đồ án kỹ thuật cầu đường THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TẮC NGHẼN GIAO THÔNG Ở ĐƯỜNG TRƯỜNG CHINH - Pdf 27

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, giao thông
phát triển, an toàn, thuận lợi tạo điều kiện tốt cho sự trao đổi về kinh tế, chính
trị, văn hoá, kỹ thuật. Ngày nay giao thông vận tải là nhu cầu không thể thiếu
được của con người, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương
tiện giao thông ngày càng đa dạng, phát triển mạnh và có những bước tiến bộ
đáng kể. Tháng 11/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.
Kinh tế nước ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu hết sức to lớn, đời sống
nhân dân ngày càng được nâng cao, keó theo sự phát triển đó là nhu cầu đi lại,
giao lưu kinh tế - văn hóa của người dân ngày một tăng lên.
Tuy nhiên bên cạnh đó sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường lại
làm phát sinh những mặt tiêu cực về mặt xã hội. Do nhu cầu đi lại của người
dân trên một số tuyến đường là quá cao nên ùn tắc giao thông tại các đô thị đã
gây nhiều thiệt hại về con người tài sản của nhà nước và nhân dân, đòi hỏi vai
trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này ngày càng lớn, việc giải quyết ùn
tắc giao thông trở thành một yêu cầu hết sức bức thiết cho mọi người.
Mục đích của đề tài là trên cơ sở đánh giá thực trạng về vấn đề ùn tắc
giao thông ở đường Trường Chinh- Thanh Xuân- Hà Nội, rút ra các cơ sở lý
luận và thực tiến để tìm ra giải pháp hữu hiệu nhất chống tắc nghẽn giao
thông cho tuyến đường này nói riêng và giao thông ở Hà Nội nói chung.
Với vấn đề đã nêu trên, đề tài được trình bày theo 3 chương:
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ TẮC NGHẼN GIAO THÔNG
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TẮC NGHẼN GIAO THÔNG
Ở ĐƯỜNG TRƯỜNG CHINH
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ RA.
1
Trong quá trình nghiên cứu chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của cô giáo để có thể hoàn
chỉnh hơn vấn đề nghiên cứu và đóng góp một phần nhỏ vào công tác phòng
chống tắc nghẽn giao thông ở Trường Chinh nói riêng và Hà Nội nói chung.

1- Đi lại trung tâm thành phố (nội bộ);
2- Từ trung tâm thành phố ra ngoại thành;
3- Ngoại thành đến trung tâm thành phố;
4- Ngoại thành - ngoại thành. Quy mô và tần suất đi lại của mỗi hình
thức tại Việt Nam chưa được thống kê, ở Mỹ có hơn 90% số lao động đi lại
giữa ngoại thành và trung tâm thành phố…
3. Phương tiện giao thông đô thị.
Phương tiện giao thông đô thị là yếu tố thứ hai sau đường sá trong giao
thông đô thị. Chi phí đi lại của xã hội và cá nhân phụ thuộc vào hai yếu tố là
đường sá và phương tiện giao thông. Việc lựa chọn phương tiện đi lại của dân cư
phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu dân số, mức thu nhập và tập quán đi lại. Sự phân hoá
dân số thành các nhóm giàu nghèo trong kinh tế thị trường diễn ra nhanh chóng và
được thể hiện rõ nét trong giao thông. Nhóm giàu đi bằng xe sang trọng, nhưng
nhóm nghèo chưa hẳn đã chịu đi bằng xe công cộng. Đó là do tập quán người dân
thích tự do với phương tiện riêng của mình, đồng thời xem ra chi phí cũng không
cao hơn so với đi xe công cộng nhiều lắm. Các loại phương tiện giao thông phổ
biến ở Việt Nam hiện nay là: Xe máy, ô tô riêng, xe đạp, xe công cộng. Trong đó
phương tiện chủ yếu của người dân thành phố là xe máy.
4. Giao thông tĩnh.
Bãi đỗ xe là yếu tố không kém phần quan trọng trong giao thông đô thị
hiện đai. Vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức, do đó trong các thành
phố rất ít bãi đỗ cho ô tô con, ít bãi gửi xe được quy hoạch; hơn nữa các bãi
gửi xe được hình thành một cách tuỳ tiện. Hiện tượng đỗ xe bên đường rất
phổ biến; trình độ dân trí và ý thức tôn trọng pháp luật kém, lấn chiếm lề, hè
đường… làm ảnh hưởng đến giao thông đô thị.
4
5. Tổ chức giao thông.
Phân luồng, phân tuyến, hệ thống tín hiệu, việc duy trì trật tự giao
thông… là những yếu tố tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giao
thông đô thị.

