Hoàn thiện công tác lập kế hoạch SXKD của Cty cổ phần Formach sau CPH - Pdf 12

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 1
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, công cuộc xây dựng và kiến thiết nước
nhà luôn được Đảng và chính phủ quan tâm và đưa lên hàng đầu, trong đó có sự
nghiệp trồng người, giáo dục đào tạo để tạo ra tầng lớp tri thức, cán bộ có phẩm chất
và chuyên môn cao góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước. Vì vậy, cùng với
hàng triệu sinh viên trên toàn quốc khi bước vào năm học cuối, sinh viên khoa Kế
hoạch phát triển nói riêng và sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung lại
được nhà trường giúp đỡ, tạo điều kiện cho khoá thực tập, trực tiếp tìm hiểu về công
tác nghiệp vụ của chuyên ngành mình được đào tạo tại trường, nhằm bổ sung, củng
cố và hoàn thiện hơn nữa kiền thức lý thuyết đồng thời đưa kiến thức lý thuyết vào
trong ứng dụng thực tế, qua đó giúp sinh viên hoàn chỉnh kiến thức trước khi rời
trường. Trong đó thực tập chuyên đề là thời gian tìm hiểu công tác chuyên môn
nghiệp vụ tại cơ sở thực tập giúp sinh viên hiểu sâu hơn về chuyên ngành được đào
tạo ở trường thông qua việc trực tiếp được làm quen với nghiệp vụ dưới sự chỉ bảo
tận tình của các cán bộ hướng dẫn thực tập tại cơ sở.
Sau thời gian thực tập chuyên đề tại công ty cổ phần Formach, em đã thu thập
được nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là hiểu kỹ hơn cách thức vận dụng lý thuyết của
chuyên ngành Kế hoạch vào trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết thúc
thời gian thực tập, hoàn thành chuyền đề, được sự cho phép của khoa và sự hướng
dẫn của thầy giáo, em đã phát triển Chuyên đề thực tập tốt nghiệp thành Luận văn tốt
nghiệp với đề tài:
“ Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần Formach sau cổ phần hoá ”
Nội dung Luận văn bao gồm các phần sau:
Chương I. Một số vấn đề lý luận về kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 2
Chương II. Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cổ
phần Formach trong những năm qua.
Chương III. Các giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh

2. Các cách phân loại hoạt động sản xuất.
Mỗi quá trình sản xuất được đặc trưng bởi đặc điểm của các sản phẩm do nó sản
xuất ra, những đặc trưng khác nhau này có vai trò rất quan trọng trong việc xác định
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 4
các quy trình cũng như lựa chọn phương pháp để quản lý, để kế hoạch hoá. Hoạt
động sản xuất có thể được phân loại theo nhiều cách tiếp cận :
2.1. Phân loại sản xuất theo khối lượng sản xuất và tính chất lặp lại của sản xuất.
Tuỳ theo khối lượng sản xuất và theo tính chất lặp lại của quy trình, chúng ta có
thể phân biệt loại hình sản xuất đơn chiếc, loại hình sản xuất nhỏ và vừa, loại hình
sản xuất lớn. Số lượng sản xuất nhỏ hay lớn ở đây cần được xem xét theo một cách
tiếp cận tương đối, bởi chúng còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại sản phẩm.
Nhìn chung, đối với các hoạt động sản xuất có tính lặp lại thì việc tổ chức công tác kế
hoạch hoá có phần đơn giản và hiệu quả hơn.
2.2. Phân loại sản xuất theo cách thức tổ chức sản xuất.
Theo cách thức tổ chức sản xuất, chúng ta phân loại 3 hình thức sản xuất chủ yếu:
2.2.1. Sản xuât liên tục.
- Là quá trình sản xuất mà ở đó người ta sản xuất và xứ lý một khối lượng lớn một
loại sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào đó. Trong hình thức tổ chức sản xuất
này, các thiết bị sản xuất được lắp đặt theo dây chuyền, làm cho luồng di chuyển của
các yều tố vật chất đi theo một dòng thẳng liên tục. Với hình thức sản xuất, các máy
móc thiết bị và các bộ phận sản xuất được bố trí chỉ để sản xuất một loại sản phẩm và
do vậy hệ thống sản xuất không có tính linh hoạt. Công nghiệp hoá dầu, sản xuất xi
măng là những ngành điển hình cho loại hình sản xuất này. Nhìn chung loại hình sản
xuất này thường đi cùng với việc tự động hóa quá trình vận chuyển nội bộ với việc
trang bị các hệ thống vận chuyển hàng hoá tự động. Do tính chất liên tục của sản xuất
và khơi thông dòng luân chuyển của sản phẩm, việc cân bằng năng xuất trên các thiết
bị và các công đoạn sản xuất phải được tiến hành một cách cẩn trọng và chu đáo.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 5

