SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH CUỘC ĐỜI ĐỐI VỚI SINH VIÊN - Pdf 69

Chuyên đề tốt nghiệp
SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH CUỘC ĐỜI
ĐỐI VỚI SINH VIÊN
I. LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH
1. Khái niệm kế hoạch
Hiểu theo cách chung nhất, kế hoạch là sự thể hiện cách thức, giải pháp cho
một hoạt động nhằm đạt được mục đích và kết quả như mong muốn. Nó có thể được
xem như nhịp cầu nối hiện tại và vị trí mà chúng ta muốn đến trong tương lai. Tuy
nhiên, nếu xét về bản chất, kế hoạch chính là sự hướng tới tương lai. Tính chất đó của
kế hoạch được thể hiện ở hai nội dung như sau:
- Kế hoạch dự báo những gì sẽ xảy ra, đặt ra kết quả đạt được trong tương lai.
- Kế hoạch thực hiện việc sắp đặt các hoạt động của tương lai, các công việc cần làm
và thứ tự thực hiện các công việc để đạt được kết quả đã định.
Để thể hiện hai nội dung trên, các kế hoạch thông thường sẽ đi trả lời bốn câu
hỏi chính như sau :
- Chúng ta đang ở đâu ?
- Chúng ta muốn đi đến đâu ?
- Làm thế nào để chúng ta đi đến đó ?
- Làm thế nào để chúng ta luôn đi đúng hướng ?
Tương ứng với bốn câu hỏi đó là bốn giai đoạn của quá trình lập kế hoạch. Đó
chính là: Phân tích tổng quan; thiết lập và phân tích mục tiêu; lên kế hoạch hành
động; theo dõi, đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch và các kết quả đạt được. Bốn
giai đoạn này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Chúng ảnh
hưởng đến chất lượng và tính khả thi của kế hoạch đã được đưa ra.
2. Vai trò của công tác lập kế hoạch
Mỗi loại kế hoạch có vai trò cụ thể khác nhau và hiện nay, chưa có tài liệu nào
nói về vai trò của công tác kế hoạch nói chung. Tuy nhiên, căn cứ vào bốn câu hỏi
chính của công cụ kế hoạch, ta có thể nhận thấy vai trò của công tác lập kế hoạch như
sau:
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
1

lai cũng như các thách thức có thể xảy ra.
3.2. Bước 2: Trả lời câu hỏi chúng ta muốn đi tới đâu
Câu trả lời của câu hỏi chúng ta muốn đi tới đâu là quá trình thiết lập mục tiêu, chỉ
tiêu và những nhiệm vụ cần thực hiện cho bản kế hoạch. Thông thường, căn cứ vào thông
tin có đuợc từ quá trình phân tích tổng quan, người lập kế hoạch sẽ đề ra các cấp độ mục
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
2
2
Chuyên đề tốt nghiệp
tiêu khác nhau như mục tiêu cuối cùng (hay còn gọi là tác động), mục tiêu trung gian (hay
còn gọi là kết quả), mục tiêu đầu ra…Tuy nhiên, tất cả các mục tiêu đều cần tuân thủ một
nguyên tắc được rất nhiều người biết đến - nguyên tắc Smart :
- S - Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu.
- M - Measurable: Đo đếm được.
- A - Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình.
- R-Realistic: Thực tế, không viển vông.
- Time bound: Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.
3.3. Bước 3: Trả lời câu hỏi: Làm thế nào để chúng ta đi đến đó
Hành trình đi đến mục tiêu đã đặt ra luôn nhiều chông gai và yếu tố bất định.
Vì vậy, cần phải có một kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện mục tiêu đã đặt ra.
Trong kế hoạnh hành động này, người lập kế hoạch sẽ liên kết, huy động và cân đối
các nguồn lực. Đồng thời, người lập kế hoạch cũng sẽ xác định thứ tự ưu tiên, chia
nhỏ mục tiêu và lên kế hoạch thời gian cụ thể để con đường đi đến mục tiêu là con
đường phù hợp nhất.
