Đặc điểm về việc sử dụng các phương tiện nối trong văn bản báo chí (trên trang mạng văn hóa – xã hội, báo Yên Bái) - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đặc điểm về việc sử dụng các phương tiện nối trong văn bản báo chí (trên
trang mạng văn hóa – xã hội, báo Yên Bái)
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện đại, báo chí có vai trò rất quan trọng. Nó là hoạt động
tinh thần tham gia vào nhiệm vụ phát triển xã hội. Trước hết nhiệm vụ của báo
chí là phản ánh trung thực và góp phần vào thúc đẩy đời sống phát triển. Không
những vậy báo chí còn là nơi cung cấp những trang thông tin về tri thức kinh tế,
về những hiểu biết về chính trị hay những giao lưu của các hoạt động xã hội
đang diễn ra nóng bỏng.
Tác giả Hà Minh Đức đã viết trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” rằng:
“Báo chí ở giữa cuộc đời và cuộc sống có thể tràn vào báo chí với độ sâu rộng
nhất, nhộn nhịp, sinh động và thời sự nhất. Dòng đời chảy trên trang báo có thể
với sự việc xảy ra trong từng ngày thậm chí còn ngắn hơn, cận kề với thời điểm
của câu chuyện, về không gian thường bao quát nhiều phạm vi từ thời sự của
một quốc gia đến từng thành phố.” [7, 29]
Từ sau cách mạng tháng Tám thành công cho đến nay, “Báo chí trở thành
công cụ của Đảng để lãnh đạo quần chúng, là vũ khí đấu tranh giai cấp, sắc bén
chống kẻ địch, xây dựng cuộc sống mới.” (Chỉ thị của Bộ chính trị ngày 8 - 2 -
1958) [7, 26]. Báo chí là tiếng nói của nhà nước, của quần chúng cách mạng.
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, báo chí Việt Nam đã thật sự khởi sắc về
số lượng cũng như chất lượng.
Đối với một địa phương, đặc biệt là một tỉnh miền núi phía Bắc như Yên
Bái (với diện tích tự nhiên là 6.882,922km (theo thống kê năm 2003) và có tới
30 thành phần dân tộc được phân bố rải rác khắp nơi) thì chắc hẳn việc đi lại
cũng như cung cấp, truyền đạt những thông tin hàng ngày gặp rất nhiều khó
khăn. Đặc biệt là đối với những đồng bào dân tộc vùng cao, cư trú cách xa trung
tâm thành phố đến hàng 100 - 200km) thì vai trò của báo chí lại càng quan

Website: Email : Tel : 0918.775.368


Website: Email : Tel : 0918.775.368
trò của những từ ngữ nối đó trong văn bản Báo chí nói chung và trang văn hoá-
xã hội Báo Yên Bái nói riêng.
3. Nhiệm vụ của đề tài
Khoá luận của chúng tôi đặt ra nhiệm vụ cần phải giải quyết như sau:
Khảo sát các phương tiện nối trong văn bản báo chí trên trang Văn hoá -
xã hội từ tháng 6/2006 cho đến tháng 12/2006.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác
nhau như: Phương pháp thống kê; phương pháp miêu tả; và phương pháp so
sánh đối chiếu.
- Phương pháp thống kê: Có mục đích thu thập các cặp phát ngôn chứa
các phương tiện nối cũng như tần số xuất hiện của các phương tiện nối đó trong
văn bản Báo chí. (Trang văn hoá - xã hội, Báo Yên Bái)
- Phương pháp mô tả: Nhằm miêu tả và phân tích định tính các phương
tiện liên kết trong các văn bản báo chí thuộc phạm vi khảo sát.
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh- đối
chiếu để thấy được sự khác nhau trong việc sử dụng các phương tiện liên kết
trên các văn bản.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I. Khái niệm chung về phép nối
Định nghĩa:
“Cơ sở cho việc liên kết hai phát ngôn là sự tồn tại của các quan hệ
trong đó có các quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng.và nó được thể hiện ra bằng
những phương tiện từ vựng thì ta có hiện tượng nối liên kết hay là các phép
nối nói chung.” [ 11, 169 ]

