Phần mở đầu.
Được gọi là một ngành công nghiệp không khói, với tốc độ phát triển nhanh
và được coi là ngành kinh tế hàng đầu của thế giới thì du lịch đóng vai trò vô cùng
quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu. Đối với nước ta, qua các chỉ tiêu về lượng
khách, thu nhập, cơ hội việc làm và tỉ trọng GDP thì ngành du lịch đã khẳng định
được vai trò và vị thế của nó trong nền kinh tế quốc dân. Nó đã đóng góp một phần
vô cùng quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh
xã hội, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, góp phần bảo vệ môi trường, giữ
vững an ninh, quốc phòng cho đất nước. Chính vì vậy, qua pháp lệnh Du lịch
(1999) Đảng và Nhà nước ta đã xác định “du lịch là một nền kinh tế tổng hợp quan
trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa
cao”, và từ đó đã định hướng rằng “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan
trọng trong đường lối phát triển kinh tế- xã hội nhằm góp phần thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Chỉ thị 46/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng
khóa VII, 1994). Với mục tiêu là “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành
kinh tế mũi nhọn” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, 2001). Ngoài
ra, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế- xã hội năm 2011-
2012 dựa trên tinh thần “đoàn kết, năng động, sáng tạo, đẩy mạnh sự nghiệp văn
hóa, thể thao và du lịch phát triển hiệu quả, bền vững” (Theo nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ XI). Qua đó chúng ta có thể thấy được việc phát triển kinh doanh
ngành du lịch đối với nền kinh tế nước nhà là có ý nghĩa vô cùng lớn lao và quan
trọng. Chính vì vậy, đối với mỗi cơ hội để phát triển ngành du lịch (mặc dù là rất
nhỏ) thì Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng cần phải nắm bắt rồi nghiên cứu, tìm
hiểu một cách kỹ lưỡng để từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch nhằm góp
phần làm phát triển nền kinh tế đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân ta.
Trong năm vừa qua, tình hình kinh tế- xã hội nước ta bị ảnh hưởng bởi bối cảnh
kinh tế Thế giới là vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng và suy thoái. Với khủng
hoảng nợ công ở Mỹ và một số nước Châu Âu như Hi Lạp, Italia…cùng với sự bất
ổn về chính trị, thiên tai, lũ lụt, động đất, sóng thần ở một số nước trên thế giới đã
tác động rất lớn đến nền kinh tế và hoạt động du lịch ở nước ta. Tuy vậy, năm 2011
những chính sách, sách lược và những hành động cụ thể nhằm giữ vững và xứng
đáng với danh hiệu to lớn mà Vịnh Hạ Long đã đạt được. Trước nhận định đó, em
đã xây dựng bài viết “cơ hội và thách thức phát triển du lịch Vịnh Hạ Long sau khi
được công nhận là kỳ quan thiên nhiên thế giới” với sự hướng dẫn và giúp đỡ của
thầy giáo Nguyễn Văn Mạnh. Trong bài viết còn nhiều sai sót mong thầy chỉ bảo
để lần sau em xin sửa chữa. Em xin chân thành cảm ơn!
Chương 1: Tổng quan về Vịnh Hạ Long
1.1- Nguồn gốc, xuất xứ tên gọi Vịnh Hạ Long.