3.4. Bước 4: Trả lời câu hỏi làm thế nào để chúng ta luôn đi đúng hướng
Là quá trình theo dõi, đánh giá nhằm thúc đẩy tiến độ thực hiện mục tiêu, phát
hiện những vấn đề có liên quan đến khả năng thực hiện mục tiêu đã đề ra để có
những điều chỉnh cho phù hợp. Việc theo dõi đánh giá này có thể được triển khai bởi
chính người lập kế hoạch hoặc một cá nhân, tổ chức khách quan, độc lập.
Trong một thế giới có tính biến dịch rất cao thì việc theo dõi và đánh giá là vô

lũy trong thời gian này.
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
4
4
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Những thay đổi về tâm lý
1.2.1. Đặc điểm chung của thời kỳ phát triển
Đặc trưng tâm lý quan trọng nhất của tuổi sinh viên là tình trạng chuyển tiếp
giữa cận dưới là sự chín muồi về sinh lý, cận trên là có nghề nghiệp ổn định và bắt
đầu bước vào một phạm vi hoạt động lao động nhất định. Đây cũng là giai đoạn có sự
biến đổi mạnh mẽ về động cơ và thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp.
Ở sinh viên, sự tự ý thức phát triển mạnh. Họ chú trọng đến việc tự đánh giá
hành động và kết quả tác động của mình, đánh giá về tư tưởng, tình cảm, phong cách
đạo đức, hứng thú, tư tưởng, động cơ hành vi, vị trí của mình trong các mối quan hệ
và trong cuộc sống nói chung. Thông qua tự đánh giá, sinh viên chủ động điều chỉnh
hành vi, hoàn thiện nhân cách, chủ động tổ chức toàn bộ thế giới nội tâm của mình.
1.2.2. Những mâu thuẫn chính phải giải quyết ở tuổi sinh viên
Thế giới nội tâm của sinh viên rất phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Có thể nêu ra
4 mâu thuẫn lớn sau đây:
- Mâu thuẫn giữa mơ ước với khả năng, điều kiện và kinh nghiệm để thực hiện mơ ước
đó.
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập sâu những môn mình yêu thích với yêu cầu thực
hiện toàn bộ chương trình học tập.
- Mâu thuẫn giữa số lượng thông tin đưa tới người sinh viên và thời gian để hiểu, để
suy ngẫm các thông tin đó.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu học tập và nhu cầu của đời sống giới trẻ.
1.2.3. Những véc-tơ phát triển của sinh viên
Chickering và Reiser (1993) cho rằng sự phát triển xã hội là cuộc hành trình
làm tăng tính phức tạp. Trong quá trình phát triển có những bản đồ (véctơ) "mô tả
những xa lộ chính để đi tới cá tính, tới sự đồng cảm với những cá nhân khác và

mục đích và kế hoạch đối với thiên hướng, những hứng thú cá nhân và sự sốt sắng
với các mối quan hệ.
c. Phát triển tính toàn vẹn
Các chuẩn mực ứng xử của sinh viên được biến đổi từ nước đôi, cứng nhắc và
tự cho mình là trung tâm trở thành các chuẩn mực:
- Ứng xử có nhân tính (quan tâm đến những sở thích của người khác).
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
6
6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Cá nhân hoá (khẳng định những giá trị cốt yếu của mình trong khi vẫn tôn trọng
những người khác).
- Thích hợp (làm cho những chuẩn mực ứng xử của cá nhân mình tương xứng với
những hành vi có trách nhiệm về mặt xã hội).
