Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt, một vấn đề hết sức cơ
bản cho mọi nghiên cứu về Việt ngữ học vẫn chưa đạt được sự thống nhất giữa các
nhà ngôn ngữ. Sự không đồng thuận này dẫn đến một thực trạng với mỗi quan
điểm, cái tạm gọi là “âm đệm”, một thành phần của cấu trúc âm tiết tiếng Việt
không tìm thấy một “chỗ đứng” ổn định của mình trong các mô hình kể trên. Thành
phần âm đệm, có khi được xem như một đơn vị ngang hàng với âm chính, âm cuối
trong vần, có khi lại được phân tách ra khỏi cấu trúc chiết đoạn của âm tiết, trở
thành một đơn vị siêu đoạn với đầy đủ các tính chất của một thành tố mà phạm vi
hoạt động của nó có vùng chức năng lớn hơn một chiết đoạn. Lựa chọn đề tài này,
trước tiên, chúng tôi muốn đưa ra kiến giải về vị trí và vai trò của âm đệm trong mô
hình cấu trúc âm tiết, làm cơ sở cho các nghiên cứu về âm vị học, ngữ âm học và
các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học.
Hiện nay, trong vốn từ vựng tiếng Việt, các tiếng có chứa âm đệm không
nhiều. So với vốn từ của một ngôn ngữ, con số này bước đầu cho thấy âm đệm
trong tiếng Việt không có giá trị khu biệt lớn trong toàn hệ thống. Nói cách khác,
so với hệ thống, các hình tiết, nhất là các hình tiết thực có chứa âm đệm chỉ là thiểu
số trong đa số. Dù vậy, âm đệm với tất cả các đặc tính của mình khi biểu hiện ra
trên bề mặt chữ viết lại không hề đơn giản. Sự tồn tại của nó gây rất nhiều khó
khăn trong việc học tiếng không chỉ với người nước ngoài mà còn với cả các trẻ em
bản ngữ. Đề tài này đề cập đến vai trò của âm đệm và kiến giải về sự tồn tại của nó,
theo hướng một giải pháp âm vị học có tính tiết kiệm, tự nhiên.
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trong sự đa dạng của các phương
ngữ. Kiến giải về âm đệm giúp chúng ta lý giải được sự khác biệt giữa các phương
ngữ, cụ thể là sự vắng mặt của âm đệm trong các phương ngữ Nam so với phương
ngữ Bắc, phương ngữ Trung và tiếng Việt toàn dân.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hơn nữa, trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi nhận thấy chưa có một
Khảo sát tất cả các tiếng có chứa âm đệm trong Từ điển Tiếng Việt do
Hoàng Phê chủ biên tái bản năm 2002, chúng tôi có được những số liệu như sau:
1.Tổng số tiếng
Có tất cả là 575 tiếng có chứa âm đệm, trong đó:
- Số lượng phụ âm đầu C1 kết hợp được với âm đệm là: 20/23.
Ba phụ âm đầu còn lại trong tiếng Việt không kết hợp với âm đệm là /ʐ/, /f/
và /p/.
Trong số 20 phụ âm có khả năng kết hợp với âm đệm, xuất hiện nhiều nhất là
các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm:
• /k/: 124 tiếng (21,56 %)
• /h/: 57 tiếng (9,91 %)
• /x/: 50 tiếng (8,69 %)
• /t/: 50 tiếng (8,69%)
• /s/: 45 tiếng (7,83%)
Xuất hiện ít nhất là các phụ âm đầu /b/:1 tiếng (boa), /v/: 1 tiếng (voan), /m/:
1 tiếng (moay), /n/: 2 tiếng (noãn, nuy).
- Số lượng phụ âm cuối C2 kết hợp được với âm đệm là: 6/6 âm cuối (/m/,
/n/, /ŋ/, /j/, /w/ và / ?/, biểu hiện ra chữ viết là các chữ cái: c, i, n, ng, nh, ch, t, o, p,
m, u.
- Số lượng nguyên âm V kết hợp được với âm đệm: 7/12 nguyên âm chính.