Được hình thành lâu đời từ những kiến tạo địa chất. Tuy nhiên, với trí tưởng tượng
phong phú cùng với tâm niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, người Việt thời
tiền sử giải thích sự xuất hiện của Vịnh Hạ Long qua một số những truyền thuyết
gắn liền với hình ảnh con vật linh thiêng nhất trong tâm trí người Việt, đó chính là
con Rồng. Một truyền thuyết kể rằng. Khi đất Việt bị giặc xâm chiếm, Ngọc
Hoàng đã phái Rồng mẹ cùng với đàn con xuống hạ giới giúp người Việt đánh tan
giặc. Khi đất nước thanh bình, thấy con người cần cù, yêu thương lẫn nhau cùng
với phong cảnh tuyệt đẹp Rồng mẹ cùng các con ở lại giới và đã biến thành những
đảo đá trên biển, tạo nên phong cảnh hung vĩ và làm thành bức tường thành vững
chắc giúp nhân dân ngăn chặn những chuyến thuyền của giặc. Nơi Rồng mẹ nằm
xuống chính là Vịnh Hạ Long ngày nay, nơi Rồng con đáp xuống chính là Bái Tử
Long và vùng Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) chính là nơi mà đàn rồng
quẫy đuôi làm nước tung trắng xóa cả một vùng. Truyền thuyết khác lại kể rằng,
vào thời kỳ nọ khi đất nước bị xâm lấn đã có một con rồng bay dọc theo sông xuôi
về phía biển và hạ xuống vùng ven biển Đông Bắc tạo thành bức tường thành chắn
thủy quân của giặc. Chỗ rồng nằm xuống che chở cho đất nước gọi là Hạ Long.
Tên Hạ Long đã thay đổi nhiều lần qua các thời kỳ của lịch sử, gọi là Lục Châu,
Lục Hải hay An Bang, Hoa Phong, Hải Đông…Tên gọi Hạ Long có nghĩa là rồng
đáp xuống mới xuất hiện trong một số thư tịch và bản đồ hàng hải của Pháp từ cuối
thế kỷ 19. Theo tờ Tin tức Hải Phòng bằng tiếng Pháp đã viết về sự xuất hiện của 1
sinh vật giống con rồng trên khu vực Vịnh Hạ Long theo sự chứng kiến của viên
thuyền trưởng tàu Avalence, một thiếu úy người Pháp tên là Legderin cùng với các
nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùa khô nhất
trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau). Hệ thủy triều của vịnh Hạ Long đặc
trưng với mức triều cường khoảng 3,5-4m/ngày. Độ mặn trong nước biển vùng
Vịnh dao động khoảng 31 đến 34.5MT vào mùa khô, vào mùa mưa mức này có thể
thấp hơn. Vịnh Hạ Long có mực nước biển khá cạn có độ sâu chỉ khoảng 6m đến
10m và bề mặt các đảo không giữ nước.
(Theo www.dulich-halong.net)
1.2.3- Dân số
Trong số tất cả các đảo thì hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, qui
mô những đảo này từ vài chục đến hàng ngàn hecta chủ yếu tập trung ở phía Đông
và Đông Nam của vịnh. Trong nhiều năm gần đây, đã có nhiều vạn chài sống trôi
nổi trên mặt nước bắt đầu lên định cư trên một số đảo biến những đảo hoang sơ trở
thành trù phú và có dân cư đông đúc như hiện nay như đảo Sa Tô (thành phố Hạ
Long) và đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).
Vịnh Hạ Long có dân số khoảng 1.540 người, tập trung nhiều ở các làng đánh cá
như Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long).
Dân cư sống phần lớn ở trên thuyền, trên nhà bè để tiện cho việc đánh bắt, nuôi
trồng và lai tạo các giống thủy, hải sản. Ngày nay, nhờ vào việc phát triển kinh
doanh du lịch mà cuộc sống người dân ở đây đã được nâng cao hơn.
1.1- Cảnh quan.
Vùng di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (vùng lõi- khu vực bảo
vệ I) có diện tích 434km², như một hình tam giác được giới hạn bởi ba đỉnh là đảo
Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), gồm
775 đảo lớn nhỏ với nhiều hang động và bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm) là di
tích danh thắng quốc gia đã được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm
1962 . Địa hình chủ yếu của Hạ Long là đảo, núi xen kẽ ở giữa là các trũng biển,
đây là vùng đất mặn có S ú V ẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên một
cảnh quan tuyệt thế với những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động được
tạo thành bởi các yếu tố tự nhiên là: đá, nước và bầu trời.
1.3.1- Các hang động của Vịnh Hạ Long
gươm dài và ở trong lòng hang có những ao hồ nhỏ như trông giống như vết chân
ngựa của Thánh Gióng.