1. . Khái niệm.
Tắc nghẽn giao thông là tình trạng không thể lưu thông được của xe
cộ do hệ thống giao thông bị quá tải hoặc do những nguyên nhân bất khả
kháng. Tắc nghẽn giao thông là một hiện tượng phổ biến ở các đô thị hiện đại.
Bản thân từ ùn tắc dùng trong lĩnh vực giao thông đã diễn giải rất đúng
nguyên nhân và diễn biến của tình trạng tắc đường. Trước tiên, dòng phương
tiện đang chuyển động bị ùn ứ lại và cứ sau mỗi phút như thế thì lại có thêm
hàng ngàn phương tiện ở mỗi chiều dồn đến gần tâm mầm gây ùn ứ. Khi mật
đọ phương tiện tại đoạn này càng dày đặc thêm đạt trạng thái bão hòa và càng
được nối dài ra các phía thì khả năng thoát khỏi khu vực của các phương tiện
giao thông ở vùng trung tâm khu vực ùn ứ càng khó khăn, dẫn đến tắc nghẽn
chuyển động. Mặt khác, ki xảy ra ùn ứ nhất thời không giải quyết được nhanh
chóng thì các phương tiện có khuynh hướng lấn sang làn đường ngược chiều
ở những nơi không có dải phân cách, làm cho làn xe ngược chiều không thoát
đi được và đoạn ùn ứ càng kéo dài mãi ra các phía cho đến nơi có nhánh rẽ đi
được.
2. Hậu quả.
Ở các đô thị, đặc biệt là các đô thị ở các nước đang phát triển như Việt
Nam, tình trạng tắc nghẽn giao thông xảy ra thường xuyên. Thiệt hại của tắc
nghẽn có thể chia làm ba nhóm sau:
- Sự lãng phí về năng lượng.
6
- Ô nhiễm không khí.
- Tổn thất về kinh tế.
a) Tắc nghẽn giao thông gây lãng phí về năng lượng.
Các phương tiện giao thông đều có một định mức vận tốc nhất định,
nghĩa là khi xe chạy với vận tốc định mức đó thì sự tiêu hao năng là thấp nhất.
Tắc nghẽn giao thông xảy ra thì các phương tiện như ô tô, xe máy phải chạy
chậm lại, thậm chí là không di chuyển được nhưng vẫn nổ máy, do đó sự tiêu
hao năng lượng sẽ tăng lên. Do đó tắc nghẽn giao thông sẽ gây lãng phí lớn về

