Website:
Email :
Tel :
0918.775.368
Biện chứng cái đẹp trong xã hội
Từ thời nguyên thuỷ, khi loài người mới xuất hiện, nhu cầu về cái
đẹp đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Những bức tranh tả cảnh
săn bắn: Con bò rừng, con bê rừng, đàn hươu phương Bắc hay bức tượng
mang vẻ đẹp chức năng: Bà tổ mẫu – vệ nữ Vilenđooc đã được các nghệ
sỹ nguyên thuỷ sáng tác trên vách đá ở các hang động nổi tiếng ântmiara,
Phôngđờgom. Niô,látcô, Côngbaren v.v… bằng than đen, đá đỏ, đất vàng
từ thời hạ kỳ đồ đá cũ (Máchđalênien) cách đây khoảng 30.000 năm là
một minh chúng hùng hồn cho nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu làm đẹp hang
động – nơI họ cư trú và cao hơn là nhu cầu tâm linh.
Cũng như các khoa học khác, xuất phát từ đặc thủ riêng mang tính
khu biệt, mỹ học có đối tượng nghiên cứu của mình. Trong cái đa dạng,
phức tạp và phong phú của tự nhiên và xã hội con người, mỹ học xuất
hiện như một “khoa học diệu kỳ”. Đó là khoa học nghiên cứu các mối
quan hệ thẩm mỹ, các hiện tượng thẩm mỹ trong không gian thẩm mỹ
của con người. Mỹ học nghiên cứu các quy luật chung nhất của sự hình
thành, phát triển và biểu hiện của cái thẩm mỹ trong đời sống con người.
Con người tồn tại giữa một đời sống thẩm mỹ, giữa không gian bao
la và thời gian vô tận. Đời sống thẩm mỹ tồn tại dưới hai dạng: đời sống
vật chất và đới sống tinh thần. Đời sống vật chất là những giá trị thẩm
mỹ tồn tại dưới dạng vật thể đồ vật (Tangible) có thể nhìn thấy, sờ thấy.
Đời sống tinh thần là những giá trị thẩm mỹ phi vật thể (Intangible), chỉ
có thể nghe thấy, cảm thấy...
Nhưng, dẫu có tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần, vật thể hay
phi vật thể, các giá trị thẩm mỹ đều phải hướng tới Chân – Thiện – Mỹ.
quan tài, bia mộ và những vong hoa, nhạc hiếu… tiễn đưa.
Cái đẹp hiển nhiên đã trở thành nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu
của mỗi cá nhân trong cộng đồng, mỗi dân tộc và nhân loại.
2
Người hành phúc nhất là suốt cuộc đời được sống trong một môi
trường, không gian, hệ sinh thái thẩm mỹ - được sáng tạo và thưởng
thức, tiếp nhận cái đẹp - đó chnhs là ý nghĩa nhân văn của cái đẹp.
Cái đẹp có mắt tất cả mọi nơi, mọi lúc dưới dạng vật chất hay tinh
thần. Ta có thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy, cảm thấy bằng các giác
quan.
Cuộc sống không thể thiếu cái đẹp, cái đẹp bất biến, trường tồn với
đời sống con người. Cái đẹp trong thiên nhiên với ảnh quan sông núi,
hoa lá, chim muông, cái đẹp của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông v.v… Cái
đẹp tiềm ẩn trong đời sống con người biểu hiện qua văn hoá úng xử, cái
đẹp của tâm hồn, đạo đức, trí tuệ, tư tưởng, cái đẹp giúp con người ngày
càng hoàn thiện hơn, càng nâng cao đạo đưc, trí tuệ góp phần xây dựng
nhân cách con người mới. Nhà văn Xô Viết Đôstôiépxki đã từng viết:
“Cái đẹp cứu rỗi nhân loại hay Nhu cầu về vẻ đẹp và sự sáng tạo thể hiện
vẻ đẹp đó gắn bó keo sơn với con người và nếu không có nó, có lẽ con
người sẽ không còn muốn sống trên đời này”.
Nhà thơ người Đức H.Hainơ yêu cái đẹp đến mức ông coi cái đẹp
chính là cuộc sống của băn thân mình. Trước vẻ đẹp tyệt vời của vệ nữ
Milô, ông đã đến khóc giã từ. Nhà viết hài kịch thiên tài thế kỷ XVII
Môlie đã sáng tạo cái đẹp đến phút cuối cùng của đời mình trên sân
khấu. Ông đã chết trong đêm diễn thứ 4 vở “Người bệnh tưởng”. Trưới
khi dùng súng lục kết thúc cuộc đời đau khổ và nghiệt ngã của mình
ngày 27 – 7 – 1890, thiên tàI hội học Hà Lan Van Gốt đã để lại cái đẹp
thiên thu trên bức chân dung tự hoạc sau khi đã cắt tai tặng người yêu
(Bức tranh này đã bán với một giá khoảng 72,5 triệu đô la). Nhạc lỹ
thiên tài người Đức Betoven đã để lại cái đẹp trác tuyện trong âm thanh
hoà nhịp như thế nào đó giữa các phần trong cái tổng thể mà chúng tạo
thành, sự hoà hợp và hoà nhịp này phải đáp ứng những số liệu chặt chẽ,
đáp ứng sự tổ chức và bài trí mà sự hài hoà - tức cái nguyên lý tuyệt đối
và khởi nguyên của tự nhiên đòi hỏi”.
4
Đối lập với quan điểm duy vật, các nhà Mỹ học duy tâm chủ quan
thì “Cái đẹp không phải là phẩm chất tồn tại trong bản thân sự vật, nó
tồn tại chủ yếu trong tâm linh người quan sát nó”. Nghĩa là cái đẹp có
được là do cái tôi chủ quan quyết định. Các nhà Mỹ học duy tâm khách
quan mà Hêghen đại diện lại cho cái đẹp là phẩm chất đặc biệt của ý
niệm tuyệt đối khi nó tìm được hình thức thể hiện phù hợp nhất.
Với tư cách là nhà văn, M.Goorki lại định nghĩa: “Cái đẹp là sự
phối hợp các chất liệu khác nhau cũng như các âm, màu, từ ngữ sao cho
tác phẩm tạo ra có được một hình thức có thể tác động lên tình cảm và lý
trí như một sức mạnh khơi dậy ở con người sự ngạc nhiên, lòng kiêu
hãnh và niềm sung sướng trước kảh năng sáng tạo của mình”.
Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm của Mỹ học. Cơ bản vì nó
là nền tảng, là cơ sở, xuất phát điểm, là phạm trù quan trọng, bao trùm
của mỹ học. Trung tâm vì nó ở giữa, đóng vai trò then chốt, các phạm trù
khác phải xoay xung quanh nó, tôn vinh nó, phục vụ nó. Cái đẹp là một
hiện tượng thẩm mỹ vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp vừa có tính
bản thể vừa có tính định hướng.
Tính bản thể của vẻ đẹp mang yếu tố khách quan có dức thể hiện
đa dạng, có thể là một hiện tượng, một hành vi, một lời nói, một sự vật,
một ý tưởng. Cái đẹp được quyết định do phẩm chất của sự vật, hiện
tượng - đó là cái yếu tố được kết hợp hài hoà, cân đối, tỉ lệ, đúng mực
như hoà sắc trong hội hoạ, hoà thanh trong âm nhạc. Tất cả những phẩn
chất ấy tạo nên hiệu quả thẩm mỹ, gây nên cảm xúc thẩm mỹ qua hai
kênh thị giác và thính giác; sự sảng khoái, thích thú vô tư cũng bắt đầu
từ đây.