Như vậy, có thể thấy lứa tuổi sinh viên là giai đoạn chín muồi về sức khoẻ,
rảnh rỗi về thời gian và không chịu nhiều sức ép về tiền bạc. Đây cũng chính là giai
đoạn chuyển tiếp vô cùng quan trọng, là giai đoạn định hình, phát triển và ảnh hưởng
đến toàn bộ cuộc đời của mỗi người. Ở giai đoạn này, sinh viên đã bắt đầu được gia
đình, xã hội trao quyền quyết định về cuộc đời mình. Vì vậy, việc lên kế hoạch cuộc
đời cho chính mình và bắt tay vào thực hiện kế hoạch đó là rất cần thiết với sinh viên.
2. Sự cần thiết của việc lập kế hoạch cuộc đời với sinh viên
Theo như phân tích ở trên, việc lập kế hoạch cuộc đời sẽ mang lại rất nhiều lợi
ích cho sinh viên như : Giúp sinh viên hiểu được những giá trị nội tại của mình, sử dụng
thời gian hiệu quả, vượt qua những khó khăn trở ngại trong cuộc sống …Tuy nhiên
trong phạm vi đề án, xin phân tích tích lợi ích tổng quan ở tầm vĩ mô của việc lập kế
hoạch cuộc đời trên 3 khía cạnh: Tâm lý, Văn hoá – Xã hội và Kinh tế.
2.1. Lợi ích về mặt tâm lý
Mỗi người chỉ có một cuộc đời để làm chủ, đề sống theo đúng niềm đam mê
của mình. Chỉ khi theo đuổi ước mơ và những kế hoạch do chính mình đặt ra, mỗi
người mới có thể sống vui vẻ, mạnh mẽ hơn trong cuộc sống và phát huy hết năng

Đương nhiên, không phải tất cả sinh viên nếu không lập kế hoạch cuộc đời
đều trở nên như vậy ; và không phải lập kế hoạch cuộc đời sẽ chắc chắn giúp sinh
viên tránh được toàn bộ những khó khăn trở ngại như đã kể ở trên. Tuy nhiên, hoạt
động đó luôn là điều kiện cần, là hành trang không thể thiếu khi ta muốn đi tới đích là
một cuộc sống thành công, khoẻ mạnh và hạnh phúc.
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
8
8
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2. Lợi ích về mặt văn hoá - xã hội
Lập kế hoạch cuộc đời giúp sinh viên nâng cao chất lượng cuộc sống của
chính bản thân gia đình và xã hội. Như những thông tin phía trên, việc không có kế
hoạch cuộc đời có thể dẫn đến rối loạn về mặt tâm lý. Kéo theo đó là sự phá huỷ
nguồn lực, chất lượng cuộc sống của cá nhân nói riêng và xã hội nói chung. Nếu có
khoảng 50% sinh viên ý thức sâu sắc về bản thân mình, biết mình học để làm gì,
mình thực sự phù hợp và yêu thích công việc gì thì những người này có thể đóng góp
nhiều hơn cho bản thân, gia đình và xã hội. Từ đó, nâng cao chất lượng cuộc sống
chính bản thân mình, của gia đình và xã hội.
Bên cạnh đó, lập kế hoạch cuộc đời có thể giúp sinh viên chủ động tránh xa
những tệ nạn xã hội. Thời gian rảnh rỗi nhiều lại không có sự quản lý và giám sát của
gia đình, không ít sinh viên đã bị lôi kéo vào những hoạt động xã hội không lành
mạnh. Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ GD-ĐT, giai đoạn từ năm 2003-2007, số
SV phạm tội hình sự là 27 SV, bị bắt giữ liên quan đến vụ việc khác là 77 SV, 126
SV bị buộc thôi học và 2.533 SV vi phạm quy chế nhà trường. Những con số này có
xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Để giải thích cho những tình trạng báo
động trên, có một nguyên nhân đã được giới truyền thông đã, đang và có lẽ sẽ còn
nhắc đến nhiều. Đó chính là thói quen không lập kế hoạch trong cuộc sống, bị động,
chưa chủ tâm tìm đến những môi trường sinh hoạt lành mạnh và sử dụng thời gian
một cách hiệu quả của chính sinh viên.