hính sản xuất này, doanh nghiệp sẽ chủ động trong việc lập kế hoạch sản xuất theo
các ràng buộc của mình, và sau đó sẽ tìm cách tiêu thụ khối lượng sản xuất thông qua
các hình thức thương mại. Những ràng buộc dẫn doanh nghiệp tới việc lựa chọn hình
thức sản xuất này có thể là sự khác nhau giữa các chu kỳ sản xuất và chu kỳ thương
mại, yêu cầu tiết kiệm chi phí, tính chất thời vụ của sản xuất hoặc đặc tính kỹ thuật
của thiết bị sản xuất.
- Do trong thực tế thường xuyên tồn tại sự khác nhau giữa chu kỳ sản xuất và chu kỳ
thương mại mà khách hàng đòi hỏi, khi chu kỳ sản xuất lớn hơn chu kỳ thương mại,
doanh nghiệp cấn sản xuất trước để có thể đáp ứng nhu cầu.. Nhà sản xuất muốn sản
xuất với khối lượng lớn, một mặt nhằm tối ưu hoá công suất hoạt động của máy móc
thiết bị do các ràng buộc kỹ thuật, mặt khác tiết kiệm chi phí nhờ lợi thế quy mô.
Tính thời vụ của nhu cầu cũng là một ràng buộc cần tính đến, khi không muốn lãng
phí năng lực sản xuất, khi nhu cầu xuống thấp các doanh nghiệp vẫn tiến hành sản
xuất để bán khi nhu cầu thời vụ lên cao.
2.3.2. Sản xuất theo yêu cầu.
- Là quá trình sản xuất chỉ khi xuất hiện yêu cầu cụ thể của khách hàng về sản phẩm.
Thông thường thì nhu cầu này xuất hiện dưới dạng đơn đặt hàng. có chỉ rõ khối lượng
yêu cầu cùng đặc tính kỹ thuật của sản phẩm do khách hàng quyết định. Để thực hiện
hình thức tổ chức sản xuất này, đòi hỏi hệ thống sản xuất của doanh nghiệp phải rất
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 7
linh hoạt để có thể đáp ứng những nhu cầu rất khác nhau của khách hàng. Hình thức
sản xuất này được ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn trong một số ngành công nghiệp
do nó cho phép giảm khối lượng dự trữ, giảm các chi phí tài chính và qua đó giảm
được giá thành sản xuất.
2.3.3. Hình thức sản xuất hỗn hợp.
Ngay nay do áp lực của cạnh tranh nên hầu hết các doanh nghiệp vừa mong muốn
có được sự linh hoạt trong sản xuất lại vừa muốn chủ động trong điều độ sản xuất,
vừa muốn tiết kiệm chi phí nhưng vừa muốn thoã mãn những nhu cầu rất khác biệt
của khách hàng, do vậy cần kết hợp các phương pháp sản xuất để tận dụng các ưu