các khí độc thải ra trong quá trình tắc nghẽn giao thông và các tuyến giao
thông có mật độ cao ảnh hưởng tới môi trường sức khoẻ cộng đồng dân cư
quanh vùng là rất nghiêm trọng
c) Tổn thất về kinh tế do ngừng trệ các hoạt động giao thông.
Nếu xét đô thị như một cơ thể sống thì giao thông vận tải có chức năng
tương đương như cơ thể sống trong cơ thể đó. Khi các mạch máu của hệ tuần
hoàn bị tắc nghẽn có nghĩa là xảy ra sự ngừng trệ các hoạt động lưu thông.
Một xã hội muốn tồn tại thì luôn phải diễn ra các hoạt động sản xuất- lưu
thông- phân phối- tiêu dùng. Trong đó lưu thông giữ vai trò làm trung gian,
nối liền giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Khi tắc nghẽn giao thông thì
quá trình lưu thông không thể diễn ra bình thường. Tắc nghẽn gây ra tổn thất
về kinh tế, tăng thời gian và chi phí đi lại của người dân, của việc vận chuyển
hàng hoá, làm cho nền kinh tế kém hiệu quả. Một đô thị thường xảy ra tắc
nghẽn giao thông thì sẽ trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, sức hút
các dự án đầu tư sẽ bị giảm sút đáng kể dù cho cơ chế, chính sách của đô thị
có thông thoáng hấp dẫn đến đâu.
8
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC TẮC NGHẼN GIAO THÔNG
Ở ĐƯỜNG TRƯỜNG CHINH
I. GIỚI THIỆU ĐƯỜNG TRƯỜNG CHINH
Đường Trường Chinh dài hơn 2300m, rộng 18m bắt đầu từ phố Đại La
(quận Hai Bà Trưng) qua Ngã Tư Vọng, cắt ngang đường Giải Phóng chạy
thẳng đến Ngã Tư Sở (quận Đống Đa).
Đường Trường Chinh là tuyến huyết mạch của Thủ đô, lượng người và
các loại phương tiện tham gia giao thông trong ngày rất tấp nập. Đường
Trường Chinh đã được quy hoạch, mở rộng thành đại lộ thuộc vành đai hai
của Thủ đô.
Hiện nay, trên đường Trường Chinh có nhiều cơ quan, đơn vị của quân
đội như Bộ tư lệnh quân chủng Phòng không-Không quân; Bảo tàng Phòng

+ Đoạn từ cống Chéo (sông Lừ) đến ngõ 102 đường Trường Chỉnh
Các nút giao thông chính tại các điểm giao nhau của tuyến đường với
các đường ngang:
- Đường Giải Phóng
- phố Tôn Thất Tùng , phố Lê Trọng Tấn
- phố Vương Thừa Vũ, phố Tây Sơn, Nguyễn Trãi
- một số đường ngang theo quy hoạch có cấp thấp hơn. Ví dụ: đường
Phương Liệt; ngõ 102, 109 Trường Chinh;
- Các nút giao này đều tổ chức giao nhau cùng cốt.

b) Phương tiện giao thông lưu thông qua Trường Chinh.
Lòng đường được sử dụng dành cho xe cơ giới và xe thô sơ. Các loại
10
phương tiện giao thông phổ biến ở Việt Nam nói chung và đường Trường
Chinh nói riêng hiện nay là: Xe máy, ô tô riêng, xe đạp, xe công cộng. Trong
đó phương tiện chủ yếu của người dân thành phố là xe máy. Riêng lượng ô tô,
mỗi ngày cũng tới nghìn lượt xe. Nói về xe công cộng, đường Trường Chinh
có 2 tuyến xe bus chạy qua đó là : xe bus 16( lộ trình BX Giáp Bát - BX Mỹ
Đình ) mỗi ngày có khoảng 100- 150 chuyến cả đi và về, xe bus 19 ( lộ trình
Trần Khánh Dư - BX Yên Nghĩa ) mỗi ngày có khoảng 100- 120 chuyến cả đi
và về, xe bus 24 ( lộ trình Long Biên - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy ) mỗi ngày cũng
khoảng từ 150- 200 chuyến cả đi và về.
Vỉa hè dành cho người đi bộ, bố trí các công trình cơ sở hạ tầng kĩ thuật
như: Đèn chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước, cắm biển trung chuyển xe bus,
các thiết bị an toàn giao thông, cây xanh, biển báo, bảng tin, quảng cáo…
Như vậy áp lực đi lại tác động lên đường Trường Chinh là rất lớn.
2. Tình trạng tắc nghẽn giao thông ở Trường Chinh
Tuyến đường Trường Chinh được mệnh danh là “tuyến đường siêu tắc”,
không chỉ ở giờ cao điểm tuyến mới có hiện tượng tắc nghẽn mà ngay cả giờ
thấp điểm, tuyến cũng không đáp ứng được yêu cầu đi lại cho người dân khu