• Động Thiên Cung:
Nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, động Thiên Cung có độ cao 25m so với mực
nước biển. Khi bước vào, lòng động đột ngột mở ra một không gian có tiết diện
hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với các măng đá như một đền đài mỹ lệ.
Vách động cao, thẳng đứng được bao bởi các nhũ đá và trên mỗi vách động ấy
thiên nhiên đã khảm vào rất nhiều hình thù kỳ lạ, lý thú thu hút du khách. Động có
4 cột trụ lớn ở giữa động mà từ các chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi các hình
thù như chim, cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành. Có những thạch nhũ
với hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát… Trần hang có những hình
điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc…Tất cả đều do bàn tay nhào
nặn của tạo hóa qua hàng vạn năm mà tạo thành.
• Hang Đầu Gỗ:
Nhìn từ cửa Suốt vào hòn Canh độc, sẽ thấy đầu của hòn núi nhô ra trông như đầu
một cây gỗ nổi lập lờ trên mặt nước. Trên hai "đầu gỗ" có hai hốc lõm vào, trông
giống như "mắt gỗ" mà người thợ sơn tràng thường khoét vào đầu gỗ dể tiện cho
việc kéo gỗ khi khai thác. Những cư dân vạn chài đã căn cứ vào hình dáng đó mà
đặt tên là hang Đầu Gỗ, nơi họ thường lưu lại mỗi khi nghỉ ngơi, tránh dông bão.
Khi người Pháp lập bản đồ khu vực này đã theo như lời kể của cư dân mà ghi tên
thành hang "daugo”.
Cửa hang ở lưng chừng vách núi với lòng hang được chia làm ba ngăn chính. Ngăn
đầu có hình vòm cuốn ngập tràn ánh sáng tự nhiên, trần hang thì giống như một
bức tranh lớn vẽ cảnh thiên nhiên hoang sơ với những đàn voi, những chú hươu
sao, sư tử trong những tư thế thật sinh động. Nền hang là một rừng măng đá, nhũ
đá có nhiều mầu với những hình thù hiện ra theo từng trí tưởng tượng của mỗi
người. Ở giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ có những hình mây bay, long
phượng, hoa lá…Ngăn thứ bắt đầu bằng một khe cửa hẹp, lòng hang mở ra với ánh
sáng bên ngoài chiếu vào mờ ảo khiến những bức tranh đá trở nên long lanh, ẩn
hiện như hư ảo. Trong cùng hang có một giếng nước ngọt với những hình tượng
Long (vùng lõi), một phần vùng đệm là vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc
quần đảo Cát Bà.
Mỗi đảo trên vịnh có các hình thù riêng không hề giống nhau hay giống bất kỳ một
hòn đảo nào của vùng biển Việt Nam. Có những nơi, các đảo quần tụ lại nhìn từ xa
cứ ngỡ là chồng chất lên nhau, nhưng có những chỗ các đảo lại đứng ngang dọc
xen kẽ với nhau tạo thành tuyến dài hàng chục kilômét như một bức tường thành
vững chắc để. Đây là một thế giới sinh linh được sống trong những hình hài bằng
đá. Có đảo thì giống như một khuôn mặt hướng về phía đất liền (hòn Đầu Người),
có đảo thì giống như con rồng bay trên mặt nước (hòn Rồng), có đảo lại giống như
một ngư ông đang ngồi câu cá (gọi là hòn Lã Vọng), còn có đảo thì giống hai cánh
buồm rẽ sóng ra khơi (hòn Cánh Buồm), đảo thì lại lúp xúp trông giống như mâm
xôi cúng (hòn Mâm Xôi)
Ngoài những đảo được đặt tên qua việc căn cứ vào hình dáng thì có những đảo lại
được đặt tên theo sự tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu),
hay căn cứ vào các đặc sản sẵn có ở đảo như hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến Vàng, đảo
Khỉ v.v…
• Hòn Con Cóc:
Nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12km về phía Đông Nam trên vịnh
Hạ Long. Hòn Con Cóc là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng trông
như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m nên được đặt tên là
Hòn Con Cóc.
