.1. Giải pháp chung………………………………………….. 52
2.3.2.2. Giải pháp về kinh tế……………………………………… 54
2.3.2.3. Giải pháp về các chính sách……………………………… 56
PHẦN KẾT LUẬN…………………………………………………… 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


trong cả nước. Trong giai đoạn 1992-1997, phong trào xóa đói, giảm nghèo đã
được các địa phương và các tổ chức đoàn thể phát động để trợ giúp hộ nghèo
về đời sống và sản xuất. Phong trào đã đạt được những kết quả đáng kể, giảm
tỷ lệ hộ nghèo đói trong cả nước từ 60% năm 1990 xuống còn 12,3% năm
2009. Nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo thành công đã xuất hiện và được
nhân rộng. Sự phối hợp, lồng ghép các chương trình kinh tế-xã hội khác với
xóa đói, giảm nghèo bước đầu đã đem lại kết quả theo ước tính khoảng 20% - 2 -
hộ nghèo đã được hưởng lợi từ các Chương trình 120, 327, nước sạch nông
thôn, y tế, giáo dục…, cuộc sống của đại bộ phận dân cư bước đầu được cải
thiện, đặc biệt là nhóm hộ nghèo. Từ những kết quả đó, theo đánh giá của Liên
Hiệp Quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói, giảm
nghèo trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ.
Do đó, để tập trung được nguồn lực triển khai một cách đồng bộ,
thống nhất và hiệu quả, xóa đói, giảm nghèo phải trở thành một Chương trình
mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất
nước nhằm hỗ trợ trực tiếp xã nghèo, người nghèo những điều kiện cần thiết
để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi
đói nghèo, tạo môi trường thuận lợi xóa đói, giảm nghèo bền vững. Chính vì
vậy ngày 23/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 (gọi là
chương trình 133) và xác định đây là một trong mười Chương trình mục tiêu
quốc gia, coi đây là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà
nước. Đến 9/2001 tiếp tục phê duyệt Chương trình xóa đói, giảm nghèo và
việc làm giai đoạn 2001-2005 (gọi là Chương trình 143). Đảng ta cũng đã
khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ bản để kết
hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc
thực hiện xóa đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để phát

ở tại địa phương em-phường Mỹ Phước. Từ đó, có những giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống
cho người dân ở địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận.
3.1. Mục đích nghiên cứu khóa luận.
- Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo
của Đảng, Nhà nước tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang từ năm 2006 đến năm 2009.
- Từ tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm
nghèo tôi đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính quyền
và nhân dân địa phương làm tốt hơn nữa chính sách xóa đói, giảm nghèo ở
phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm
tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận.
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận cần thực hiện:
- Trình bày cơ sở lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và chủ
trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ta.
- Phân tích thực trạng xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước
ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang - 4 -
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính
quyền và nhân dân làm tốt hơn nữa trong công tác xóa đói, giảm nghèo ở
phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu khóa luận.
4.1. Đối tượng nghiên cứu khóa luận.
Xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên,
tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009. Thực trạng và giải pháp.

GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO.
1.1. Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.1. Quan niệm về nghèo đói, ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.1. Quan niệm hiện tại về nghèo đói.
1.1.1.2. Khái niệm ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.3. Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam
về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.2. Nhận thức về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.2.1. Tiêu chí đánh giá nghèo đói.
1.1.2.2. Chuẩn nghèo đói.
1.2. Chủ trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2.1. Một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2.2. Công tác thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở
nước ta.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN
GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009.
2.1. Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ
Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay.
2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2.1.2. Tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang. - 6 -
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ


- 7 -
PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI,
GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO.
1.1. Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo.
1.1.1 Quan niệm về nghèo đói; ngưỡng cửa nghèo.
1.1.1.1 Quan niệm hiện tại về nghèo đói.
“Vì sao người ta lại quan tâm đến vấn đề nghèo đói?”. Trước những năm
1990 người ta quan tâm nhiều đến tăng trưởng kinh tế, kinh tế càng tăng
trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu
quả của nó ngày một tốn kém hơn. Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn đề
nghèo đói nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quốc tế quan tâm. Đến
những năm đầu tiên thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo
và đang phát triển xây dựng chiến lược giảm nghèo toàn diện và gần 30 tổ
chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương xây dựng chiến
lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống nghèo đói.
Quan niệm về nghèo đói hay nhận thức về nghèo đói của từng quốc gia
hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể,
tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là
thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc
gia.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy Ban kinh tế-xã hội khu vực Châu
Á-Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok-Thái Lan vào tháng 9 năm
1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo khổ
là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu

ngôn và không có quyền lực.
 Năm 2000, Ngân hàng Thế giới đưa ra tháp tiếp cận khái niệm về
nghèo đói như sau:
Tiêu dùng
Tiêu dùng + tài sản
Tiêu dùng + tài sản + con người
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị
Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị + bảo vệ - 9 -
Qua tháp tiếp cận khái niệm về nghèo đói ta thấy tiếp cận nghèo đói
trước hết là về tiêu dùng có nghĩa là sẽ xem xét vấn đề tiêu dùng của con
người, thu nhập có đủ chi tiêu cho những nhu cầu thiết yếu hàng tháng hay
không. Sau đó, đến tài sản với mức thu nhập, chi tiêu đó họ đã có hay tích lũy
được những gì và như vậy có đảm bảo cho cuộc sống của mình hay không. Từ
những yếu tố đó, ảnh hưởng đến văn hóa-xã hội như thế nào, nghĩa là khi vấn
đề tiêu dùng, tài sản cũng như chất lượng cuộc sống của con người được đảm
bảo thì văn hóa-xã hội phát triển, các vấn đề về an sinh xã hội, việc làm tốt
hơn, đảm bảo hơn, có nền văn hóa tiên tiến. Và như vậy, chính trị cũng ổn
định, góp phần giữ vững an ninh đất nước, hòa bình thế giới.
Liên Hiệp Quốc đã phân chia đói nghèo thành hai loại: đói nghèo tuyệt
đối và đói nghèo tương đối.
Đói nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống như ăn mặc,
ở, đi lại, y tế, giáo dục…
Đói nghèo tương đối: đó là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời. Nói
cách khác, đói nghèo tương đối là mức thu nhập của một người hoặc hộ gia
đình thấp hơn so với mức thu nhập của một nước nơi người đó hoặc hộ đó

khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản, trực diện hơn. Một số cuộc tham vấn
có sự tham gia của người dân họ nói rằng: “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay
con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà tôi thì biết,
ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài
sân”. Một số người khác thì trả lời: “nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng
tranh tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không
có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa
bệnh…”
Các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người
nghèo:
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành
cho con người.
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
- Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng.
Để giúp hiểu rõ hơn về nghèo đói và mối quan hệ của nghèo đói với tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội tại lớp tập huấn cán bộ xóa đói giảm nghèo
cấp xã do Bộ Lao động-Thương binh và xã hội đã đưa ra: Vòng luẩn quẩn của
nghèo đói và mối quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
như sau: [6, tr.12]
- 11 -
Nghèo đói