(2) : Lan không bằng lòng. Như ng cô cũng không thể hiện ra ngoài.
Với hai ví dụ đã nêu trên đây, thì chỉ có ví dụ thứ 2 , từ "nhưng" mơí là
phương tiện nối liên kết giữa các phát ngôn, bởi vì phát ngôn thứ hai thiếu hẳn
đi ngôi A của quan hệ. Để bù đắp sự thiếu hụt này, phát ngôn rB (kết ngôn) phải
liên kết với phát ngôn A (chủ ngôn) đứng trước nó.
Tuỳ thuộc vào tính chất của các phương tiện nối mà trong hiện tượng nối
liên kết cần phải phân biệt hai trường hợp: Nếu sự có mặt của các phương tiện
nối có thể làm thay đổi cấu trúc nòng cốt của phát ngôn, khiến cho nó phụ thuộc
vào chủ ngôn không chỉ về mặt về nội dung mà cả về mặt cấu trúc , thì đó chính
là phép nối chặt (các từ nối như giới từ, liên từ là phương tiện của phép nối này).
Còn nếu sự vắng của các phương tiện nối chỉ làm cho phát ngôn chứa nó
phụ thuộc vào chủ ngôn về mặt nội dung mà không động chạm gì đến cấu trúc,
thì đó là phép nối lỏng.
Như vậy, theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, sẽ có hai loại phép nối
riêng biệt: Phép nối lỏng và phép nối chặt.
Để có một cách nhìn khái quát hơn về hai loại phép nối này, có thể xem
xét bảng so sánh sau đây:

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng 1: So sánh những nét cơ bản nhất giữa phép nối lỏng và nối chặt
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Phép nối lỏng là phương thức
liên kết thể hiện ở sự có mặt
trong kết ngôn những phương
tiện từ vựng (từ, cụm từ) không
làm biến đổi cấu trúc của nó và
diễn đạt một quan hệ ngữ nghĩa
hai ngôi mà “ ngôi” còn lại là
chủ ngôn.
Phép nối chặt là phương thức liên kết

Trước hết, chúng ta đi xét xem các phương tiện nối là các từ và cụm từ
làm thành phần chuyển tiếp:
Đây là một loại phương tiện nối lỏng có số lượng lớn nhất và tần số sử
dụng cao nhất.
Với những "thành phần chuyển tiếp" thuộc phép nối lỏng này:
- Về mặt hình thức nó chỉ mang tính chất "chêm xen" ngoài nòng cốt câu,
chính vì thế việc thêm hay bớt nó, không ảnh hưởng gì đến cấu trúc của phát
ngôn.
- Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn nhận nó trên phương diện ngữ nghĩa thì
lại hoàn toàn khác: Sự có mặt của nó chỉ ra sự liên kết của phát ngôn chứa nó
với chủ ngôn, do vậy nó làm mất đi tính hoàn chỉnh nội dung của phát ngôn.
Ví dụ : " Gia đình chị bình quân mỗi năm thu trên 3 tấn lúa, hơn 2 tấn chè
búp tơi và xuất chuồng từ 1,5 – 2 tấn lợn thịt hơi. Ngoài ra, chị còn mở quán
may quần áo phục vụ bà con , thu nhập của gia đình chị đạt mức từ 25 -30 triệu
đồng / năm."
(Chị cán bộ dân số năng động _ Báo Yến Bái, số 1812, ra ngày 29-11-06)
Với ví dụ trên đây, phát ngôn thứ hai là một câu rất đặc trưng, ở đó có
chứa từ " ngoài ra ", làm thành phần chuyển tiếp. Và thành phần chuyển tiếp này
chỉ ra:
+ Thứ nhất, phát ngôn chứa nó không phải là phát ngôn đầu tiên trong văn
bản, trước phát ngôn này còn ít nhất một phát ngôn khác liên kết với nó hay nói
cách khác nó có chức năng liên kết.
+ Thứ hai, sự kiện nêu ra trong phát ngôn chứa nó diễn ra trong cùng một
đối tương, hoàn cảnh, sự việc, vớiý ý nghĩa là bổ sung thêm các sự kiện vào đó
để làm rõ nghĩa hơn cho phát ngôn trước. ( chức năng ngữ nghĩa ).
Các yếu tố cấu tạo từ vựng làm thành phần chuyển tiếp có cấu tạo và
nguồn gốc rất đa dạng.[ 11, 172] Chúng có thể là:
+ Các từ : thoạt tiên, cuối cùng, đồng thời, bỗng nhiên, chẳng hạn, vả
lại, thậm chí, song le, sự thật, đặc biệt…



Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với những từ thuộc quan hệ trong phép nối lỏng, tác giả Trần Ngọc
Thêm [10] đã chia ra thành ba loại quan hệ khác nhau, làm cho người tìm hiểu
rất dễ nhận diện và phân biệt:
+ Quan hệ định vị
+ Quan hệ lôgíc- diễn đạt.
+ Quan hệ lôgíc- sự việc.
Trong mỗi một quan hệ riêng biệt đó, tác giả lại chia ra thành rất nhiều
các nhóm quan hệ nhỏ khác nhau, các từ nối khác nhau, tạo nên một hệ thống
những từ nối rất phức tạp, đa dạng.
Trên thực tế, có từ nối là thuộc quan hệ nối này, nhưng cũng lại thuộc
quan hệ nhóm khác. Những trường hợp như vậy, người ta rất dễ nhầm lẫn. Trong
tình hình đó chỉ có thể dựa vào những tính chất và bối cảnh của từng đoạn, từng
câu trong văn bản để có thể xác định được chúng.
( Để hiểu và phân biệt chúng một cách rõ nét hơn về các quan hệ nối,
cũng như phân biệt sự khác và giống nhau đối với phép nối chặt. Có thể xem
bảng 2, bảng 3, bảng 4 ở phần 3.2.3 sau.)
2. Phép nối chặt
2.1. Định nghĩa
“Phép nối chặt thuộc phạm vi nghiên cứu của hiện tượng nối liên kết.
Nó là một trong những phương thức liên kết của ngữ trực thuộc thể hiện bằng
sự có mặt của từ nối (liên từ, giới từ) ở chỗ bắt đầu (liên kết hồi quy), hoặc chỗ
kết thúc (liên kết dự báo) và tạo thành một quan hệ ngữ nghĩa hai ngôi giữa:
Ngữ trực thuộc và chủ ngôn.” [11, 205]
Các ngữ trực thuộc có liên kết bằng phép nối chặt có thể gọi là Ngữ trực
thuộc nối.
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu: Ngữ trực thuộc là gì ?
"Nếu một phát ngôn liên kết với một phát ngôn khác trong văn bản bằng
một trong hai phương thức liên kết trực thuộc thì phát ngôn đó là Ngữ trực

Ví dụ (1): A! Bé hiểu rồi: “ Mùa hạ đến từ trong lòng, phải không nhỉ?”.
Đôi hàng mi lại khẽ nhếch lên, dễ thương đến lạ kì!”
(Mùa hạ của bé _ Báo Yên bái, số 1748 ra ngày 3 – 7 – 2006 )

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ở ví dụ này, phát ngôn thứ hai chỉ là một ngữ trực thuộc của chủ ngôn mà
thôi, chứ nó không phải là một câu riêng lẻ. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào chủ
ngôn. Không giống như vậy, đối với:
Ví dụ (2): “ Bé ngước nhìn chùm phượng đỏ bên đường, gọi tiếng râm ran
hoà vào từng kẽ lá, thắp cho mùa hạ một màu đỏ man mác, lạ lùng. Một đám
mây trời mùa hạ trắng xoá vẽ nên hạ bừng sáng với những tia nắng tinh nghịch,
màu phượng thắm rắc thêm nền trời long lanh.”
(Mùa hạ của bé _ Báo Yên bái, số 1748 ra ngày 3 - 7 - 2006 )
Chúng ta có thể thấy rõ ràng , dù bỏ đi từ nối “ rồi” nhưng đó vẫn là hai
câu đơn hoàn toàn độc lập nhau, không hề phụ thuộc nhau về mặt ngữ pháp. Đó
chính là từ nối “ rồi” trong phép nối lỏng.
Như vậy chứng tỏ rằng, việc nhận diện xem đó có phải là phép nối chặt
hay không, thì điều quan trọng nhất chúng ta phải xét xem, nếu bỏ đi từ nối liên
kết thì phát ngôn thứ hai có phải là một ngữ trưc thuộc vào chủ ngôn hay không?
Nếu phải thì đó chính là phép nối chặt.
Tuy nhiên đây cũng là một hiện tượng nối xuất hiện rất ít trong văn bản.
Chính vì vậy, vẫn còn nhiều điều cần phải bàn luận thêm về vấn đề này.
2.3. Phân loại
Tương tự như ở hiện tượng nối lỏng mà đã nói đến ở phần 3.1.3, tác giả
Trần Ngọc Thêm dựa trên những quan hệ của những từ nối và cụm từ nối đó
trong câu, đã phân chia ra thành ba loại quan hệ lớn:
+ Quan hệ định vị.
+ Quan hệ lôgíc - diễn đạt.
+ Quan hệ lôgíc sự vật.
Vậy thì giữa hai hiện tượng nối lỏng và nối chặt (có cùng ba loại quan hệ