thông qua các mục tiêu định lập trước thì có nghĩa là chúng ta đã để cho những sự
kiện có liên quan đến sinh mệnh sống của doanh nghiệp mình diễn ra một cách ngẫu
nhiên và tỉnh rủi ro của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
* Công tác kế hoạch hóa với việc ứng phó với những bất định và đổi thay của thị
trường. Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề của tương lai, mà tương lai rất ít khi
chắc chắn, tương lai càng dài thì kết quả của các quyết đinh càng kém chắc chắn.
Thậm chí ngay khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà quản lý vẫn phải tìm
cách tốt nhất để đạt mục tiêu đặt ra, phân công, phối hợp hoạt động của các bộ phận
trong hệ thống tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch và cách tháo gỡ,
ứng phó với những bất ổn trong diễn biến sản xuất kinh doanh. Như vậy, giống như
một nhà hàng hải không thể chỉ lập hành trình rồi quên nó, một nhà quản lý kinh
doanh không thể lập kế hoạch và dừng lại ở đó. Sự bất định và đổi thay của môi
trường đòi hỏi họ, ngoài việc soạn lập kế hoạch, phải tiến hành các nội dung khác của
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 9
công tác kế hoạch hóa là triển khai thực hiện, kiểm tra công việc của các cấp tổ chức,
điều chỉnh các hoạt động cần thiết để bảo đảm thực thi các mục tiêu kế hoạch đặt ra.
* Công tác kế hoạch hóa với việc tạo khả năng tác nghiệp kinh tế doanh nghiệp. Công
tác kế hoạch hóa thường hướng tới cực tiểu hóa chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt
động hiệu quả và đảm bảo tính phù hợp. Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh mún,
không được phối hợp bằng sự nỗ lực có định hướng chung, thay thế luồng hoạt động
thất thường bởi một luồng đều đặn và thay thế những phán xét vội vàng bằng những
quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng. ở phạm vi doanh nghiệp, tác dụng của kế hoạch hóa
với các tác nghiệp kinh tế càng rõ nét hơn. Không một ai đã từng ngắm từng bộ phận
lắp ráp ô tô trong một nhà máy lớn mà lại không có ấn tượng về cách thức và các dây
chuyền phụ ghép nối với nhau. Đây là ví dụ cho thấy, quá trình sản xuất sản phẩm và
dịch vụ thường được chia thành nhiều công đoạn, nhiều chi tiết có liên quan chặt chẽ,
mang tính dây chuyền với nhau. Quá trình đó cần phải được phân chia thành các tác
nghiệp kinh tế, kỹ thuật chi tiết theo thời gian và không gian. Công tác kế hoạch hóa
doanh nghiệp tạo cơ sở cho việc nhìn nhận logic các nội dung hoạt động có liên quan

*Máy móc thiết bị và nhà xưởng: Cần sử dụng những loại máy móc thiết bị nào, công
suất bao nhiêu, lấy thiết bị từ nguồn nào, cần nhà xưởng rộng bao nhiêu, bố trí như
thế nào, kế hoạch khấu hao nhà xưởng, thiết bị… Kế hoạch máy móc thiết bị và nhà
xưởng, đây là những tài sản có giá trị lớn do đó nó đóng vị trí quan trọng trong lập kế
hoạch tài chính sau này.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 11
*Nguyên vật liệu và các nguồn lực khác: nhu cầu sử dụng và tồn kho nguyên vật liệu,
chất lượng và số lượng nhu thế nào, nguyên vật liệu thay thế là gì, ai là nhà cung cấp,
phương thức cung cấp, số lượng mua tối ưu, mức độ rủi ro. Các yêu cầu đối với
nguồn lực: số lượng lao động, trình độ tay nghề, kế hoạch đáp ứng như tuyển dụng,
đào tạo…
*Dự toán chi phí hoạt động: Cần bao nhiêu vốn đầu tư, các chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
*Ưu thế cạnh tranh: Xác định xem yếu tố cạnh tranh nào là quan trọng và là một yếu
tố định tính để ra các quyết định lựa chọn các phương án sản xuất, đầu tư máy móc
thiết bị, chất lượng sản phẩm, giá thành quy mô, công nghệ, kinh nghiệm, khả năng
đáp ứng…..
Một cách chung nhất, kế hoạch sản xuất phải đảm bảo về các mặt:
- Khối lượng sản xuất cho mỗi sản phẩm.
- Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn vị sản xuất ( nhà máy, phân
xưởng, dây chuyên…)
- Lượng dự trữ cần thiết đối với thành phẩm và bán thành phẩm.
- Sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm.
- Các kế hoạch thuê ngoài, gia công.
Việc xác định các yếu tố này phải thoả mãn các ràng buộc chặt chẽ về mặt kỹ thuật,
các mục tiêu của doanh nghiệp và các nguồn lực của các bộ phận khác nhau trong
doanh nghiệp, đặc biệt là các ràng buộc về mục tiêu bán hàng, khả năng cung ứng
nhân sự và các mục tiêu về hiệu quả tài chính.

