MC LC
LI NểI U
NI DUNG
I. S ra i ca mt trn Vit Minh
1.Hon cnh ra i ca mt trn Vit Minh
2. T chc ca mt trn Vit Minh
II. Phong tro u tranh gii phúng dõn tc ca nhõn dõn Vit Nam t thỏng
5- 1941 n thỏng 2- 1945
1. Phong tro u tranh gii phúng dõn tc ca nhõn dõn Vit Nam t thỏng
5- 1941 n thỏng 2- 1943
2. Hi ngh Thng v Trung ng ng thỏng 2-1943
3. Phong tro u tranh gii phúng dõn tc ca nhõn dõn Vit Nam v cuc
u tranh m rng mt trn dõn tc thng nht chng Nht- Phỏp tớnh
t 2-1943 n 2-1945
KT LUN
TI LIU THAM KHO THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
1
LI NểI U
Cỏch mng thỏng Tỏm l mt s kin lch s v i ca dõn tc Vit Nam, nú
p tan xing xớch ca thc dõn Phỏp v phỏt xớt Nht, lt nho ch quõn ch
hng th k trờn t nc ta, m ra mt k nguyờn mi trong i sng ca nhõn dõn
ta, k nguyuờn m nhõn dõn lao ng ó mg lờn lm ch vn mnh ca mỡnh,
thit lp nờn mt nc Vit Nam dõn ch cng ho, mt ch tiờn tin nht
ụng Dng. Gúp phn vo thnh cụng v i ú l s lónh o ti tỡnh, khụn khộo
ca ng, trong ú s ra i ca Mt trn Vit Minh v nhng hot ng u tranh
gõy cho h nhiu quan tõm, chỳ ý. Song Vit Nam, 45 nm ó trụi qua v khụng
bao gi quay tr li ú li l mt mc son, mt giai on lch s cú ý ngha c bit
quan trng vi ton th dõn tc. Nú l thi im ghi du s ra i ca ng Cng
Sn Vit Nam (1930)_ i tin phong ca vụ sn giai cp, l lỳc t du chm
ht cho ton b thi k cai tr ca thc dõn, quc trờn t nc ta (1975), m ra
thi kỡ c lp, t ch, c nc tin lờn xõy dng Xó Hi Ch Ngha. Trong sut
thi gian k t khi mi thnh lp cho n i thng mựa xuõn nm 1975 ú, ng
ta ó ch trng chỳ trong vic ch o qun chỳng nhõn dõn xõy dng cỏc mt trn
dõn tc, dõn ch nhm gõy dng cỏc c s ng, thnh lp cỏc lc lng chớnh tr,
lc lng v trang chun b chu ỏo cho cỏc cuc u tranh gii phúng dõn tc.
Trong ú, thng li ln nht ca cụng cuc xõy dng cỏch mng dõn tc dõn ch
trong ton dõn ú l s ra i ca mt trn Vit Minh. Cú th núi, mt trn Vit
Minh ra i l kt qu, l nh cao ca quỏ trỡnh tớch lu kinh nghim cỏch mng t
nhiu nm hot ng ca ng.Do ú mt trn ó ỏp ng c phn no nhng
yờu cu khỏch quan trong v ngoi nc, ỏp ng c nhng ũi hi cp thit ca
cỏch mng:
Lỳc ny, tỡnh hỡnh th gii din ra vụ cựng cng thng. Cuc i chin th
gii ln th hai bựng n vo thỏng 9-1939 v nhanh chúng lan rng khp trờn th
gii. Bn quc v phỏt xớt ó tn cụng mnh vo phong tro cỏch mng, tng
cng khng b ỏp bc v búc lt nhõn dõn lao ng trong nc cng nh nhõn
dõn cỏc nc thuc a v ph thuc. Phỏp do s u hng v phn bi ca ng