lát sau..
sau
khi..
đồng thời,
trong đó
Bỗng nhiên,
đột nhiên..
cạnh đó, gần
đó, tại
đây..
rồi,
đến,
từ...
trước,
sau.

ở, tại,
trong
giữa
Cạnh, bên,
gần, ngoài..
Từ, đến,
tới, ra,
vào.
Bảng 3: So sánh phép nối lỏng và nối chặt theo quan hệ lôgíc - diễn đạt

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Quan hệ lôgíc diễn đạt
Phép nối lỏng Phép nối chặt
Trình tự diễn đạt Thuyết minh - bổ sung Xác minh- nhấn mạnh Trình tự diễn đạt

là..
Ví dụ, cụ
thể, minh
hoạ..
Ngoài ra,
hơn nữa,
còn, nữa,,
Quả
nhiên, tất
nhiên …..
Rõ ràng,
thật vậy,
sự thật..
Nhất là,
đặc biệt
là..
Và, với,
cùng...
Hay,
hoăc
Như, rằng
Bảng 4: So sánh phép nối lỏng và nối chặt theo quan hệ lôgíc - sự vật
Quan hệ lôgíc sự vật
Phép nối lỏng Phép nối chặt

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhân quả Tương phản - đối lập Nhân quả
Tương
phản- đối
lập

song..
Của Bằng,
Với.Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM VỀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN NỐI
TRÊN VĂN BẢN BÁO CHÍ
(Trang văn hoá - xã hội, Báo Yên Bái , từ tháng 6/2006 – 12/ 2006)
Phân loại các từ nối dựa vào tiêu chí về mối quan hệ, ở đây chúng tôi sẽ
khảo sát những từ nối đó trên ba mối quan hệ khác nhau theo thứ tự sau:
+ Quan hệ định vị
+ Quan hệ lôgíc – diễn đạt.
+ Quan hệ lôgíc – sự vật.
Qua việc mô tả và phân loại các phương tiện nối, đến đây chúng tôi xin đi
vào khảo sát tình hình cụ thể của từng quan hệ nối khác nhau.
I. Quan hệ định vị
Quan hệ định vị là quan hệ giữa những từ ngữ chỉ ra khoảng không gian,
thời gian nào đó,nhằm liên kết các câu lại với nhau thành một văn bản, có tính
chặt chẽ về nội dung cũng như hình thức biểu hiện.
Với những từ nối thuộc loại quan hệ này, người ta phân chúng ra thành
hai loại nhỏ hơn (chung cho cả nối lỏng và nối chặt ).[11]
+ Định vị thời gian
+ Định vị không gian.
1. Định vị thời gian
Đây chủ yếu là những từ nối nói về thời gian, trình tự thời gian, quá trình
diễn biến thời gian từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc…trong văn bản. Nó làm cho
văn bản có tính hệ thống, có tính lôgíc không chỉ trên phương diện hình thức mà
cả phương diện ngữ nghĩa.

đạt một cách khéo léo lýýý do đến thăm của nhà trai ; đôi trẻ mến nhau, nếu hai
bên thông cảm và thống nhất sẽ dẫn đến hôn nhân, nếu không đây chỉ là cụôc
thăm hỏi của tình nghĩa bản mường. Sau đó , bà mối hát, khéo léo ca ngọi chàng
trai đã đến tuổi lấy vợ có tài đức vẹn toàn.."
(Nét đẹp bài hát dạm ngõ của người Thái đen Mường Lò _ Báo Yên Bái,
số 1777, ra ngày 8-9-2006 ).
+ Tiếp đó (tiếp theo): ý Cũng giống như từ quan hệ "sau đó", tiếp tục
những diễn biến ở câu trước, làm cho câu trước (phát ngôn trước trở nên rõ