Trên đường còn có nhiều ổ gà chưa được sửa chửa, them nữa là hệ thống
thoát nước dưới lòng đường không được làm có độ cao bằng với bề mặt mà
có phần cao hơn. Điều này dẫn đến việc người đi đường phải tránh các vùng
này.
- Do một số đoạn đường bị gãy gấp khúc, cho nên khi có mưa xuống, hệ
thống thoát nước chưa xử lí kịp làm bị đọng ứ cục bộ, gây khó khăn đi lại cho
tuyến đường.
Nguyên nhân thứ hai, do sự gia tăng nhanh của các phương tiện giao
thông trong khu vực nói riêng và thành phố nói chung dẫn đến ùn tắc giao
12
thông .
Nguyên nhân thứ ba, do thiếu Chiến lược Giao thông và Quy hoạch giao
thông :
Trong thời gian qua, Nhà nước và Chính phủ đã rất cố gắng đầu tư vốn
mở rộng làm mới tuyến đường nhưng vẫn còn quá ít trước áp lực đi lại ngày
một gia tăng. Chính sách chuyển đất đai thành hàng hoá của Nhà nước và
Chính phủ, đã gây khó khăn không ít cho việc giải phóng mặt bằng và xẩy ra
nhiều tiêu cực trong việc đền bù giải toả, kéo dài thời gian, tăng chi phí xây
dựng cũng là một nguyên nhân chậm tiến độ công trình nâng cấp cho tuyến
đường.
b) Nguyên nhân chủ quan
Ý thức của người tham gia giao thông và điều khiển phương tiện:
Xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về luật giao thông, từ sự thiếu nghiêm
minh của lực lượng Cảnh Sát Giao Thông đã làm cho ý thức của người tham
gia giao thông rất kém.
Ý thức của người dân khi tham gia giao thông và điều khiển phương tiện
khi tham gia giao thông chưa cao, kèm với sự kém hiểu biết về luật, là một
trong những nguyên nhân chính gây nên tình trang ùn tắc ngày càng gia tăng.
Trên thực tế,người ta dễ bắt gặp ô tô, xe buýt, xe khách đi hàng hai, hàng
ba trên đường, dừng đỗ vô tội vạ, lấn chiếm hết phần đường của xe máy và

II. GIẢI PHÁP CHO TOÀN THÀNH PHỐ.
- Tổ chức và tăng cường quản lý giao thông tăng cường trật tự an toàn
giao thông đô thị, trách nhiệm của các cơ quan chức năng, thực hiện việc
tuyên truyền, giáo dục, cải tạo và xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển mạng
lưới vận tải hành khách công cộng, hạn chế phát triển phương tiện cá nhân,
giải pháp về vốn - lập quỹ phát triển giao thông đô thị.
- Trong quy hoạch tổng thể dài hạn của các đô thị nên chú ý phân bổ
các khu công nghiệp, thương nghiệp, dân cư, các tổ chức hành chính, trường
học, bệnh viện v.v một cách hợp lý và giãn dần ra khỏi các khu trung tâm,
các khu phố cổ.
- Xây dựng mới và cải tạo các hệ thống đường giao thông cũ có tính toán
hợp lý đến quy hoạch tổng thể dài hạn của đô thị. Việc này sẽ làm giảm mật
độ giao thông nhưng đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn.
- Phát triển các loại hình phương tiện giao thông công cộng (xe buýt, tàu
điện ngầmv.v) cũng như phân bổ số lượng phương tiện cho mỗi tuyến và số
lượng điểm dừng, điểm đỗ một cách hợp lý để người sử dụng các phương tiện
15
giao thông công cộng thấy có nhiều tiện lợi hơn.
- Khuyến khích sử dụng phương tiện giao thông công cộng và hạn chế sử
dụng phương tiện giao thông cá nhân bằng các biện pháp kinh tế cũng
như giáo dục, hợp lý hóa cơ cấu phương tiện vận chuyển như phân bổ nhu cầu
đi lại theo các phương thức vận tải.
- Phân luồng giao thông để hạn chế phương tiện giao thông trong một số
giờ cao điểm nhất định.
- Áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến trong điều khiển giao thông vận tải
để tổ chức điều hành giao thông đô thị.
- Hạn chế nhu cầu đi lại trong giờ cao điểm bằng các phương pháp hợp
lý như quy định lại giờ làm việc của một số bộ ngành và có biện pháp thu hút
nhu cầu đi lại của người dân trong giờ thấp điểm.
- Quy hoạch, phân bổ, xây dựng thêm một số công trình công cộng như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status