Hơn 30 năm trước, kinh tế Việt Nam vận hành dưới chế độ kế hoạch hóa tập

̣
Thanh Mai va
̀
Trâ
̀
n Văn Đô
̀
ng thư
̣
c hiê
̣
n, hơn 60% sinh viên ra trường
phải đào tạo lại. Đó là một con số lãng phí đáng báo động với một nước còn nghèo
như nước ta.
Đứng trước thực trạng đó, bản thân mỗi sinh viên cần có trách nhiệm với cuộc
đời mình. Sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại chúng giúp giới trẻ có thể
tiến tới gần hơn nền văn mình của nhân loại.
Vậy tại sao mỗi sinh viên không tự giúp mình và góp phần vào sự thay đổi bộ
mặt của đất nước ?
Giá trị thặng dư của xã hội bắt nguồn từ sự cố gắng của mỗi cá nhân. Các quy
luật tự nhiên như luật hấp dẫn, luật nhân quả, luật cho nhận…vẫn luôn hiện hữu trong
xã hội, dẫu cho mọi người có biết tới nó hay không. Với những sinh viên chủ động
lập kế hoạch cuộc đời, họ kiên trì theo đuổi mục tiêu của mình và nhận được những
gì xứng đáng với những thứ họ đã bỏ ra. Đó có thể là những thứ có thể đo đếm được
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
10
10
Chuyên đề tốt nghiệp
như : Mức lương cao, địa vị xã hội, môi trường làm việc chuyên nghiệp… Đó cũng
có thể là những thứ không thể đo đếm được như: nắm bắt tri thức mới, làm việc ở

11
Chuyên đề tốt nghiệp
vừa học vừa làm, phải nghỉ vài năm giữa hai thời kỳ học để tích lũy tiền đóng học
phí. Những đoạn đường nhỏ này cũng phải được vẽ trên bản đồ để mỗi người có thể
dự trù, tính toán hầu không bị động trong kế hoạch.
Các nhà khoa học nói có kế hoạch là đã đi được 2/3 đoạn đường. Nếu không
có sẵn bản đồ, mỗi cá nhân sẽ mất nhiều công sức và thời gian để mò mẫm.
3.2. TS Nguyễn Sỹ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
TS Nguyễn Sỹ Dũng cũng đã chia sẻ ý kiến về lập kế hoạch cuộc đời trên báo
Vietnamnet như sau:
‘‘Trong cuộc sống mình phải có "đích" hướng đến ; và muốn đi tới đích thì
phải lên kế hoạch. Thực tế, các bạn trẻ thường có hào hứng rất chung chung: "Muốn
thành đạt, muốn cống hiến, muốn làm nhiều điều có ích..." Những ham muốn như vậy
đặt nền tảng cho định hướng giá trị tốt. Nhưng định hướng hành động không thực vì
nó không rõ những mục đích vươn tới. Chẳng hạn: muốn phục vụ dân tốt hơn thì phải
chọn những nghề phục vụ dân nhiều hơn...Nghĩa là định hướng hành động phải cụ thể
hóa hơn một bước nữa thì người Việt không có nhiều’’
Việc lập kế hoạch rất cần thiết. Vì, nếu có kế hoạch thì sẽ làm chủ được cuộc
đời, còn không thì "may nhờ, rủi chịu", cũng có khi thành đạt. Bên cạnh đó, việc lập
kế hoạch còn có rất nhiều lợi ích như: Chọn được đúng thời gian cho đúng việc nên
giảm chi phí về thời gian và chi phí khác; có thời gian đánh giá kế hoạch và đánh giá
khả năng của mình để điều chỉnh; đồng thời, thấy được các công cụ để đạt mục tiêu
đề ra.