(Theo hệ thống nguyên âm của Hoàng Cao Cương). Trong đó:
• a: 281 tiếng (48,87 %)
• ồ: 73 tiếng (12,69%)
• ơ: 51 tiếng (8,87%)
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• e: 44 tiếng (7,65%)
• ie : 52 tiếng (9,04%)
• i: 73 tiếng (12,69%)
• o: 1 tiếng (0,19%) (chỉ xuất hiện trong tiếng “quọ”)
Theo tiêu chí này, chúng tôi có được kết quả thống kê phân loại tiếng từ
bảng các âm tiết chứa âm đệm trong tiếng Việt:
Nhóm I: 442 tiếng (76,87%)
Nhóm II: 38 tiếng (6,61%)
Nhóm III: 95 tiếng (16,52%)
3. Phân loại theo phạm vi sử dụng
Chúng tôi tạm chấp nhận cách phân loại tiếng theo phạm vi sử dụng của các
tác giả Phạm Đức Dương và Phan Ngọc [13] như sau:
- Trung hoà: 457 tiếng
- Khẩu ngữ: 36 tiếng
- Phương ngữ: 23 tiếng
- Ít dùng: 39 tiếng
- Văn chương: 36 tiếng
- Vay mượn: 2 tiếng
- Thông tục: 5 tiếng
Lưu ý: Một tiếng có thể tham gia đồng thời vào các nhóm khác nhau.
4. Nhận xét
Qua các số liệu thống kê trên, chúng tôi có một vài nhận xét như sau:
• 575 từ trong vốn từ của một ngôn ngữ là một con số rất nhỏ, nếu xét
trên tổng số vốn từ của một ngôn ngữ. Như vậy chứng tỏ rằng tần số
xuất hiện của âm đệm trong các văn bản của tiếng Việt sẽ có phần hạn
chế hơn.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
• Các âm đệm thường xuất hiện trong các những đơn vị từ vựng như các
từ tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn trong tiếng Hán bắt đầu
bằng những âm đầu ngạc mềm như /k/: 124 tiếng (21,56 %) và âm họng
như /h/:: 57 tiếng (9,91%) vốn là những âm không phổ biến trong tiếng
Việt.
• Trong 154 vần tiếng Việt chỉ có khoảng 64 vần theo chính tả (33 vần
TRÚC ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT. NGUỒN GỐC CỦA ÂM ĐỆM
1. Những quan niệm khác nhau về vị trí âm đệm trong cấu trúc âm tiết tiếng
Việt
Thuật ngữ “âm đệm” như chúng tôi đã nói ở phần đầu chỉ là một sự quy ước.
Hiện nay, vấn đề có hay không có âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt vẫn
đang còn nhiều điều cần tranh luận. Tuy nhiên, để tiện cho việc nghiên cứu, trong
tiểu luận này, chúng tôi tạm thời chấp nhận thuật ngữ “âm đệm” với tính chất quy
ước và có tính công cụ.
Trước hết, để tiện cho việc phân loại các quan niệm khác nhau về âm đệm
trong tiếng Việt, chúng ta cần xác định rõ ràng và thống nhất một số thuật ngữ có
liên quan, trong đó có khái niệm đơn vị chiết đoạn (segmental) và đơn vị siêu đoạn
(suprasegmental). Đơn vị chiết đoạn và đơn vị siêu đoạn là một đối lập âm vị học
vô cùng quan trọng. Một hiện tượng âm thanh được gọi là chiết đoạn khi phạm vi
hành chức của nó nằm trọn trong một chiết đoạn. Khái niệm chiết đoạn trong ngôn
ngữ học được hiểu là: trong dãy thời gian liên tục, âm thanh lời nói được tuôn chảy,
“tạo nên ngữ lưu”. Người ta tri nhận và cả phát âm ngữ lưu này bởi chuỗi các thời
điểm có trong dòng thời gian mà ngữ lưu đó choán. Mỗi thời điểm là một chiết
đoạn. Còn các đơn vị siêu đoạn tính thì ngược lại, có một thuộc tính quan trọng là
vùng chức năng của chúng (functional domain) không thể chứa trong một chiết
đoạn mà phải bao trùm lên nhiều chiết đoạn, có nghĩa là ít nhất vùng chức năng của
chúng chứa trên một chiết đoạn.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ cách hiểu như trên, chúng tôi tạm phân chia các quan điểm về âm đệm
của Tiếng Việt ra như sau:
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn.