• Hòn Trống Mái
Là một hòn đảo rất nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn Trống Mái nằm kề hòn Đỉnh
Hương ở phía Tây Nam của Vịnh cách với cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5km.
Hòn Trống Mái gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà (một trống, một mái)
cao hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh rất riêng biệt.
• Đảo Ti Tốp:
Thời Pháp thuộc đảo Ti Tốp có tên là hòn Cát Nàng thuộc vịnh Hạ Long và cách
Bãi Cháy 14km về phía Đông. Đảo được đặt tên Ti Tốp khi chủ tịch Hồ Chí Minh
đến thăm Hạ Long cùng với nhà du hành vũ trụ người Nga Gherman Titov vào
sông hồ Karst. Ở đây, vịnh Hạ Long là kiểu địa hình hang động Karst và Karst
ngập nước. Như vậy làm cho giá trị địa chất, địa mạo của Vịnh Hạ Long trở nên
mang tầm quốc tế và độc nhất vô nhị trên toàn thế giới.
Nguyên nhân cụ thể hình thành kiểu hang động Karst và Karst ngập nước của Vịnh
Hạ Long là do sự hoạt động trồi lên của các khối xâm nhập nông á núi lửa trẻ
(XNNANLT). Các khối XNNANLT kết hợp với việc nâng các lớp đá vôi lên cao
làm phát sinh ra động đất, đứt gẫy và núi lửa. Tại những nút giao điểm của các đứt
gẫy hay các đới đứt gẫy lớn, núi lửa phun lên làm biến chất đá vôi làm đá vôi thành
vôi sống ( CaO) có đặc tình là dễ hoà tan trong nước, đồng thời mang vào các điểm
đứt gẫy, khe nứt của đá vôi là dăm, cuội, dung nham núi lửa và nước ngầm. Trong
môi trường nước dung nham bị biến thành bùn, sét - kaolin mềm và nhão dễ bị
nước cuốn trôi hoặc lắng chìm vào các khe nứt, lỗ hổng do nặng hơn đá vôi từ 0,3 -
0,4 g/cm3. Nước thì đóng vai trò làm quét lòng hang, các thung lũng giữa núi đá
vôi làm cuốn trôi vôi sống, bùn, sét – kaolin tạo thành các thạch nhũ.
Vịnh Hạ Long trải qua quá trình tiến hóa carxtơ trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp
các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu đặc trưng nóng ẩm với quá trình kiến tạo
chậm chạp trên tổng thể thành nhiều dạng địa hình carxtơ như kiểu Phong Tùng
(fengcong) gồm một cụm đá vôi thường là có hình chóp nằm kề với nhau, đỉnh cao
trên dưới 100m và có đỉnh cao nhất khoảng 200m hay như kiểu Phong Linh
(fenglin) có các đỉnh tách rời nhau tạo thành tháp có vách dốc đứng, có độ cao
khoảng 50-100m.
Cánh đồng carxtơ của Hạ Long là lòng chảo rộng được phát triển trong các vùng
carxtơ có bề mặt khá bằng phẳng, thường xuyên bị ngập nước được tạo thành theo
các phương thức như nhờ sự kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào hay nhờ sụt trần
của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm hay nhờ tồn tại các tầng đá không
hòa tan bị xói mòn nằm giữa vùng địa hình carxtơ cao hơn vây quanh mà hình
thành…
Ngoài ra Vịnh Hạ Long còn bao gồm địa hình carxtơ ngầm là hệ thống các hang
động đa dạng trên Vịnh chia làm ba nhóm chính là: nhóm di tích các hang ngầm cổ
như hang Sửng Sốt, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long, v.v. Nhóm hang
Vịnh Hạ Long là một mẫu hình tuyệt vời về địa hình Karst trưởng thành trong điều
kiện nhiệt đới ẩm. Qúa trình tiến hóa Karst nơi đây trải qua 20 triệu năm nhờ sự
kết hợp hoàn hảo của nhiều yếu tố. Địa hình Karst khu vực Vịnh Hạ Long trải qua
5 giai đoạn phát triển bao gồm: Giai đoạn đầu là một đồng bằng cổ hoặc một cảnh
quan bằng phẳng kế thừa, giai đoạn hai là sự phát triển của địa hình phễu Karst,
giai đoạn ba là giai đoạn hình thành các cụm đồi hình chóp, hình nón liên kết nhau;
đến giai đoạn bốn thì phát triển thành các tháp cao có vách dựng đứng tách rời
nhau và đến giai đoạn cuối cùng là hình thành đồng bằng Karst.