Xó Hi v Xó Hi Cp Tin, mt trn nhõn dõn Phỏp tan ró; chớnh ph a-la-diờ
lờn cm quyn. Chỳng ó thi hnh chớnh sỏch i ni phỏt xớt, ra sc khng b
ng Cng Sn v nhõn dõn Phỏp, chỳng thng tay búc lt nhõn dõn lao ng Phỏp
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
4
cũng như nhân dân các thuộc địa của chúng. Trong thời gian đó, chính phủ phản
động Pháp đã tham gia chiến tranh đế quốc chủ nghĩa. Nhưng chỉ đến tháng 6-
1940, đế quốc Pháp đã bị phát xít Đức đánh bại.Chính sự thất bại của Pháp ở Châu
Âu là một dịp tốt cho phát xít Nhật đánh chiếm Đơng Dương rồi dùng Đơng Dương
Về phía Nhật, bọn tư bản dồn vốn vào Đơng Dương ngày càng nhiều, hòng
long đoạn nền kinh tế của ta. Chúng dùng sức mạnh của lưỡi lê, máy chémđể bắt
dân ta nhổ lúa trồng đay, thầu dầu, bơng, gai… để phục vụ cho chúng. Chúng đẩy
nhân dân ta vào cảnh khốn cùng, tạo nên bao cảnh bi ai, thống thiết :
“khóc ngơ rồi lại khóc chồng
khóc ngơ bị nhổ, khóc chồng đi phu”
Mục đích cướp bóc cho thật nhiều ngun liệu, thực phẩm để cung ứng cho
chiến tranh xâm lựoc của chúng khơng chỉ dừng lại ở đó. Phát xít Nhật còn cho bọn
tay chân đi tun truyền bịp bợm thuyết “khối thịnh vượng chung đại Đơng á”
hòng lừa gạt dân ta, hướng dân ta đi theo tư tưởng “võ sĩ đạo” để ngoan ngỗn
phụng sự cho đế quốc. Tệ hại hơn nữa là bọn tay sai của phát xít Nhật còn ru ngủ
tinh thần đấu tranh của quần chúng bằng giọng lưỡi: mượn Nhật đuổi Pháp rồi sẽ
đuổi Nhật.Nhưng thực chất bọn chúng chỉ muốn biến nhân dân ta trở thành những
“cơng cụ lao động” vơ tri, vơ giác; muốn biến những thành quả lao động vất vả của
người dân một nắng hai sương thành của cải riêng, phục vụ cho sự giàu có của đế
quốc.
Dưới hai tầng áp bức Nhật- Pháp, khắp nơi trên đất nước ta khơng nơi nào
khơng bị bao trùm cảnh khủng bố, đè nén, cướp đoạt. Khơng chỗ nào mà chỉ riêng
cơng nhân, nơng dân, tiểu tư sản phải lâm vào tình trạng điêu đứng, cực khổ mà
ngay cả giai cấp tư sản, địa chủ cũng đã phải trải qua những ngày tháng khốn đốn,
nguy ngập.
Trong những ngày cả nước rơi vào tình trạng “đói ăn, đói mặc…” thì trừ một
số địa chủ được Nhật- Pháp che chở đã cướp thêm được nhiều ruộng đất để kinh
doanh trong nơng nghiệp, cơng thương nghiệp với thực dân mà ngày càng trở nên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
giu cú, cũn i b phn a ch u ri vo tỡnh trng sa sỳt chung ca c nc.