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn.
1.1. Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn
Khi khẳng định âm đệm là một đơn vị chiết đoạn, các tác giả đồng thời
khẳng định vị trí của âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt. Điều đó có nghĩa là
1.2. Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn
Theo quan điểm này có các tác giả: Hoàng Cao Cương, Phan Ngọc, Nguyễn
Quang Hồng...
Như chúng ta đã biết, đơn vị siêu đoạn có một thuộc tính hết sức quan trọng
là vùng chức năng (nơi một đơn vị chiết đoạn bộc lộ ra bằng tất cả những nội dung
chiết đoạn của nó) không thể chứa trong một chiết đoạn mà phải bao trùm lên nhiều
chiết đoạn.
Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong cuốn “Âm tiết và loại hình ngôn ngữ”
cho rằng: “Trong tất cả các cứ liệu có thể dùng làm cơ sở cho việc phân chiết âm vị
học đối với tiếng Việt (...) không hề tìm thấy một cứ liệu nào minh chứng cho khả
năng chia tách âm tiết ra làm ba phần bình đẳng như vậy cả. Sự thực là trong khi
một âm tiết bị tách đôi, yếu tố ngữ âm được gọi là “âm đệm” nếu có, thì chỉ có thể
hoặc là phụ thuộc vào âm đầu, hoặc là phụ thuộc vào âm vần cái, chứ không bao
giờ tự mình tách hẳn ra làm một phần riêng”. [11, tr239]. Mà theo ông “xét từ một
góc độ nào đó thì thanh điệu và âm đệm (...) là những thực thể âm thanh khác nhau.
Song về mặt chức năng thì cả hai đại lượng ngữ âm này đều không chiếm giữ một
vị trí tiếp nối với âm đầu và vần cái, do đó chúng đều không phải là những đơn vị
ngữ âm chiết đoạn mà là những thuộc tính chung của âm tiết, được hình dung như
những đại lượng nằm song song với âm đầu và vần cái trong cấu trúc chung của âm
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiết tiếng Việt. [11, tr241]. Hay nói cách, theo ông, âm đệm là một đơn vi siêu đoạn
tính.
Còn hai tác giả Phan Ngọc và Phạm Đức Dương, khi xác định các thành tố
cấu trúc âm tiết Tiếng Việt không chấp nhận giới âm (âm đệm) mà vẫn chủ trương
cấu trúc âm tiết tiếng Việt là CVC. Họ chỉ coi yếu tố “âm đệm” (như nhiều tác giả
khác quan niệm) là “một tiêu chí đồng dạng với các yếu tố ngạc hoá, vang hoá, bên
hoá... [13, tr107].
Tiêu biểu nhất cho quan điểm này là tác giả Hoàng Cao Cương. Tác giả này
cho rằng nếu coi âm đệm là một đơn vị chiết đoạn như nhiều tác giả khác quan
giới âm {u} còn có giới âm {i} và trường hợp zero về giới âm. Vậy trong tiếng Hán
hiện đại, tồn tại một hệ thống âm đệm một cách chính danh. Còn trong tiếng Việt
lại không phải như vậy. Chẳng những số âm vị ít mà xét về mặt lĩnh vực chức năng
mà các âm đệm dường như rơi về phần biên của hệ thống. Các âm đệm thường xuất
hiện trong những đơn vị từ vựng: tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn tiếng
Hán bắt đầu bằng những âm đầu ngạc mềm hoặc họng, là những âm không phổ
biến trong tiếng Việt.