Trong cuộc sống không loại trừ tính "ăn may". Cũng có khi "Người lập kế
hoạch 10 năm phấn đấu không bằng người được cơ cấu 1 giờ". Nhưng số người được
"cơ cấu" chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đa số mọi người là phải xác lập được mục tiêu
cá nhân...
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
12
12

CHƯƠNG II: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ MÔ HÌNH VỀ VIỆC LẬP KẾ
HOẠCH CUỘC ĐỜI
I. GIỚI THIỆU VỀ QUAN ĐIỂM VÀ MÔ HÌNH LIÊN QUAN TỚI LẬP KẾ
HOẠCH CUỘC ĐỜI TRÊN THẾ GIỚI
Đi theo bốn câu hỏi của qui trình lập kế hoạch, tôi tìm tới công trình nghiên
cứu của một số chuyên gia về thay đổi bản thân trên thế giới. Cụ thể như sau :
Nghiên cứu về giá trị của con người và cách xác định mình đang ở đâu của
Mike George; Carl Gustav Jung và công ty House, Cardiff, Vương quốc Anh. Những
nghiên cứu này là căn cứ quan trọng để mỗi cá nhân hiểu rõ về giá trị của bản thân. Từ
đó, xác định được điểm xuất phát trong hành trình lập kế hoạch cuộc đời.
Nghiên cứu về xác định tiềm năng cá nhân, cách đặt, đạt được mục tiêu và các
quy luật chi phối quá trình chinh phục mục tiêu của Brian Tracy. Thông qua kết quả
nghiên cứu trên, người muốn lập kế hoạch có thể thiết lập mục tiêu một cách phù hợp
và đưa ra một chương trình hành động khả thi nhằm hướng tới mục tiêu đã đặt ra.
Nghiên cứu về các thói quen và cách đặt trọng tâm cuộc sống để lên kế hoạch
hành động và biết mình đang đi đúng hướng của Sean Covey. Theo Sean Covey,
nguyên tắc sống chính là căn cứ để mỗi cá nhân nhìn lại và điều chỉnh quá trình triển
khai kế hoạch cuộc đời của mình.
1. Mike George – Giá trị nội tại của mỗi người
1.1. Giới thiệu
Mike George là một diễn giả người Anh nổi tiếng. Hiện nay, ông sống tại
London (Anh) và là người phụ trách quản lý biên tập tạp chí Heart & Soul.
Trong 20 năm qua, Mike George đã tới hơn 30 quốc gia để dạy về nghệ thuật
thiền định, giúp đỡ nhiều người trong lĩnh vực phát triển tinh thần. Ông là tác giả của
8 cuốn sách bán chạy nhất được dịch ra 15 ngôn ngữ khác nhau, chủ yếu tập trung về
khả năng nhận thức bản thân.
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
14
14
Chuyên đề tốt nghiệp

15
15
Chuyên đề tốt nghiệp
gian thực tập, ông trình bày luận văn tiến sĩ y khoa năm 1902: “Góp phần nghiên cứu
về tâm lí học và bệnh học đổi với những hiện tượng gọi là huyền bí”.
Năm 1920, ông đưa ra công trình nghiên cứu về “các kiểu tâm lý”, là nền tảng
để Katharine Cook Briggs và con gái của bà Isabel Briggs Mayers đưa ra công cụ
MBTI (Mayers-Briggs Type Indicator) – một công cụ kiểm tra tính cách cá nhân.