Website: Email : Tel : 0918.775.368
nghĩa hơn )
Ví dụ 4: " Cũng giống như những lần trước đến thăm nhau, đầu tiên là hỏi
nhau những câu thật sáo rỗng, thật buồn tẻ. Tiếp đó , là những lời khen nịnh
nhau, khen mãi không thôi…nghe sao mà thấy đau lòng đến thế."
(Đến thăm nhau _ Báo Yên Bái, số 1643, ra ngày 29 - 06-2006 ).
+ Vẫn (biểu hiện sự tiếp tục, kéo dài của sự kiện, hành động đã xảy ra ở
câu trước, và vẫn còn tiếp tục kéo dài đến câu sau).
Ví dụ 5: “Là con nhà gia giáo, ngày bé bố anh chỉ biết mỗi chữ “ g” có
cái đuôi ngoạch ra hình tam giác mà bị ông nội vút cho đủ mười đầu ngón tay
rồi bắt viết lại 1000 lần bao giờ cho cái đuôi “ g” trong lại thì thôi. Vẫn giữ cái
nếp ấy, nên giờ thì bố anh càng buồn vì biết không không thể đánh con mình
mười ngón tay, càng không thể bắt nó làm được cái việc “vẽ” chữ như ngày
xưa.”
(Đánh mất bản thân _ Báo Yên bái, số 1735 ra ngày 2 – 6 – 2006 )
+ Còn : Biểu hiện sự kéo dài của một quá trình, một hành động, trạng thái
có ý nghĩa là chưa hết, chưa chấm dứt ở câu trước sang câu sau.
Ví dụ 6 : " Ôtô, xe máy đỗ chật cả khoảng sân rộng trước cửa nhà hàng,
không người nào từ chối lời mời. Còn ông bà Bảo nụ cời " thu hoạch" thường
trực trên môi , tay bắt tay, miệng cảm ơn rối rít."
(Ngân hàng cũng chịu _ báo Yên Bái, số 1795, ra ngày 20-10- 2006 ).

(Công đoàn Văn phòng Tình uỷ _ Tổ chức mạnh, hoạt động hiệu quả,
Báo Yên bái, số 1787 ra ngày 2-10-2006 )
Ví dụ 12 : " Như xã vùng cao Suối Giàng có trên 98% dân tộc Mông,
trước đây trẻ em gái không được đến trường nhưng từ khi thực hiện chỉ thị 50,
Suối Giàng đã thành lập được Hội Khuyến học, và đến nay đã có 10 chi Hội với
190 hội viên. Từ đó , Hội đã huy động trẻ đến trường đúng độ tuổi đạt 98%; cơ
sở trường lớp khang trang hơn, công tác giáo dục có bước phát triển tiến bộ ."
(Khuyến học ở Văn Chấn _ báo Yên Bái, số 1788, ra ngày 4-10-2006)
+ Trong thời gian tới : Lấy câu trước làm mốc chỉ những hành động,
diễn biến, sự việc và câu ở trong câu chứa nó này tiếp tục những diễn biến đó
Ví dụ 13: "Ngoài ra, hàng trăm em học sinh nghèo vượt khó học tập còn
được tặng sách, vở và các đồ dùng học tập khác. Trong thời gian tới, Văn Yên

Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiếp tục thực hiện tốt hơn nội dung cuộc vận động này cũng như cuộc vận động
"Ngày vì người nghèo"..."
(Văn Yên tiếp tục thực hiện xây dựng đời sống văn hoá_ Báo Yên Bái, số
1812, ra ngày 29-11-2006 ).
1.1.2. Thời gian đảo
Bao gồm những từ nối sau đây : trước đó, sau khi.
+ Trước đó : Là từ nối liên kết giữa hai hay nhiều câu chỉ những nội dung
mà đã được nêu ra trước đó, mà câu chứa nó chỉ mang hàm ý nhấn mạnh và
quay ngược lại làm rõ ý, giải thích cho câu đứng trước nó mà thôi..
Ví dụ 14 : “ Yếu tố nào đã thúc đẩy nền kinh tế sản xuất nông lâm nghiệp
của Văn Chấn đạt kết quả cao như vậy? Trước đó, phải nói đây là một huyện
vùng cao cách xa trung tâm thành phố đến 60- 70km, nên kinh tế cũng như cuộc
sống của người dân còn gặp vô vàn những khó khăn; nhưng nhờ vào ý thức
muốn làm giàu, muốn nâng cao cuộc sống của người dân, nên họ đã tích cực
tham gia học hỏi, rèn luyện kĩ năng cũng như kiến thức để có thể một ngày nào
đó, quê hương mình sẽ đổi mới.”

những vấn đề đặt ra , Báo Yên Bái, số 1803 ra ngày 8-11- 2006 )
+ Trong đó : Mang hàm ý ý nhấn mạnh những sự việc cho câu trước.
Ví dụ 18: " Thị xã Nghĩa Lộ hiện có trên 17 nghìn người trong đó độ tuổi
lao động và chủ yếu nằm trong khu vực sản xuất nông nghiệp. Trong đó, số lao
động ở tuổi từ 18-35 là dộ tuổi quy định trong xuất khẩu lao động chiếm khoảng
35-37%."
(Thị xã Nghĩa Lộ còn nhiều khó khăn trong xuất khẩu lao động_
Báo Yên Bái , số 1779, ra ngày 13-9-2006 ).
+ Cứ thế: Tiếp tục những diễn biễn ở câu trước, nhưng mang hàm ýy
nhấn mạnh, nối tiếp của sự vật sự việc.
Ví dụ 19: "Quả chuối, nải chuối cây nhà lá vườn chả đáng là bao nhưng
nó là tấm lòng của nhau. Cứ thế, tình xóm phố trở nên thân thiện."
(Đất chăng dây- cây dựng sào_ Báo Yên Bái, số 1778, ra ngày 11-9-2006
)
1.1.4. Thời gian đột biến, ngắt quãng
Bao gồm những từ nối : Bỗng nhiên, chợt, bỗng, đột nhiên.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Bỗng nhiên (chợt) : Là từ nối mang ý nghĩa đột ngột, không lường trư-
ớc được sự việc câu trước đã nêu ra. Người ta có thể nói cách khác như là : “
Bỗng” hay là “ chợt”.
Ví dụ 20 : " Tháng tám. Mưa cả ngày lẫn đêm, mưa rả rích suốt
tuần.Chợt, nhìn kìa...trên hàng rào xanh ngàn, nụ tầm xuân đầu tiên đã nở."
(Nụ hoa đầu tiên _ Báo Yên Bái, số 1772 ra ngày 28-8-2006 ).
Ví dụ 21 : " chị ngồi im vừa nghe bập bõm, vừa nghĩ những điều xa xôi..
Bỗng nhiên có một người lạ mặt xuất hiện."
(Người đàn bà _ báo Yên Bái, số 1798, ra ngày 27-10-2006 )
+ Đột nhiên: Cũng giống như “ bỗng nhiên”, mang lại sự bất ngờ, đột
ngột trong câu chứa nó mà câu trước chưa đưa ra. Chính vì vậy, nó thuộc vào
quan hệ chỉ thời gian mang tính đột biến.

Ví dụ 25 : “ Thân cây nứa còn làm được rất nhiều việc : nứa khô làm củi
đốt, nứa đan rào làm leo dưa, giàn mướp cho bà, cho mẹ...nứa làm nhà, làm vũ
khí..tuỳ theo từng loại mà ngoài những công dụng chung, chúng còn có những
cách sử dụng khác nhau. Từ những ống nứa Ngộ, có thể tiện thành ống gánh
nước, ống để muối, để hạt giống nơi gác bếp...nhiều khi rảnh rỗi, ông nội tôi
thường ngồi chẻ nan đan những cái cót lớn cho nhà bác phơi thóc, phơi ngô..”
( Nứa rừng _ Báo Yên Bái, số 1759 ra ngày 28 – 7 – 2006 )
Ví dụ 26: “ Tạm biệt 13 hộ dân còn trụ lại bản Làng Giàng, ngược suối Tà
Dê Đơ mất gần hai giờ đi bộ chúng tôi đến địa điểm mà người dân đã di cư sang.
Theo ranh giới bản đồ 364, dân Làng Giàng đã xâm phạm sang đất Phong Dụ
Thượng khoảng 3km .Từ trên cao nhìn xuống bản mới hình thành với gần 20
nóc nhà với ruộng nước, lúa nương, ao cá...
(Thương quá Làng Giàng, báo Yên Bái, số 1763 ra ngày 7 – 8 – 2006 )
1.2.2. Thời gian đảo
Bao gồm từ nối như là : trước, sau.
+ Trước : Chỉ những sự việc, hành động đã có ở câu trước, câu sau này
chỉ mang ýý nhắc lại hoặc nhấn mạnh thêm mà thôi.
Ví dụ 27: " Thêm một trường hợp “ cười ra nước mắt” đó là một đám cưới
rước dâu đi qua cầu, cô dâu ngồi sau xe máy chú rể , có lẽ vì mặt phằng sàn cầu
quá kém cùng với sự cộng hưởng mạnh khi nhiều người qua cầu cùng một lúc

Website: Email : Tel : 0918.775.368
mà cô dâu bị bắn ra khỏi xe máy, phải đưa đi cấp cứu, song may là cô dâu không
bị thương nặng. Trước sự xuống cấp của cây cầu, hàng năm chính quyền xã đã
dành một phần tiền để tu sửa, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân.”
(Nỗi kinh hoàng từ một cây cầu “ quá đát” _ Báo Yên Bái, số 1800 ra
ngày 1- 11- 2006 )
Ví dụ 28: “ Số phạm nhân đông, loại phạm tội đa dạng , phức tạp, riêng
phạm nhân có tiền sử nghiện ma tuý chiếm tới gần 60%, chưa kể số phạm nhân
nhiễm HIV có trên trăm người...Những con số trên đây cho thấy công tác quản

được nói tới đó.
Ví dụ 31 : “ Mừng nhất là bà Lân, ngoài công việc chợ búa, bếp núc , trò
chuyện với mấy bà bạn cùng khu phố , nay bà có thêm niềm vui mới là mảnh
vườn nhỏ , với dăm luống rau của từng mùa tươi tốt. Và cũng chẳng có ai vui
bằng bà mỗi khi được hái mớ rau vườn nhà biếu hàng xóm hay mời họ ra thăm
vườn rau.”
(Chuyện thường ngày: Mưa ơi là mưa ! _ Báo Yên Bái, số 1769 ra ngày
21 – 8 - 2006 )
Ví dụ 32: “ Chị lao công đang quét rác, một chút hương hoa để chị trút đi
ưu phiền, mỏi mệt , nở nụ cười vì thấy đường phố đã sạch đẹp hơn . Một người
mẹ đang ngồi đan áo, một chút hương hoa để những mũi len đỏ đều tay và ngay
ngắn, cũng như tình yêu của mẹ dành cho con..Và rồi gió lại bay về bên hàng
rào hoa hồng, kể cho tầm xuân nghe những nơi mà nó vừa đi qua, những điều
mà chúng vừa đem lại.”
(Nụ hoa đầu tiên _ Báo Yên Bái, số 1772 ra ngày 28 – 8 - 2006)
Nếu xem xét những ví dụ này chúng ta có thể thấy, từ nối " và " có tác
dụng biểu hiện mối quan hệ liên hợp giữa hai phát ngôn, mà chúng ta không thể
bỏ đi được. Mặt khác, nếu trong phát ngôn thứ hai không có từ nối " và" thì nó
trở thành một ngữ trực thuộc của phát ngôn thứ nhất mà thôi. (xem khái niệm
Ngữ trực thuộc trong phần 3.2.1 chương I)
Xem lại ví dụ (31): đó là hai phát ngôn riêng biệt :
(1): Mừng nhất là bà Lân, ngoài công việc chợ búa, bếp núc , trò chuyện
với mấy bà bạn cùng khu phố, nay bà có thêm niềm vui mới là mảnh vườn nhỏ ,
với dăm luống rau của từng mùa tươi tốt

Website: Email : Tel : 0918.775.368
(2): Và cũng chẳng có ai vui bằng bà mỗi khi được hái mớ rau vườn nhà
biếu hàng xóm hay mời họ ra thăm vườn rau.”
Phát ngôn (2) chính là một ngữ trực thuộc, được xây dựng theo nòng cốt
qua lại đã bị tỉnh lược phần chủ đề vì vậy chúng ta không thể hiểu được rõ nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status