Xét về lịch sử, các yếu tố từ vựng tương ứng với các tiết vị có âm đệm
thường có phần tiền âm tiết (âm tiết một trong một cấu trúc âm tiết). Nét nổi trội
trong các yếu tố từ hình này là yếu tố [+tròn môi]. Đó có thể là nét khu biệt của một
âm môi, một nguyên âm dòng sau hoặc một âm đệm. Vì vậy, trong âm vị học tiếng
Việt mở rộng để tránh lối mòn của một tư duy cổ điển không coi âm đệm là một
tiểu hệ thống ngang với các tiểu hệ thống: âm đầu, âm chính, âm cuối mà là một
đơn vị toàn âm tiết. Các đơn vị có ưu thế hơn so với các âm vị ở chỗ: các đơn vị có
thể tồn tại như một nét âm vị học do vùng chức năng của chúng trải dài trên một
cấu trúc chiết đoạn được khảo cứu. Chính do đặc tính này nên số lượng âm vị của
đơn vị thường hữu hạn và ít ỏi. Nó tác động đến âm thanh theo kiểu cơ chế chứ
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không phảI theo kiểu yếu tố. (Các chiết đoạn tác động theo kiểu yếu tố do xếp
chuỗi hình tuyến).
Như vậy, theo lý thuyết tâm biên, yếu tố tròn môi hay âm đệm phải được đối
xử một cách hoàn toàn khác so với âm vị chiết đoạn có ở trong khuôn của âm tiết.
2. Nguồn gốc của âm đệm
Âm tiết tiếng Việt có một vị trí dành cho âm đệm_ đó là vị trí sau phụ âm
đầu và trước nguyên âm chính. Ở vị trí này trong tiếng Việt chỉ có thể có một âm
-w-. Âm đệm -w- là một bán nguyên âm cuối, có cấu tạo như nguyên âm /u/ nhưng
khác nguyên âm /u/ về chức năng, nó có thêm đặc điểm của phụ âm, vì thế được
gọi là bán nguyên âm. Chữ viết ghi âm đệm bằng hai chữ: “u” và “o” (ví dụ: toàn
quân):
179) và nhất là từ lúc nhà Hán đặt nền đô hộ ở Việt Nam cho đến năm 938 khi Ngô
Quyền dành lại độc lập cho đất nước. Đây là một giai đoạn tiếp xúc lâu dài, liên tục
và sâu rộng, nhưng đứng về mặt ảnh hưởng thì có thể chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời Đường và giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII
và IX (cuối Đường). Thế kỉ VIII và IX là thời gian nền văn hoá Hán nói chung, nền
văn tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam. Dễ
thấy là sự xuất hiện của hàng vạn từ Hán- Việt trong tiếng Việt- hiện tượng tiêu
biểu cho tiếng Việt từ khi tiếng Việt trở thành ngôn ngữ của một quốc gia độc lập
(năm 938).
Trước khi hình thành cách đọc Hán Việt, người Việt Nam đọc chữ Hán thực
chất là đọc tiếng Tàu, dùng chữ Hán như một ngoại ngữ, học chữ Hán là học một
sinh ngữ. Tình trạng này kéo dài suốt gần nghìn năm Bắc thuộc, chắc chắn lối đọc
này sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ tới cách đọc Hán Việt hình thành sau này,
và những đặc điểm ngữ âm của tiếng Hán chắc chắn vân còn lưu lại. Sau khi hình
thành cách đọc Hán Việt, viết chữ Hán về mặt từ vựng, ngữ pháp ta vẫn làm như cũ
nhưng về mặt ngữ âm dã có sự khác biệt: người Việt Nam đọc chữ Hán theo ngữ
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
âm tiếng Việt, khác hẳn cách đọc của người Hán. Như vậy xuất phát điểm của cách
đọc Hán Việt hiện nay chính là hệ thống ngữ âm tiếng Hán dạy lần cuối cùng ở
Giao Châu, trước khi Việt Nam dành được độ lập. So với các phương ngôn Hán,
cách đọc Hán Việt có một số điểm chứng tỏ nó gần với âm Hán đời Đường hơn.
Khi tiếng Hán Việt hình thành ở Việt nam vào thế kỉ IX- X thì tiếng Việt đã có hệ
thống chung âm và hệ thanh điệu của tiếng hán đời Đường và hai hệ này cho đến
nay vẫn giữ nguyên. Cách đọc Hán Việt hiện nay, sau gần 10 thế kỉ diễn biến theo
quy luật ngữ âm lịch sử tiếng Việt đã có nhiều điểm khắc với hệ thống ngữ âm
tiếng Hán thế kỉ VIII- IX, nhưng so sánh giữa hai bên thì vẫn thấy có sự tương ứng
hết sức đều đặn và có hệ thống, trong đó tiếng Việt hiện đại vẫn còn lưu giữ yếu tố
âm đệm, là một yếu tố của tiếng Hán.