2.2. Ph ng ki m tra tính cách MBTI – Cách xác đ nh tính cáchươ ể ị
c a mìnhủ
Phương pháp này dựa trên nguyên lý của Jung cho rằng có thể phân loại tính
cách con người dựa trên 3 tiêu chí: hướng nội/hướng ngoại; trực giác/giác quan; lý
trí/tình cảm. Trong hệ thống phân loại của Jung, không có nhóm nào tốt, nhóm nào
xấu, nhưng Jung nhận xét rằng: cùng một sự vật hiện tượng sẽ gây ra những suy nghĩ,
cảm xúc, phản ứng khác nhau cho những người khác nhau. Ba yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc và phản ứng của một con người là: xu hướng tự nhiên
của người đó - hướng nội/hướng ngoại; cách thức mà người đó tìm hiểu và nhận thức
thế giới bên ngoài - trực giác/giác quan; và cách thức mà người đó quyết định, đưa ra
lựa chọn: lý trí/tình cảm. Sau này, Briggs/Myer bổ sung tiêu chí thứ 4: nguyên
tắc/linh hoạt. Từ 4 tiêu chí này, Briggs/Myer đưa ra 2^4 = 16 nhóm tính cách. Tên
của mỗi nhóm đều có 4 chữ cái, đại diện cho 4 tiêu chuẩn phân loại.
Bảng 2.1: Các nhóm tính cách theo phương pháp MBTI
Tiêu chí 1 - Xu hướng tự nhiên
Extraverted (Hướng ngoại)/Introverted (Hướng nội)
Mỗi người đều có 2 biểu hiện: Hướng ngoại - hướng về thế giới bên ngoài gồm các
hoạt động, con người, đồ vật... Hướng nội - hướng vào nội tâm, bao gồm ý nghĩ, tư
tưởng, trí tưởng tượng. Đây là 2 mặt đối lập nhưng bổ sung lẫn nhau. Tuy nhiên,
một mặt sẽ chiếm ưu thế trong việc phát triển tính cách và ảnh hưởng đển cách ứng
xử.
Các đặc điểm của nhóm Extraverted

loại, sắp xếp và ghi nhận những chi tiết của các sự kiện thực tế đang diễn ra. Nó
cũng cung cấp các thông tin chi tiết của các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Trung
tâm "Trực giác" của não bộ chịu trách nhiệm tìm hiểu, diễn dịch, và hình thành các
mô hình từ thông tin thu thập được; sắp xếp các mô hình và liên hệ chúng với nhau.
Nó giúp cho não bộ suy đoán các khả năng và tiên đoán tương lai.
Mặc dù cả hai cách nhận thức đều cần thiết và được mọi người sử dụng, nhưng mỗi
người có xu hướng thích cách này hơn cách kia.
Các đặc điểm của nhóm Sensation:
- Sống với hiện tại.
- Thích các giải pháp đơn giản và thực
tế.
- Có trí nhớ tốt về các chi tiết của
những sự kiện trong quá khứ.
- Giỏi áp dụng kinh nghiệm.
- Thích các thông tin rõ ràng, chắc
chắn; không thích phỏng đoán hoặc
Các đặc điểm của nhóm Intuition:
- Hay nghĩ đến tương lai.
- Sử dụng trí tưởng tượng, hay sáng tạo
ra những khả năng mới.
- Thường chỉ nhớ đến ý chính và các
mối liên hệ.
- Giỏi vận dụng lý thuyết.
- Thoải mái với sự nhập nhằng, hay
thông tin không rõ ràng.
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
17
17
Chuyên đề tốt nghiệp
những sự việc không rõ ràng.

- Xem xét cảm giác cá nhân và ảnh
hưởng đến người khác trước khi đưa
ra quyết định.
- Một cách tự nhiên, dễ xúc động trước
nhu cầu hay phản ứng của người
khác.
- Tìm kiếm sự nhất trí hay ý kiến của
đa số.
- Khó xử khi có xung đột.
- Nếu đây là các đặc điểm của một
người thì chữ cái thứ 3 trong MBTI
của người đó là F.