Bệnh tật Gia tăng dân số

Môi trường sống Suy dinh dưỡng

Tệ nạn xã hội Thất học

Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng
bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn,
chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn,
khuyến nông-lâm-ngư, chính sách trong giáo dục-đào tạo, y tế, giải quyết đất
đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế.
1.1.1.2. Khái niệm ngưỡng cửa nghèo.
Việc nhận diện ai là người nằm ở ngưỡng cửa nghèo luôn là vấn đề khó
khăn. Vậy ngưỡng nghèo được xác định như thế nào? Về phương pháp luận
tiếp cận, người ta có thể xác định ngưỡng nghèo theo thu nhập hay theo chi
tiêu. Tuy nhiên phương pháp được sử dụng nhiều hơn là tiếp cận theo chi tiêu.
Vì chi tiêu của hộ gia đình là chỉ số liên quan chặt chẽ đến phúc lợi hơn là thu
nhập. Và số liệu về thu nhập thường là không chính xác, đặc biệt ở các nước
đang phát triển (vì có một bộ phận những người lao động là tự hành nghề).
Phương pháp của Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc tiếp cận ngưỡng
cửa nghèo đói: là dựa vào ngưỡng chi tiêu tính bằng đô la mỗi ngày. Ngưỡng
nghèo thường dùng hiện nay là 1 đô la và 2 đô la/ngày. Đây là ngưỡng chi tiêu
có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người,
mức chuẩn đó là 2.100 calo/người/ngày. Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng
nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo đói ở mức thấp). Vì mức chi tiêu này chỉ
đảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những
hàng hóa phi lương thực. Những người có mức chi tiêu dưới mức cần thiết để
đạt được 2.100 calo/người/ngày gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ngưỡng nghèo như
sau:
Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương
pháp của Tổng cục thống kê). Phương pháp này đã xác định hai ngưỡng
nghèo:
- Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua được một số
lương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng.
- Ngưỡng nghèo thứ hai: thường được gọi là ngưỡng nghèo chung,

càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ thì Người kêu gọi đồng bào cả nước :
“Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó để cứu dân
nghèo” [13;31] và Hồ Chí Minh chính là người đầu tiên thực hiện lời kêu gọi
này. Bên cạnh đó, Người còn viết thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói,
hô hào nhân dân chống nạn đói, coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống
ngoại xâm. Trong thư gửi Nông gia Việt Nam, Bác khẩn thiết kêu gọi: “Tăng
gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!Đó là cách thiết
thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”. [13, tr.116]. - 14 -
Tư tưởng xóa đói, giảm nghèo của Người còn được thể hiện qua bài
“Thanh Hóa kiểu mẫu”. Trong bài viết này, Người đã nêu lên mục đích và
cách làm cụ thể để xóa đói, giảm nghèo.
Mục đích:

Làm cho nghèo thì đủ ăn
Người đủ ăn thì khá giàu
Người khá giàu thì giàu thêm
Người nào cũng biết chữ
Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước.
Cách làm:

Đem tài dân sức dân, của dân làm lợi cho dân. Không phải Chính phủ
xuất tiền ra làm. Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động. Vì vậy, những kế
hoạch địa phương có thể tự thực hành được, cứ giúp cho đồng bào làm dần
dần, như hợp tác xã, v.v…
Việc gì cũng phải từ việc dễ đến việc khó, từ việc gấp đến việc hoãn,
từ việc ít tốn tiền đến việc tốn nhiều tiền. Nói tóm lại: kế hoạch phải thiết thực,
phải làm được. Chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu nhưng không

là tháng cao điểm vì người nghèo.
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh thì xóa đói, giảm nghèo là sự nghiệp
mang tính lâu dài, là sự nghiệp chung của toàn xã hội. Trong đó, Đảng và Nhà
nước giữ vai trò quan trọng trong việc đề ra những chủ trương, chính sách
chăm lo đời sống cho nhân dân và phải bảo đảm thực hiện; Đảng và Nhà nước
phải hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân biết cách sản xuất và thực hành tiết kiệm;
Đảng và Chính phủ phải biết: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho
dân”, có như vậy thì công cuộc xóa đói, giảm nghèo của chúng ta mới có hiệu
quả .
Kế thừa và thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta đã có
những chủ trương, chính sách về vấn đề xóa đói, giảm nghèo và trở thành tư
tưởng nhất quán thể hiện trong các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
VIII, IX và X của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ nhất, xóa đói, giảm nghèo được coi là Chương trình cấp bách
nhất, cần giải quyết trước hết so với các mục tiêu phúc lợi xã hội khác. Xóa
đói giảm nghèo được giải quyết là một tín hiệu, đồng thời cũng là một bước
thiết thực nhất nhằm thực hiện vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên
trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Các chính sách phát triển kinh tế-xã
hội đều phải có mục tiêu hướng vào người nghèo, tạo động lực và tiền đề cho
xóa đói, giảm nghèo.
Thứ ba, xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của phát triển kinh
tế-xã hội bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo - 16 -
đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, hạn chế tốc độ gia tăng tốc độ khoảng
cách giàu nghèo.
Thứ tư, xã hội hóa công tác giảm nghèo. Nhà nước tạo cơ chế, chính
sách hỗ trợ, cộng đồng chia sẻ góp sức và nhất là bản thân người nghèo phải