Nguyờn nhõn l do a ch phi bỏn thúc lỳa cho bn thng tr vi giỏ r mt, tin
bỏn thúc khụng tin vn lm ra; kinh doanh b thua l; nht l tng lp trung,
tiu a ch b chốn ộp nng n, b ngõn kh cm rung i n phỏ sn. Ngay lỳc
quốc đã gieo rắc vào đầu họ “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” thực chất chỉ là cái
bề ngồi hư ảo. Còn bên trong lại là một sự thật bất cơng, sức lao động và trí óc họ
bỏ ra trong cơng việc chẳng kém gì, thậm chí còn hơn rất nhiều người Pháp nhưng
thành quả lao động_ở đây chính là lương mà họ nhân được lại khơng bằng 1/10 so
với người Pháp. Và ngay cả những trí thức làm ngề tự do như nhà văn, nhà báo…
cũng bị bạc đãi nặng nề, hoạt động tinh thần của họ khơng những bị bóp nghẹt mà
đời sống vật chất của họ cũng thật nguy khốn: “Thần chết với lưỡi liềm ác nghiệt
đang chờ sẵn trước ngưỡng cửa của nhà báo hàng ngày, hàng tuần. Và các nhà xuất
bản, nhà văn đã bị gieo rắc vào đó sự khủng bố và đe doạ cuộc sống của họ trong
từng giây, từng phút”.
ở thành thị, những người tiểu thương, tiểu chủ dưới sự thống trị của bọn thực
dân Nhật- Pháp lại có cuộc sống kém hơn cả tầng lớp trên.Để chống đỡ với nạn
khủng hoảng kinh tế, một bộ phận tiểu thương đã chạy sang sản xuất các ngành thủ cơng nhỏ để kiếm kế sinh nhai cho qua ngày
đoạn tháng. Nhưng tình trạng thiếu ngun liệu, cung cấp ngun liệu bấp bênh;
nguồn ngun liệu được cung cấp từ nơng dân bị phân hố nặng trong đó chế độ
thuế khố lại q khắc nghiệt mà người tiểu thương phải gánh chịu đã đẩy họ vào
tình cảnh đóng cửa, khơng còn chỗ đứng trong xã hội.
Đó là một số lớp người ở thành thị, còn ở nơng thơn thì giai cấp phú nơng là
những người mà ai cũng cho là “gia hữu vật lực” nhưng trong chiến tranh thế giới
lần thứ hai này thì biến đổi hẳn. Riêng việc bán thóc cho Nhật- Pháp là đã làm cho
họ phá sản một cách nhanh chóng. Bọn Nhật thi hành chính sách độc quyền và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
cng bc thu mua sn phm lng thc lm cho phỳ nụng nụng thụn mi mc
lờn b ngt ngn, thm chớ nhiu ngi lm nhiu nhng khụng np cho Nht-
Phỏp phi chy vy ch en mua thúc np cho Nht. Nm 1943, bn phỏt xớt thu
mua 1450 ng/1t thúc m giỏ thnh sn xut ni rung xu ó phi mt t 16 n
được mà ngày ngày họ húp cháo cám nhạt và đêm đêm họ sống tối tăm trong
những túp lều khơng có một tia sáng. Có lẽ trải qua các giai đoạn trong lịch sử,
chưa có hồi nào nơng dân hy sinh bằng hồi này”.
Đối với cơng nhân và cả thợ thủ cơng, đời sống của họ đã bị đẩy đến những
giờ phút điêu linh, khốn quẫn nhất. Những tháng đầu năm chiến tranh thế giới thứ
hai nổ ra đã có 6.000 cơng nhân mỏ bị sa thải vì xuất cảng bị đình trệ. Theo sự điều
tra của thực dân năm 1941, trong số 150.000 thợ dệt ở nơng thơn Việt Nam thì chỉ
có 45.000 người được cung cấp vải sợi. Nhà máythuỷ tinh Hà Nội năm 1940 sản
xuất được 5.900 tấn đến năm 1941 chỉ sản xuất được có 3.000 tấn.
