phan tich bài Tràng Giang của Huy Cận - Pdf 27

Đề bài: Phân tích bài thơ Tràng Giang của Huy Cận (Bài Hay)
Nguyễn Thị Ngọc Trâm lớp 11A trường THPT Cao Bá Quát - Hà Nội
Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ “Lửa thiêng”. Nó phản ánh một nỗi
buồn mênh mông da diết, một thiên nhiên khoáng đạt nhưng buồn. Đó là nỗi buồn dường như vô cớ
siêu hình nhưng trong tận cùng sâu xa thì đây chính là nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn về quê hương đất
nước.
Hai dòng thơ đầu là một cặp chứa đựng nghệ thuật đối của Đường thi. Trên cái nền mênh mông của
sóng nước tràng giang, Huy Cận cho xuất hiện một hình tượng chiếc thuyền nhỏ nhoi điểm nhãn cho
bức tranh ấy có thần.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song”.
Câu đầu cho thấy mối quan hệ tác động giữa khách quan và chủ quan. Dòng tràng giang xuất hiện
những cơn sóng rất nhẹ, thế nhưng nó có khả năng gợi lên những lớp sóng trong tâm hồn người rất
dữ dội. Sóng nước tràng giang tạo nên sóng buồn “điệp điệp” trong lòng người. Tràng giang gợi cho
ta vè một con sông dài thế nhưng vần “ang” đã cộng hưởng với nhau tạo ra một tiếng vang. Theo
Xuân Diệu thì tràng giang không chỉ là sông dài mà còn là sông rộng, sông sâu. Nó không chỉ là con
sông gợi gợi tới Hồng Hà, là con sông tạo cảm hứng cho bài thơ này – hay sông La dòng sông quê
hương của tác giả, dòng sông đã thổi vào hồn cho “Tràng giang” – mà nó còn là con sông của thời
thế, con sông cuộc đời. Con sông ấy bắt đầu từ một quá khứ mông lung, nó chảy lửng lờ giữa lòng vũ
trụ rồi nó trôi đến tương lai cũng hết sức mông lung.
Giữa những lớp sóng của nỗi buồn hiu hắt xuất hiện hình tượng một con thuyền thật cô đơn trong
buổi chiều tàn. Cũng hình ảnh này, trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã cho bao thế hệ độc giả cảm
nhận được dư vị bàng bạc của nỗi buồn:
“Gác mái như ông về viễn phố”
Còn con thuyền của Huy Cận thì không có bóng ngư ông, cũng không có ai chủ động gác mái chèo và
không hề có một bến xa nào chờ đợi nó. Thơ Huy Cận chứa đựng một nỗi buồn trần thế ở bên trong,
nên ta có thể hiểu con thuyền ấy là thân phận của con người. Tràng giang ấy chính là dòng đời bạc
bẽo, cho nên con thuyền không thể trôi trên nước mà “song song” với nước.
Trong thực tế thuyền không “song song” với nước vậy thì không có quan hệ ngược chiều “thuyền về
nước lại”. Rõ ràng ở đây con thuyền ấy vẫn lầm lũi trôi về xa và dòng nước “song song” đã không còn
đồng hành với thuyền. Nó quay trở lại mặc cho thuyền trôi. Đó là sự ngoảnh mặt quay lưng của cuộc