Sở dĩ chúng tôi nói tới sự hình thành cách đọc Hán Việt và vấn đề cách đọc
chỉ có 2 từ có -w- trong đó có một từ chắc chắn vay của Lào Thái.
Như vậy là không đủ cơ sơ để tái lập một âm đệm -w- cho thời tiền Việt
Mường (chưa có sự tiếp xúc với tiếng Hán). Phải tới các giai đoạn sau, thì mới du
nhập đôi trường hợp lẻ tẻ qua con đường tiếp xúc, mà chủ yếu là tiếp xúc với tiếng
Hán. Rồi sau đó, càng tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán thì số lượng từ có âm đệm -w-
càng tăng dần.
* Ở tiếng Hán trước Thiết vận( năm 601 của nhóm Lục Pháp Ngôn) có cả
một hệ thống phụ âm tròn môi rất phong phú: k, kh, g, gh, w, wh, h, ʔ (chủ yếu là
phụ âm sâu), chưa kể khả năng có thể có cả ŋ, ŋh và sự xuất hiện ngày càng nhiều
cách phát âm có âm đệm -w- sau các phụ âm khác, gọi là giới âm. Tiếng Hán thời
Thiết vận có hai loại giới âm là giới âm dòng trước -i- và giới âm dòng sau, tròn
môi -w - (cộng thêm trường hợp giới âm là âm vị zero). Sự tồn tại của các loại giới
âm này đã đưa đến thế đối lập hợp khẩu/ khai khẩu thời trung cổ: hợp khẩu là
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những âm có giới âm còn khai khẩu là không có giới âm, có trường hợp có cả hai
loại giới âm trên -iw-. Ở trên chúng ta đã biết giai đoạn tiếng Hán đặt nền móng
cho cách đọc Hán Việt chính là giai đoạn cuối cùng người Việt học nó với tư cách
là một ngoại ngữ, giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII-IX. Đây là một giai đoạn nhỏ
của giai đoạn tiếng Hán trung cổ trong lịch sử tiếng Hán. Vậy muốn hiểu rõ về đặc
điểm ngữ âm của tiếng Hán Việt, cũng như qua đó thấy được quá trình diễn biến từ
ngữ âm tiếng Hán sang cách đọc Hán Việt, trong đó có quá trình diễn biến từ âm
đệm tiếng Hán thời trung cổ sang âm đệm trong các vần của cách đọc Hán Việt,
chúng ta cần nắm được một vài nét về tình hình ngữ âm của tiếng hán thời kì này.
Khái niệm “tiếng Hán trung cổ” thường được dùng để chỉ tiếng Hán vào
khoảng thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ XII. Cứ liệu về tiếng Hán trung cổ có khá nhiều,
trong đó để hiểu sâu về ngữ âm tiếng Hán thời kì này, các nhà nghiên cứu đều nhất
trí dựa vào hai loại tư liệu, trong đó có cách phiên thiết trong các vận thư, nhất là
trong Thiết vận. Vận thư là một loại tự điển, căn cứ theo vận để sắp xếp chữ. Chữ
thuộc cùng một vận thì phải giống nhau ở thanh điệu, nguyên âm và âm cuối, trong
3. vi /-(w)ei-/ > UY
Vận bộ vi tạo thành vần UY trong 18 từ:
VD: huy, uy, qui, quỷ, quý, huý,...
Nguyên âm I trong 3 vận bộ CHI, chi, vi cuối Đường là một nguyên âm
tương đối rộng và hơi lùi về phía sau, còn nguyên âm trong cách đọc Hán Việt lại
hẹp, nhích về phía trước mạnh hơn. Nhưng nhìn chung, từ cuối Đường đến nay, I
Hán Việt vẫn được giữ nguyên.
CHI
chi I I Hán- Việt
vi
Ở trường hợp hợp khẩu thì ta sẽ có : wi -> UY Hán – Việt
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ cách làm tương tự như vậy, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tìm ra nguồn gốc
của 11 vần có chứa âm đệm như sau:
Vần H-
V
Vận bộ Hán Phiên âm I Phiên âm II SLT Ví dụ
UY CHI -j(w)(i)e zhi 28 Nguy, quy, quỵ, quỹ,
nguỵ, luỹ,...
chi -(i)(w)ij zhi 49 suy, tuy, tuý, quỹ,
thuỷ,..
Vi -j(w)ij wei 18 huy, uy, qui, quỷ, quý,
huý,...
UÊ Tề -(w)ej qí 10 khuê, huề, tuệ, quế,...
Tế -jw(i)ej jì 11 nhuệ, tuế, thuế,..
Phế -j(w)oj fèi 1 uế
OA MA -(w) má 19 hoa, khoa, ngoã, quả,
hoá,...
huyệt,...
Nguyên -j(w)on yuan 32 nguyên, tuyên, nguyễn,
nguyện, khuyến,
nguyệt, khuyết,...
OĂNG Đăng -(w)ong deng 5 hoằng, hoặc,
OANH CANH -(w)ồng geng 6 hoạch, oanh
Canh -(w) ng geng 3 hoạnh, hoành
THANH -j(w)
(i)eng
qing 5 khoảnh,
UYNH Thanh -(w)eng qing 8 huỳnh
Chú thích:
_ Phiên âm I: phiên âm theo bảng tái lập hệ thống vận bộ của W.H.Baxter,1992 [ ]
_ Phiên âm II: phiên âm theo ngữ âm tiếng Trung Quốc phổ thông.
_ SLT: số lượng tiếng có chứa vần đang xét trong cách đọc Hán Việt
Hệ thống nguyên âm tiếng Hán thời Thiết vận theo W. H. Baxter:
i i u
e o
ồ
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
. a
Tiểu kết:
Qua những điều vừa trình bày, có thể khẳng định nguồn gốc của âm đệm trong
tiếng Việt là từ tiếng Hán. Âm đệm trong tiếng Việt xuất hiện vào cuối thời kì Việt
Mường chung theo quan điểm của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn [2] do sự tiếp xúc giữa
tiếng Việt và tiếng Hán.
III. KIẾN GIẢI VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA ÂM ĐỆM TRONG TIẾNG
VIỆT HIỆN ĐẠI
1. Cơ sở cho kiến giải
Phương ngữ Trung (PNT)
Phương ngữ Nam (PNN)
Sự phân chia thành 3 vùng phương ngữ này dựa trên cơ sở khác nhau cả về
ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp giữa các vùng. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ xem xét
đặc điểm sử dụng âm đệm trong cấu trúc âm tiết. Nếu theo quan điểm của Hoàng
Thị Châu, trong PNB và PNT âm đệm [w] có thể kết hợp với hầu hết các phụ âm
đầu, trừ một số phụ âm môi. (Cách phiên âm của các tác giả này, chúng tôi giữ
nguyên)
Ví dụ : hoa xuân [hwa swân]
lòe loẹt [lwe: lwe:t]
đoàn [đwan]
khuya khoắt [xwie xwăt]
Ngoài ra, trong các phương ngữ trên còn có thể bắt gặp [-w-] trong các âm
tiết vắng phụ âm đầu. Ví dụ : oan, uyển, uỳnh uỵch...những từ mà thường bắt đầu
bằng những âm tắc họng.Trường hợp này càng nêu bật được tính chất độc lập của
âm đệm [w]. Nó không đóng vai trò phụ âm đầu bởi vì người ta có thể thêm vào
trước nó một phụ âm. Và nó cũng không đóng vai trò là nguyên âm bởi vì sau nó
phải có nguyên âm. Tình hình âm đệm của các âm tiết có ở PNN lại không giống
như vậy. Trong PNN (từ đèo Hải Vân đến Cà Mau), âm đệm [-w-] tác động mạnh
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mẽ đến những phụ âm hầu và mạc đứng trước nó, nhưng lại triệt tiêu hoàn toàn sau
những phụ âm còn lại. Điều đó có nghĩa là sau các âm tiết được mở đầu bằng các
phụ âm không phải là phụ âm hầu và mạc thì không thấy sự xuất hiện của các âm
đệm.
Ví dụ: tuyên truyền [tiêng tiềng]
xuân xanh [sưng săn]
lý luận [lí :lựng]
nhuần nhuyễn [nhừng nhiễng]...
Âm đệm [w] tác động đến những phụ âm mạc và phụ âm hầu theo lối đồng
nhưng rồi nó lại biến đổi thành một lần nữa thành [j] như tất cả các từ bắt đầu bằng
[v] trong PNN.
Như vậy có thể tổng kết lại rằng, trong PNB có lẽ do xu hướng dị hóa mạnh
nên âm đệm [w] cũng không kết hợp với nguyên âm [ư] và [ươ]. Vần [ưu] được
phát âm thành [iư] và vần [ươu] được phát âm thành [iêw]. Còn kết hợp [-wâ-] ở
Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên được thay thế bằng [-wư]. Ngoài ra ở một số thổ ngữ
vùng Bắc Bình Trị Thiên còn có hiện tượng âm đệm đồng hóa nguyên âm: “mùa
xuân” nói thành “mùa xun”, “áo quần ” nói thành “áo cùn”. Còn ở PNN không có
âm đệm [w]. Điều này khẳng định thêm vai trò của nó trong âm tiét Tiếng Việt.
Việc mất âm đệm [w] đã làm cho PNN giảm mất một số kiểu âm tiết.
Nếu như tác giả Hoàng Thị Châu chia Tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ
khác nhau là : Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam thì các tác
giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu [16] lại chia Tiếng
Việt thành 4 vùng phương ngữ với tên gọi : Phương ngữ Bắc( PNB), phương ngữ
Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam và phương ngữ Nam. Các vùng phương ngữ
này có những đặc điểm khác nhau về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Tuy nhiên xét về
mặt ngữ âm mà cụ thể là đặc điểm sử dụng âm đệm, các tác giả có đưa ra một số
điểm đáng chú ý sau:
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Ở phương ngữ Trung Nam ,bên cạnh những đặc điểm về từ vựng và ngữ âm,
ngữ pháp còn có một vài đặc điểm về tình hình sử dụng âm đệm:
+ Thứ nhất là hiện tượng những tiếng có chứa âm đệm mà ở đầu là [x] bị biến
thành âm đầu [f] và không còn âm đệm như:
khuya khoắt----------phia phắt
khoe khoang----------phe phang
chìa khóa--------------chìa phá
khỏe khoắn------------phẻ phắn
+ Thứ hai, trong một số âm tiết mở và cả ở những loại hình âm tiết khác có hiện
tượng thêm âm đệm [w] vào trước âm chính [a], tức là
xoáy------------ xáy
lòe loẹt----------lè lẹt
Nói tóm lại, nếu xét về phương diện đặc điểm tình hình sử dụng âm đệm ở
các vùng phương ngữ còn nhiều điều cần lưu ý. Mỗi phương ngữ lại có những đặc
điểm riêng về cách sử dụng âm đệm. Do đó, nếu ta chung ta thống nhất được vấn
đề có hoặc không có âm đệm ở các vùng phương thì về một mặt nào đó chúng ta đã
góp phần vào việc đưa các phương ngữ xích lại gần nhau hơn. Hay nói cách khác là
giúp cho việc thống nhất các vùng phương ngữ của Tiếng Việt.
1.2. Ảnh hưởng của âm đệm đến sự tồn tại song song nhiều cách viết tương
tự trong hiện trạng chính tả tiếng Việt
Tình hình sử dụng âm đệm ở các vùng phương ngữ trong Tiếng Việt đã phần
nào cho chúng ta thấy được sự thiếu thống nhất về cả mặt chữ viết lẫn phát âm các
tiếng có chứa âm đệm các vùng phương ngữ. Một phần nào đó điều này đã thể hiện
hiện trạng thiếu thống nhất về mặt chính tả nói chung và chính tả của các tiếng
chứa âm đệm nói riêng. Hiện nay, chúng tôi thấy có sự tồn tại song song 2 cách
25