Những số liệu trên đã làm cho người đọc đáng giật mình vì một tình cảnh
thiếu việc làm của những người cơng nhân Việt Nam. Tuy nhiên, những người có
việc làm trong các cơng xưởng của bọn đế quốc, thực dân thì cũng khơng phải đã
hồn tồn được sung sướng. Họ khơng chỉ bị áp lực nặng nề từ cơng việc mà còn
phải chịu những roi đòn tàn bạo của bọn thống trị. Vì thế “mỗi khi còi tầm, nếu ai
để ý nhìn người ở nnhà máy đi ra thì thấy cả một cảnh thương tâm, những thân hình
tiều tuỵ, mặt mũi đen nhọ nhưng vẫn khơng giấu nổi nước da vàng vàng, xám xám
và bì bì như sũng nước, biểu hiện sự đói cơm. Quần áo khơng những đụp vá nhiều
chỗ, nhiều màu mà còn để lộ cả da thịt là khác. Lũ người ấy bước đi một cách uể
oải, hầu như mất hết sinh lực và buồn thui thủi”
Người sản xuất ra của cải vật chất, người nắm yết hầu của nền kinh tế mà
bây giờ lại bị đói cực độ và khơng còn đường sinh sống. Vì thế, khắp nơi nơi trên
đất Việt đã đồng thanh thét vang lên những tiếng ốn hờn lũ giặc cướp nước:
“ác chi Nhật, Pháp bay ơi
Của thời cướp mất, người thời lơi đâu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Ca em ỳc sỳng, ỳc tu
Ngi em lm lu, lm cu, lm bia
Nu khụng sm git bay i
Cht ngi, ht ca dõn thỡ tan hoang
hoặc giữ thái độ trung lập.
Thái độ chính trị của các giai cấp thay đổi, tất nhiên sẽ làm cho thái độ và lực
lượng của các đảng phái cũng thay đổi. Lực lượng Đảng Cộng Sản được quần
chúng cách mạng tiếp sức nên càng vững mạnh thêm. Các đảng phái phản động
cũng chuyển biến, trong số thân Pháp nay đã ghét Pháp. Từ khi bại trận, Pháp đã
làm bại ln cả lòng tin của bọn tay sai đối với chúng. Một số ảo tưởng tin ở Nhật,
sau khi “người chủ” của họ đang tâm lúng túng cho thực dân Pháp vung gươm tàn
sát “Việt Nam phục quốc đồng minh” trên đất Lạng Sơn và nhiều nơi khác nữa đã
làm cho họ chán ngán và phân hố.Chỉ trừ những kẻ đầu xỏ phản động, ơm chân đế
quốc Pháp hay phát xít Nhật. Còn tất cả quần chúng lớp dưới của các đảng phái đó
đều chán ghét đế quốc, phát xít, họ có thể ngã theo cách mạng hoặc trung lập với
cách mạng. Ngay cả những tổ chức tơn giáo trước có khuynh hướng thân Nhật như:
Cao Đài thì nay phần đơng quần chúng tín đồ cũng ghét Pháp, chống Nhật.
Trong tình hình đó, Nguyễn ái Quốc quyết định về nước (28-1-1941), trực
tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Ngày 8-2-1941, Người đặt cơ quan
tại Pắc Bó (Cao Bằng). Sau một thời gian nắm tình hình và chuẩn bị, Nguyễn ái
Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung Ương Đảng ở
Pắc Bó từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941. Tham gia Hội nghị có các đồng chí trong
Ban chấp hành Trung ưong, một số đại biểu của xứ uỷ Bắc Kì, Trung Kì và một số
đại biểu hoạt động ở nước ngồi.
Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm tính chất của cuộc Chiến tranh
thế giới thứ hai. Từ đó nhận định phe phát xít nhất định sẽ thất bại, phe đồng minh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
chng phỏt xớt chc chn s ginh c thng li. Ch ngha quc s suy yu v
phong tro cỏch mng th gii s phỏt trin mnh m.
V tỡnh hỡnh ụng Dng, Hi ngh nhn nh t khi bựng n chin tranh,
cỏc tng lp nhõn dõn ụng Dng u b iờu ng, quyn li tt c cỏc giai cp
u b cp git. Nhim v ỏnh Phỏp ui Nht khụng phi l nhim v riờng ca
giai cp cụng nhõn v nụng dõn m l nhim v chung ca ton th nhõn dõn ụng