- Hệ thống hang động của vịnh Hạ Long bao gồm ba nhóm chính:
Nhóm hang ngầm cổ:
Như các hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang
Đầu Gỗ… Các hang động này phần lớn đều là những lối thông thoát nước từ các
phễu Karst của các hang ngầm cổ được tạo ra từ dưới mặt đất. Ngày nay, chúng
nằm ở những độ cao khác nhau với lối đi dốc và khoảng chênh vênh lớn.
Nhóm hang nền karst cổ:
Tiêu biểu như: hang Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống. Nhóm hang này
được tạo thành khi quá trình karstơ đạt đến xâm thực mở rộng ngang tại mức cơ sở
và đóng vai trò thoát nước từ hệ thống hang ngầm lớn hơn trong lòng khối đá vôi.
Chúng có lối thông gần như nằm ngang và thường có quan hệ với các thềm bào
mòn đá hoặc thềm tích tụ nằm ngang mức cơ sở.
Nhóm hang hàm ếch:
Là nhóm hang nổi bật của Karst ở Vịnh Hạ Long. Được tạo thành bởi quá trình hòa tan đá vôi vào nước
biển được tăng cường nhờ hoạt động của sóng và thủy triều. Ở điều kiện thuận lợi, hàm ếch được khoét
sâu thành hang nhỏ, có khi xuyên qua các khối núi đá vôi tạo thành hang luồn nối với các hồ nước hay
vụng nước biển. Hang có đặc trưng là có mái trần nằm ngang, phẳng, cắt ngang qua khối đá vôi. Hang
hàm ếch biển không chỉ được tạo ra ở mực nước biển hiện tại, mà còn liên quan đến các mực biển cổ
dao động trong biển tiến Holoxen, có khi là với cả mực biển cổ Pleitoxen.
Cảnh quan Karst Vịnh Hạ Long:
Có ý nghĩa quốc tế và có tính nền tảng cho khoa học địa mạo. Một đặc điểm vô
cùng quan trọng tạo nên sự độc nhất vô nhị của cảnh quan Karst Vịnh Hạ Long đó
• Hệ sinh thái đất ngập nước:
• Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên Vịnh: gồm có 20 loài thực vật
ngập mặn, đây còn là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển,
200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác.
• Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: chủ yếu tập trung ở Hang Trai, Cống
Đỏ, Vạn Giò…Ở đây có đến 232 loài san hô đã được tìm thấy. Rặng sinh
thái này là nơi cư trú của 81 loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài
giun nhiều tơ và 57 loài cua.
• Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: Đây là dạng sinh thái tiêu biểu của
Vịnh Hạ Long và hiếm nơi có được. Trong đó có khu vực Tùng Ngón là nơi
cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy cùng với 18 loài rong biển.
Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
• Dạng sinh thái đáy mềm: Là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển gồm 5 loài.
Có tới 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể và 9 loài
giáp xác sinh sống.
• Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: Những sinh vật sinh sống
ở đây chủ yếu là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị
dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao v.v.
• Hệ sinh thái biển:
• Thực vật phù du: Ở vịnh Hạ Long có 185 loài thực vật phù du.
• Động vật phù du: Theo thống kê thì vùng Hạ Long-Cát Bà có 140 loài động
vật phù du sinh sống.
• Động vật đáy: Có đến 500 loài động vật đáy, gồm có 300 loài động vật
nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ và 13 loài da gai.
• Động vật tự du: Có 326 loài động vật tự du.