Trời càng về chiều những vạt nắng như được đổ từ trên cao xuống thấp, càng về chiều càng có sự
phân biệt sáng tối; dưới đất sẫm màu, trên trời vàng rực nắng. Do đó ánh sáng càng xuốn thì trời
càng bị đẩy lên cao. Nhìn vào bầu trời cao vút ta có cảm giác không gian như lộn ngược, ta cứ nghĩ
rằng mình đang rơi xuống một cái hang sâu thăm thẳm. Vì thế mà ba tiếng “sâu chót vót” được dùng
ở đây rất hay và vô cùng độc đáo.
Sau chiều dọc thì chúng ta gặp một chiều ngang, chiều rộng:
“Sông dài, trời rộng bến cô liêu”
Ở cái hệ tọa độ ba chiều ấy ta thấy xuất hiện một giá trị mong manh, nhỏ nhoi, cô độc là “bến cô
liêu”. Tự nó mang ý nghĩa biểu tượng cho một kiếp người đáng thương trong vũ trụ bao la, mênh
mông.
Đến khổ thơ thứ ba đành phải quay lại với mặt nước tràng giang, vì đâu đâu cũng tràn ngập bầu
không khí ảm đảm, đau thương. Giờ đây không chỉ có một con thuyền, một cành củi, một thân phận
cá nhân mà là số phận nổi trôi của cả cộng đồng vì không biết sẽ về đâu.
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”
Câu thơ tiếp theo mong ước sẽ có một sự vật đâm ngang, lao vút qua dòng tràng giang để chủ động
tìm một giá trị gì đó cho chính mình. Ở đây ước muốn có một chiếc đò ngang chờ người nối hai bờ vui
đã đối lập chua chat với hiện thực. Tràng giang đã phủ định tuyệt đối bằng chữ “không” với cái mong
ước nhỏ bé ấy.
“Mênh mông không một chiếc đò ngang”
Câu thơ tiếp theo là một khát vọng đã được giảm thiểu:
“Không cầu gợi chút niềm thân mật”.
Thôi thì không có chuyến đò ngang ta chỉ cần một chiếc cầu để nối bờ của “cồn nhỏ”, “gió đìu hiu” với
bờ có cây xanh và bãi cát vàng. Vậy mà chiếc cầu ấy cũng không hề có thực. Nhà thơ cảm thấy nhận
được sự cô đơn lạc loài đang vây bủa. Khát vọng không phải lênh đênh như thuyền với cành củi khô,
như cánh bèo dạt trôi; kháy vọng muốn thoát khỏi bờ sông lãnh lẽo, hoang vắng đã khiến cho nhà thơ
hướng tới mong muốn hòa nhập vào xã hội để tìm kiếm sự đồng cảm, giao tiếp với con người. Và thật
thất vọng biết bao nhiêu với một dấu hiệu nhỏ mong “gợi chút niềm thân mật” với xã hội loài người
cũng không có nốt.
Không thể thực hiện được điều mình ước muốn, nhà thơ đành ngậm ngùi sống với khát vọng thầm kín
bằng nỗi buồn lặng lẽ và đôi mắt mong ngóng:

Khói sóng là một yếu tố khách quan bên ngoài, nó gợi lên cho Thôi Hiệu một nỗi nhớ nhà:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
(Tản Đà dịch)
Nhưng đến Huy Cận thì không cần có khói sóng tức là không có sự gợi ý của khách quan mà vẫn nhớ
nhà. Như vậy nhờ nhà đã có sẵn trong nhà thơ, bó bộc lộ trực tiếp mà không cần có một sự gợi ý bên
ngoài.
Thực ra dù không có khói sóng nhưng đọc ba câu thơ trên ta thấy có rất nhiều yếu tố khiến Huy Cận
nhớ nhà. Đó là những núi bạc, là cánh chim chiều trút cô đơn để bay về nơi hạnh phúc, là một khối
“lòng quê” đang “dợn dợn vời con nước”. Bao nhiêu yếu tố ấy cũng đã đủ sức gợi nhớ quê hương đâu
cần gì phải có khói sóng trên sông.
“Trang giang” là một trong những bài thơ rất đặc sắc, “rất Huy Cận”. Với những nét bút chấm phá
thân tình về tạo vật, tâm sự nhẹ nhàng mà thâm trầm của một tâm hồn trẻ vội sớm già đã có khả
năng đối thoại thấm thía với người đọc về vũ trụ trong ngọn lửa thiêng hội tụ lẽ sống nhân sinh mang
tính “lương” và chất “thiện”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status