- 17 -
Do chỉ số GDP/người (GNP/người) chỉ phản ánh thuần túy về mặt giá
trị chứ chưa phản ánh được đầy đủ chất lượng cuộc sống của dân cư nên từ
năm 1990, Liên Hiệp Quốc đã sử dụng chỉ số HDI để bổ sung cho chỉ số
GDP/người (GNP/người) trong việc đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc
gia. Chỉ số HDI là tiêu chí phản ánh tổng hợp trình độ phát triển của mỗi quốc
gia trên thế giới theo một mặt bằng thống nhất, nó phản ánh thành tựu phát
triển của một quốc gia trên ba phương diện: mức sống, trình độ giáo dục và
tuổi thọ trung bình của con người.
 Ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, tiêu chí đánh giá nghèo đói được xác định dựa trên cơ sở:
Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người trong một tháng hoặc một
năm được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi (thường lấy gạo để
đánh giá). Tiêu chí này được xem là yếu tố cơ bản nhất để xác định tình trạng
đói nghèo ở nước ta trong những năm qua.
Thứ hai, điều kiện dinh dưỡng, y tế, giáo dục…là các tiêu chí bổ
sung để đánh giá tình trạng đói nghèo.
Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc đưa ra tiêu chí xác định hộ dân tộc thiểu
số đặc biệt khó khăn ở các xã khu vực III và khu vực II thuộc Chương trình
phát triển kinh tế-xã hội xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng xâu, vùng xa
(gọi tắt là Chương trình 135), có thể khái quát như sau: là những hộ thuộc diện
nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, thiếu đất
sản xuất và không có tài sản hoặc có những giá trị rất thấp.
Ngoài tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ dân tộc khó khăn, Việt Nam còn
có tiêu chí xác định xã đặc biệt khó khăn và tiêu chí xã nghèo. Với 5 tiêu chí
sau:
- Vị trí địa lý của xã ở xa trung tâm kinh tế-xã hội, xa đường quốc lộ,
giao thông đi lại khó khăn.
- Môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, nhiều tập

các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm
không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo.
Theo quan niệm trên, Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thang đo
nghèo đói như sau:
- Đối với nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu
nhập dưới 0,5 USD/ngày.
- Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ngày.
- Các nước thuộc Châu Mỹ la tinh và Caribe là 2 USD/ngày. - 19 -
- Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày.
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày.
Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông
thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra.
Tại thời điểm Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thì chuẩn nghèo
của Mỹ được xác định cho một hộ gia đình có 4 người gồm bố, mẹ và hai con
là 17.960 USD/năm tương đương với hơn 4.490 USD/người/năm hay 374
USD/người/tháng hay 12,47 USD/người/ngày. Tuy nhiên một số nghiên cứu
cho thấy với mức chi tiêu này vẫn không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản ở
Mỹ. Nhu cầu cơ bản đối với 1 hộ gia đình gồm 4 thành viên tính trung bình là
33.511 USD/năm.
Ở Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là 668 nhân dân tệ/người/năm (năm
2004) tính theo sức mua của đồng tiền tương đương 0,7 USD/ người /ngày.
 Ở Việt Nam
Quá trình xây dựng chuẩn nghèo đói
Từ 1993, chuẩn nghèo đói được xây dựng lần đầu dựa trên thu nhập
bình quân đầu người trong hộ gia đình và đã được điều chỉnh nhiều lần trong
các năm 1993, 1995, 1997, 2001, 2006 do sự biến động của nền kinh tế. Có
nhiều cơ quan quốc tế và trong nước cùng tham gia vào xác định chuẩn nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status