Tiêu chí 4 - Cách thức hành động:
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
18
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Judging (Nguyên tắc)/Perceiving (Linh hoạt)
Tiêu chuẩn 4 liên quan đến cách thức mà mỗi người lựa chọn để tác động tới thế
giới bên ngoài. Phong cách Judging tiếp cận thế giới một cách có kế hoạch, có tổ
chức, có chuẩn bị, quyết định và đạt đến một kết cục rõ ràng. Phong cách
Perceiving tiếp cận thế giới một cách tự nhiên, tìm cách thích nghi với hoàn cảnh,
thích một kết cục bỏ ngỏ, chấp nhận những cơ hội mới, và chấp nhận thay đổi kế
hoạch.
Các đặc điểm của nhóm Judging:
- Có kế hoạch chu đáo trước khi hành
động.
- Tập trung vào các hoạt động có tính
nhiệm vụ; hoàn tất các công đoạn
quan trọng trước khi tiếp tục.

Chuyên đề tốt nghiệp
gì tiếp theo để có thể cân bằng cuộc sống. Công cụ này cũng giúp các cá nhân biết
được lĩnh vực cần được quan tâm và đầu tư công sức cũng như tâm sức nhiều hơn.
3.2. Nội dung công cụ Wheel of Life
Hình 2.1: Bánh xe cuộc sống
Trên đây là hình ảnh của bánh xe cuộc sống. 10 khía cạnh cần đánh giá trong
cuộc sống lần lượt là đóng góp xã hội, tình cảm, sức khỏe, tri thức, sự nghiệp, tiền
bạc, gia đình, mối quan hệ, niềm đam mê, tâm linh. Trên vòng tròn có các thang độ từ
1 đến 10. Mỗi thang chia độ lớn của một tiêu chí mà người sử dụng cảm thấy quan
trọng với bản thân trong một thời điểm. Những đánh giá này mang tính chất chủ
quan, do mỗi cá nhân tự nhận xét về bản thân mình và cho điểm.
Sau khi cho điểm tất cả các lĩnh vực, người sử dụng sẽ thu lại được hình ảnh
bánh xe cuộc sống có hình dạng tương tự như sau:
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
20
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Hình 2.2: Kết quả khảo sát của bánh xe cuộc sống
Thông qua hình ảnh trên, mỗi cá nhân có thể biết ta đang ở mức độ nào, còn
thiếu những gì, thiếu bao nhiêu…Đây là cách nhìn một cách tổng quát và khách quan
về bản thân mỗi người.
Ngoài ra, công cụ Wheel cũng có thể đánh giá từng phần nhỏ trong cuộc sống
của mỗi người thông qua chi tiết như hình ảnh dưới đây.
Hình 2.3: Ví dụ về bánh xe đánh giá một lĩnh vực
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
21
21
Chuyên đề tốt nghiệp
4. Brian Tracy
4.1. Giới thiệu

Trong đó:
- IA: Inborn attributes - Các thuộc tính bẩm sinh: Là những gì mỗi người có ngay khi
mới khi sinh. Đó là tính khí và khả năng trí tuệ tổng thể.
- AA: Acquired Attributes – Các thuộc tính thu được: Là những kiến thức, kỹ năng,
năng lực, kinh nghiệm và khả năng mà mỗi cá nhân thu được và phát triển cho đến
khi chúng ta trưởng thành.
- A: Attitude – Là năng lượng tinh thần mà mỗi người mang lại để kết hợp giữa các
thuộc tính bẩm sinh và thuộc tính thu được
- IPP: Individual Human Performance – Sự biểu hiện cá nhân con người.
Theo Brian Tracy, thuộc tính bẩm sinh thuộc về yếu tố di truyền và được cố
định ngay từ khi mới sinh ra. Con người không thể làm gì nhiều để thay đổi chúng.
Những thuộc tính thu được có thể cải thiện, thay đổi và phát triển theo thời gian
thông qua học tập, thực hành. Nhưng quá trình này diễn ra rất chậm, đòi hỏi phải kiên
trì và nỗ lực cao.
Theo ông, quân bài tự do duy nhất có thể thay thế cho các quân bài khác trong
phương trình trên là thái độ. Thái độ là các mỗi người tiếp cận với cuộc sống, là nhịp
tinh thần chung và là sự thể hiện các suy nghĩ và cảm xúc của mình ra bên ngoài.
Thái độ được quyết định bằng sự kì vọng. Sự kỳ vọng lại được quyết định bởi đức tin
về bản thân và về thế giới mình đang sống. Và đức tin được hình thành từ quá trình
tự nhận thức.
Có ba điều kiện để thay đổi sự tự nhận thức mới.
- Một là mỗi người phải thực sự muốn thay đổi, khao khát trở nên tích cực với con
người và năng lực của chính mình. Không ai có thể đặt mục tiêu hay chỉ cho người
khác biết phải làm gì. Vì điểm khởi đầu cùa sự thay đổi, của sự làm được gì đó khác
đi hay tốt hơn là sự khao khát – và nó luôn mang tính cá nhân.
- Hai là phải sẵn sàng để thay đổi. Có nhiều người nói muốn thay đổi, nhưng trong
thâm tâm người đó không thực sự sẵn sàng từ bỏ lối sống cũ, mối liên hệ cũ cùng
mọi thứ khác. Họ không vượt qua được hai trở ngại lớn, đó là sự điều bình, chứng xơ
cứng tâm lý của vùng thoải mái và của những suy nghĩ cứng nhắc. Nếu không sẵn
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B

cách áp dụng luật nhân quả, con người sẽ hài hòa được với luật kiểm soát, cảm thấy
tích cực hơn về bản thân và thấy mình hạnh phúc hơn.
Vương Thị Thùy Dung Lớp: Kế Hoạch 48B
24
24
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo luật nhân quả, có nguyên nhân cụ thể của thành công và có nguyên nhân
cụ thể cho những thất bại. Có nguyên nhân cụ thể cho sức khỏe hay đau ốm. Có
nguyên nhân cụ thể cho hạnh phúc và nỗi buồn. Và nếu con người muốn có được
nhiều kết quả như mình mong muốn thì mỗi cá nhân cần phải tìm bằng được nguyên
nhân của nó và lặp lại chúng. Ngược lại, nếu có một kết quả nào không thích, mỗi
người cần phải tìm được nguyên nhân và loại bỏ chúng. Ông cho rằng, mọi thứ mà
con người đang và sẽ trở thành là kết quả của cách người đó suy nghĩ. Nếu thay đổi
chất lượng suy nghĩ thì chất lượng cuộc sống của sẽ thay đổi.
c. Luật lòng tin
Luật lòng tin phát biểu rằng, bất cứ điều gì mà mỗi người tin tưởng chân thành
sẽ trở thành hiện thực. Càng có niềm tin mãnh liệt thì điều đó càng dễ trở thành hiện
thực. Thật sự tin tưởng vào một điều gì đó nghĩa là không thể tưởng tượng được nó
sẽ trở thành một cái gì đó khác.
Ông cho rằng, nhìn chung mọi người có một trong hai thế giới quan. Một là
thế giới quan tích cực. Nếu ai có quan điểm thế giới nhân đạo nói chung, người đó có
xu hướng quan sát những điều tốt đẹp trong mỗi người, mỗi hoàn cảnh và tin tưởng
rằng có rất nhiều cơ hội xung quanh bạn và ngược lại.
d. Luật mong đợi
Luật mong đợi phát biểu rằng bất cứ điều gì mỗi người hy vọng với một niềm
tin chắc chắn sẽ trở thành lời tiên đoán cho sự hoàn thiện bản thân. Sự mong đợi của
các cá nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ, vô hình khiến con người cư xử và tạo ra các tình
huống như mình đã dự đoán trước.
Những người thành đạt đều tự tin, hy vọng và chủ động. Họ mong muốn được
thành công, được mọi người yêu quí, được hạnh phúc và hiếm khi bọ bị tthất vọng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status