Nhân sự và kế
hoạch nhân sự
Kế hoạch nhu cầu vật
liệu
Kế hoạch nhu cầu
công suất
Khả thi ?
Thực hiện kế hoạch
công suất
Thực hiện kế hoạch
vật liệu
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 13
2.1. Kế hoạch năng lực sản xuất.
Dựa trên cơ sở các chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và các dự báo nhu cầu thị
trường, doanh nghiệp phải cân nhắc quyết định trang bị cho mình một mức độ năng
lực sản xuất nhất định. Quyết định này tác động rất lớn đến phần chi phí cố định, và
nó cũng quyết định rằng liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu hay các thiết
bị của nó sẽ không được sử dụng hết. Nếu công suất của nhà máy quá lớn, bộ phận
không sản xuất sẽ làm tăng thêm chi phí cố định, ngược lại nếu công suất của nhà
máy quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng. Do vậy, việc xác định quy mô của
thiết bị sản xuất là rất quan trọng, nó không chỉ có tác động ngắn hạn mà còn ảnh
hưởng tới những vấn đề mang tính chiến lược của doanh nghiệp. Năng lực sản xuất
của doanh nghiệp phục thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến công suất của
máy móc thiết bị, và sau đó là mức độ cũng như hiệu suất sử dụng của máy móc thiết
bị này trong từng điều kiện cụ thể.
2.1.1. Xác định công suất.
- Công suất thực tế là mức sản lượng lý thuyết tối đa của một hệ thống sản xuất trong
một thời kỳ nhất định. Nó thường được thể hiện bằng tỷ lệ, như một tấn thép trong
một tuần, một tháng hay một năm. Đối với hầu hết các doanh nghiệp, công suất được
đo trực tiếp bằng sản lượng tối đa trong một khoảng thời gian, tuy nhiên đối với một

suất, trạng thái tự nhiên thường là nhu cầu tương lai hoặc triển vọng của thị trường.
Bằng việc gán các giá trị xác suất cho các trạng thái tự nhiên, chúng ta có thể đưa ra
quyết định cho phép tối đa hóa giá trị kỳ vọng của lựa chọn.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 15
2.2. Kế hoạch hóa các nguồn sản xuất.
- Kế hoạch hóa các nguồn sản xuất cho phép các bộ phận sản xuất, bộ phận quản lý
chức năng có một ngôn ngữ chung trong quản lý sản xuất.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 16
2.2.1. Kế hoạch sản xuất tổng thể.
Sơ đồ các mối liên hệ của kế hoạch sản xuất tổng thể
Thị trường Nghiên cứu
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
Quyết định sản
phẩm
Hoạch định công
suất
Kế hoạch sản
xuất tổng thể
Kế hoạch chỉ đạo
sản xuất và hệ
thống MRP
Kế hoạch tiến bộ
Đơn hàng dự
báo bán hàng
Nhân sự Vật liệu sẵn có
Thuê gia công
Dự trữ thành
phẩm

+Tính đến chính sách của doanh nghiệp đối với lao động hoặc mức lưu kho.
+Khảo sát các kế hoạch và ước lượng tổng chi phí.
*Phương pháp toán học:
- Có nhiều phương pháp toán học được sử dụng vào kế hoạch hóa sẳn xuất như:
Mô hình hệ số quản lý của Bowman là một mô hình lập kế hoạch dựa trên thành
tích và kinh nghiệm của các cán bộ lãnh đạo, với giả thiết rằng thành tích quá khứ của
các cán bộ lãnh đạo là khá tốt, do vậy nó có thể được sử dụng như là một cơ sở cho
các quyết định tương lai. Kỹ thuật này sử dụng phương pháp phân tích hồi quy các
quyết định sản xuất trong quá khứ của cán bộ lãnh đạo, và đường hồi quy sẽ chỉ ra
mối liên hệ giữa các biến số trong các quyết định tương lai. Theo bowman, sự kém
cỏi của nhà lãnh đạo thường thể hiện qua sự không nhất quán trong việc ra quyết
định.
- Các mô hình khác được sử dụng cho việc lập kế hoạch sản xuât tổng thể, đó là mô
hình nguyên tắc quyết định tuyến tính và mô hình mô phỏng. Nguyên tắc quyết định
tuyến tính nhằm mục đích xác định mức sản xuất tối ưu và mức sử dụng lao động cho
mỗi kỳ kế hoạch. Mô hình này cho phép giảm thiểu chi phí tiền lương, tiền thưởng,
chi phí ngừng sản xuất, tiền thêm giờ và chi phí lưu kho… Mô hình máy tính có tên
gọi lập kế hoạch bằng mô phỏng sử dụng một thủ tục tìm kiếm để tìm ra một sự kết
hợp giữa quy mô lao động và mức sản xuất sao cho ít tốn kém nhất.
2.3. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 19
- Là bước trung gian giữa kế hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch nhu cầu sản xuất.
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất xác định doanh nghiệp cần sản xuất cái gì và khi nào thì
sản xuất. Kế hoạch này phải phù hợp với kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch chỉ
đạo sản xuất cho chúng ta biết cần chuẩn bị những gì để thoả mãn nhu cầu và đáp
ứng nhu cầu của kế hoạch sản xuất tổng thể. Kế hoạch chỉ đạo sản xuất không phải là
sự chia nhỏ kế hoạch sản xuất tổng thể mà là sự thể hiện kế hoạch nói trên trương
chình chỉ đạo sản xuất tương ứng thích hợp với khả năng sản xuất của các đơn vị
nhằm thoả mãn tốt nhất các dự báo kế hoạch. Trong khi kế hoạch sản xuất tổng thể

sản xuất về các chi tiết cần phải sản xuất hoặc mua sắm và thời hạn chúng cần hoàn
thành hoặc phải đặt mua là một nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch sản xuất.
- Số lượng và thời gian cần thiết cho sản xuất hoặc đặt hàng các yếu tố này cần phải
xác định sao cho doanh nghiệp có thể sãn sàng thoả mãn các nhu cầu độc lập đã được
ghi nhận và các nhu cầu phụ thuộc khác. Việc tính toán các yếu tố trên cần phải dựa
vào: Mức dự báo bán hàng, kế hoạch chỉ đạo sản xuất, mức tồn kho, quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm cùng với kết cấu sản phẩm.
- Phân tích kết cấu sản phẩm: Các tính toán nhu cầu của MRP được dựa trên sơ đồ kết
cấu hình cây của sản phẩm, do vậy việc phân tích kết cấu sản phẩm có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng trong việc xác định các yếu tố vật chất cũng nhu thời gian cần thiết để
hoàn thành một sản phẩm . Các phân tích này được thực hiện dựa trên thiết kế của sản
phẩm, định mức sử dụng các nhu cầu phụ thuộc, phương pháp tổ chức sản xuất….
Việc phân tích kết cấu sản phẩm không chỉ cho biết mối liên hệ giữa các chi tiết, bộ
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 21
phận của một sản phẩm mà nó còn cho biết định mức tiêu hao, thời gian cần thiết để
hoàn thành từng bước công việc và những thông tin này giúp doanh nghiệp nhu cầu
sản xuất cho từng loại sản phẩm, họ sản phẩm và cho toàn bộ kế hoạch chỉ đạo sản
xuất.
2.5. Kế hoạch tiến độ sản xuất.
- Là cụ thể hoá các quyết định về công suất, kế hoạch sản xuất tổng thể và kế hoạch
chỉ đạo sản xuất thành các chuỗi công việc và sự phân công nhân sự, máy móc và
nguyên vật liệu. Kế hoạch tiến độ đòi hỏi phần bố thời gian cho từng công việc, tuy
nhiên thường thì có nhiều bước công việc đòi hỏi sử dụng cùng nguồn lực do đó
doanh nghiệp phải sử dụng một số kỹ thuật để giải quyết mâu thuẫn này.
* Phương pháp điều kiện sớm: Bắt đầu lịch trình sản xuất sớm nhất có thể khi đã biết
yêu cầu công việc. Phương pháp này được sử dụng trong nhiều tổ chức khác nhau
như bệnh viện, nhà hàng, sản xuất máy công cụ …..Phương pháp điều kiện sớm
thường được thiết kế để lập ra một kế hoạch có thể được hoàn thành cho dù không
đúng thời hạn cần thiết. Trong nhiều trường hợp, phương pháp này gây ra sự tồn

công việc cũng như các mối quan hệ giữa chúng. Biểu đồ Gantt sẽ cho phép doanh
nghiệp theo dõi tiến độ thực hiện chương trình sản xuất, xác định thời gian hoàn
thành toàn bộ chương trình sản xuất, đồng thời biết được khoảng thời gian dự trữ của
công việc. Tuy nhiên nếu quan sát thấy có sự chênh lệch lớn giữa kế hoạch và thực
hiện, doanh nghiệp cần tìm ngay các biện pháp điều chỉnh để có thể tuân thủ thời hạn
hoàn thành chương trình sản xuất dự kiến.
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 23
_ Ngoài phương pháp biểu đồ Gantt còn nhiều phương pháp khác cũng được áp dụng
trong việc lập kế hoạch và theo dõi tiến độ sản xuất, tuỳ theo mức độ phức tạp của
công việc cũng như loại hình sản xuất như phương pháp giao việc, phương pháp
nguyên tắc ưu tiên, hoặc thậm chí là phương pháp sơ đồ mạng PERT.
3. Căn cứ lập kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Việc xác định các căn cứ vững chắc để xây dựng kế hoạch là việc làm rất quan
trọng và cần thiết để đảm bảo cho kế hoạch của doanh nghiệp được hoạch định khả
thị và đạt hiệu quả cao.
* Các căn cứ chủ yếu khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh gồm:
- Căn cứ vào chủ trương đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và
nhà nước.
Trong công tác hoạch định về nguyên tắc doanh nghiệp được quyền tự chủ, song
giới hạn và phạm vi của việc phát huy quyền tự chủ là pháp luật và chính sách phù
hợp với chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà
nước. Doanh nghiệp là một tế bào của nên kinh tế, nếu những hoạt động của nó đi
ngược lại xu thế phát triển, phạm vi những lợi ích chung của nên kinh tế (hệ thống)
nó sẽ bị đào thải, ngược lại nếu nhận thức và hoà mình vào sự phát triển thì nó mới có
thể phát triên bền vững và ổn định.
Căn cứ này làm cho phương án phát triển của doanh nghiệp hợp lý, đúng hướng.
- Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường.
Thị trường có vài trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt
động và phướng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Kết quả nghiên cứu nhu cầu thị

nguồn nguyên liệu cho sản xuất được cung cấp như thế nào? từ đầu? Mức độ đáp ứng
ra sao? Tài chính để đảm bảo cho hoạt động sản xuất như thế nào, nguồn vốn tự chủ
của doanh nghiệp đáp ứng được bao nhiêu, còn phải đi vay bao nhiêu? Khả năng tiêu
thụ sản phẩm ra sao?
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất.
Doanh nghiệp cần xác định nhu cầu nguyên vật liệu, chi tiết công việc sản xuất sản
phẩm thông qua các đơn đặt hàng, qua dự báo mức tiêu thụ của thị trường đối với sản
phẩm cuối cùng của doanh nghiệp. Kết hợp với thông tin về lượng nguyên vật liệu
trong kho của doanh nghiệp xác định nhu cầu nguyên vật liệu thực tế cần thiết cho
toàn bộ kế hoạch sản xuất cũng như ở từng giai đoạn, từ đó doanh nghiệp sẽ chọn ra
phương án hợp lý nhất.
Phương pháp cân đối được xác định bởi các yêu cầu sau:
- Cân đối được thực hiện là cân đối động. Cân đối để lựa chọn phương án chứ không
phải là cân đối theo phương án đã được chỉ định, các yếu tố của cân đối là những yếu
tố biến đổi theo môi trường kinh doanh, đó là nhu cầu thị trường và khả năng có thể
khai thác của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
- Thực hiện cân đối liên hoàn, tức là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau để bổ sung
và điều chỉnh phương án cho phù hợp vơi thay đổi của môi trường.
- Thực hiện cân đối trong những yếu tố trước khi tiến hành cân đối tổng thể các yếu
tố. Cân đối các yếu tố ảnh hưởng đên hoạt động sản xuất như nguyên vật liệu, tài
chính, tình hình lao động hiện có so vơi nhu cầu thị trường hay cụ thể là các đơn hàng
NGUYỄN THỊ THANH NGA KẾ HOẠCH 47 A

Trích đoạn Đánh giá công tác lập kế hoạch của công ty cổ phần Formach. Định hướng phát triển của công ty. Hoàn thiện và tăng cường ứng dụng hệ thống thông tin, internet trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất. Thành lập phòng marketing, nghiên cứu thị trường riêng biệt và tăng cường công tác dự báo. Chú trọng xây dựng tầm nhìn chiến lược, là cơ sở cho thiết lập kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status