Theo đánh giá thì hệ thực vật ở vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, loài thực vật có
mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong đó có 16 loài nằm trong sách đỏ của Việt
Nam. Về những loài thực vật quý hiếm thì có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài
cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau.
Các đảo ở đây có nhiều loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là những loài cư
khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên. Các di vật còn lại chủ yếu là sản
phẩm được sử dụng làm thức ăn như ốc núi (cyclophorus) và ốc suối (melania),
một số hóa thạch của nhuyễn thể nước ngọt với một số công cụ lao động thô sơ
tích tụ cấu tạo thành tầng văn hóa. Phương thức sống chủ yếu của cư dân Soi Nhụ
là bắt sò, ốc, hái lượm, đào củ, đào rễ cây, biết bắt cá nhưng chưa có nghề đánh cá.
So sánh với các cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn đương thời thì cư dân
Soi Nhụ sống gần biển hơn nên chịu sự chi phối từ biển nhiều hơn, trực tiếp hơn.
Bên cạnh nền văn hóa Soi Nhụ là nền Văn hóa Cái Bèo, cách ngày nay khoảng
7000-5000 năm trước Công Nguyên, đây là giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi
Nhụ trước đó với văn hóa Hạ Long về sau. Di chỉ khảo cổ Cái Bèo tập trung chủ
yếu ở đảo Cát Bà (Hải Phòng) và Giáp Khẩu, Hà Gián thuộc vịnh Hạ Long. Văn
hóa Cái Bèo là một trong những bằng chứng chắc chắn về sự đương đầu với biển
khơi từ rất sớm của người Việt cổ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác
biệt vào một dòng văn hóa đá cuội truyền thống lâu đời ở Việt Nam và khu vực
Đông Nam Á. Phương thức cư trú và sinh sống của người cổ đại Cái Bèo ngoài săn
bắt hái lượm đã có thêm nghề khai thác sản vật từ biển.
Việc phát hiện ba nền văn hóa trên đã thể hiện những giá trị nhất định, cho thấy
vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân
loại. Không chỉ dừng lại ở những phát hiên đó, trong những năm gần đây qua các
cuộc khảo cứu vẫn tiếp tục hé lộ những bất ngờ mới mà một trong số đó là sự phát
hiện di chỉ Đông Trong vào năm 2006. Tại đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện được
di cốt của người tiền sử, rìu đá, các mảnh nồi gốm, trầm tích nhuyễn thể được sử
dụng làm thức ăn và hàng trăm hạt chuỗi làm từ vỏ ốc. Đây là một trong ba khu
vực trên vùng vịnh Hạ Long tìm thấy di cốt người tiền sử sau Soi Nhụ và hòn Hai
Cô Tiên.
• Chứng tích lịch sử, văn hóa và phong tục
Vịnh Hạ Long là nơi gắn liền với những trang sử của dân tộc Việt Nam trong cả
thời kỳ dựng nước và giữ nước với các địa danh như Vân Đồn, nơi có hải cảng cổ
tại miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ 12. Sự hình thành cảng Vân Đồn được sách Đại
Việt sử ký toàn thư mô tả như sau: "Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa
1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính Phủ).
Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học
Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển.
Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu
bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha, tuy
hiện nay vẫn chưa thực hiện được.
• Di sản thế giới lần 1: Gía trị thẩm mỹ
Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về
cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên
nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và
chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần
lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu,
thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại
hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di
sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới
với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí vii), theo tiêu chuẩn của
Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.
• Di sản thế giới lần 2: Gía trị địa chất địa mạo
Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Giáo sư
Tony Waltham, chuyên gia địa chất học trường Đại học Trent Nottingham đã tiến
hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi carxtơ vịnh Hạ Long. Giáo sư đã gửi bản báo
cáo về giá trị địa chất vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại
Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long. Ngày 25 tháng 2 năm
1999, sau khi nhận được báo cáo của giáo sư Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư
tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và
Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO
công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long.
Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ
Long về giá trị địa chất hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại