Đề tài Mô hình IS- LM và ứng dụng trong phân tích chính sách kinh tế - Pdf 27

Mục lục
Trang
Lời mở đầu
1_ Vai trò và các giả thiết của mô hình 3
1.1 Vai trò, ý nghĩa của mô hình 3
1.2 Một số giả thiết 4
2_ Mô hình cân bằng vĩ mô
2.1 Thị trường hàng hóa dịch vụ- đường IS 4
2.1.1 Mô tả mức cầu 4
2.1.2 Mô tả mức cung 6
2.1.3 Cân bằng thị trường hàng hóa dịch vụ và đường IS 6
2.1.4 Phân tích mô hình và ứng dụng chính sách tài chính 7
2.2 Thị trường tiền tệ và đường LM 9
2.2.1 Mô tả cung tiền tệ 9
2.2.2 Mô tả cầu tiền tệ 10
2.2.3 Cân bằng thị trường tiền tệ và đường LM 10
2.2.4 Phân tích mô hình và phân tích chính sách tiền tệ 11
3. Mô hình cân bằng đồng thời: mô hình IS- LM 12
3.1 Mô hình IS- LM 12
3.2 Phân tích so sánh tĩnh và phân tích chính sách kinh tế 13
3.2.1 Tác động của chính sách tài khóa 13
3.2.2 Tác động của chính sách tiền tệ 15
3.2.3 Phân tích hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 17
3.2.4 Mô hình IS- LM với tư cách lý thuyết tổng cầu 18
4. Mô hình IS- LM dạng tuyến tính loga 20
4.1 Mô hình dạng tuyến tính loga 20
4.2 Mô hình tuyến tính loga dùng trong thực tế 21
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Lời mở đầu
Các mô hình cân bằng riêng hoặc tổng thể không có sự tham gia của Nhà

diện”. Ông coi chính sách tài chính là chủ trương áp dụng chính sách số hụt tài
chính mở rộng, dùng chính sách lạm phát tiền tệ để thay thế cho chính sách
tiền tệ truyền thống.
Với sự có mặt của Nhà nước là một tác nhân mới, cơ cấu thị trường cũng
phát triển phong phú và đa dạng hơn và mối quan hệ giữa các tác nhân trên thị
trường cũng phức tạp hơn.Từ đó đòi hỏi phải phát triển những mô hình kinh tế
phù hợp để phân tích kinh tế vĩ mô. Đó là cân bằng kinh tế và phát triển kinh
tế (tăng trưởng kinh tế). Một trong những hướng nghiên cứu cân bằng kinh tế
với sự tham gia của Nhà nước là sử dụng mô hình cân bằng vĩ mô, rất thuận
tiện trong phân tích chính sách kinh tế.
Thông qua việc thiết lập và phân tích mô hình vĩ mô có thể thấy được các
hoạt động kinh tế của Nhà nước thông qua các chính sách. Mô hình có các
biến gộp như: mức sản lượng, thu nhập, mức giá chung, mức công ăn việc
làm, thất nghiệp, lãi suất Những biến số kinh tế vĩ mô này tạo điều kiện cho
các nhà kinh tế và hoạch định chính sách lượng hóa và so sánh các phương
diện khác nhau của kết quả kinh tế giữa các năm và các quốc gia. Song mục
tiêu của chúng ta không chỉ là tính toán kết quả kinh tế mà còn lý giải nó.
Nghĩa là, chúng ta muốn thiết lập các mô hình kinh tế giúp chúng ta hiểu được
phương thức hoạt động của nền kinh tế, mối liên hệ giữa các biến số kinh tế
khác nhau và ảnh hưởng của chính sách kinh tế.
1.2 Một số giả thiết
Ta sẽ nghiên cứu mô hình trong ngắn hạn và tĩnh, đồng thời các biến số
là các biến thực. Xét trong ngắn hạn, coi công nghệ sản xuất, sở thích của
người tiêu dùng là không đổi. Trước tiên xét cân bằng trên từng thị trường
riêng là thị trường hàng hóa và dịch vụ và thị trường tiền tệ sau đó sẽ kết hợp
đồng thời hai thị trường này. Khi sử dụng mô hình để phân tích chính sách ta
sẽ đề cập tới hai chính sách: chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Để tiện
sử dụng, ta ký hiệu F
x
là đạo hàm riêng của hàm F theo biến x.

vào thu nhập đó là thu nhập khả dụng.
Do đó ta có hàm tiêu dung: C(Y) = C
0
+ C(Y-T)
Nếu hàm tiêu dùng C là tuyến tính thì hàm tiêu dùng có dạng:
C(Y) = C
0
+ c(Y-T)
Trong đó c được gọi là khuynh hướng tiêu dùng cận biên, là mức thay
đổi của tiêu dùng khi thu nhập tăng lên một đơn vị.
0 < c < 1: nghĩa là một đơn vị thu nhập tăng thêm làm tăng tiêu dùng
nhưng mức tăng chưa đạt 1 đơn vị. Nếu các hộ gia đình nhận thêm 1 đơn vị
thu nhập, họ sẽ tiết kiệm một phần số tiền này. Chẳng hạn, nếu c = 0.7 nghĩa
là các hộ gia đình chỉ tiêu 70 xu của mỗi đôla thu nhập khả dụng tăng thêm để
mua hàng hóa và dịch vụ, và tiết kiệm 30 xu còn lại.
Hình vẽ sau minh họa cho hàm tiêu dùng

C
C(Y)
c

C
O

0 Y

Độ dốc của hàm tiêu dùng cho chúng ta biết tiêu dùng tăng lên bao nhiêu
khi thu nhập khả dụng tăng thêm 1 đơn vị. Điều đó hàm ý độ dốc của hàm
tiêu dùng chính là c (khuynh hướng tiêu dùng cận biên).
Ngoài ra thông qua việc phân tích mô hình lựa chọn của người tiêu dùng

+ I(r). Với giả thiết I
r
< 0.
Một cách tổng quát, đầu tư I ngoài lãi suất r còn phụ thuộc vào thu nhập Y và
tài sản vốn K, tức là hàm đầu tư có dạng
I = I (r, Y, K) với các giả thiết I
r
< 0, I
Y
> 0, I
K
> 0
2.1.1.3 Mức cầu cho chi tiêu của Chính phủ
Mua hàng của Chính phủ là thành tố thứ 3 của nhu cầu về hàng hóa và
dịch vụ. Chúng ta không tìm cách lý giải quá trình chính trị dẫn đến một
chính sách tài chính nhất định tức là dẫn đến một mức mua hàng của Chính
phủ nên chi tiêu của Chính phủ được coi là biến ngoại sinh. Ký hiệu là G
0
.
2.1.1.4 Xuất nhập khẩu
Tham gia vào thị trường còn có yếu tố nhập khẩu (IM) và yếu tố xuất
khẩu (EX) hàng hóa dịch vụ để đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. Nhu
cầu tiêu dùng nhập khẩu và nhu cầu quốc tế hàng hóa xuất khẩu cũng gồm
hai bộ phận. Một bộ phận không phụ thuộc vào thu nhập của nước sở tại là
IM
0
và EX
0
và một bộ phận phụ thuộc vào thu nhập Y là IM(Y) và EX(Y).
Hàm nhập khẩu IM = IM

NX
Y
= - IM
Y
. Do 0 < IM
Y
< 1 nên -1 < NX
Y
< 0
2.1.1.5 Hàm tổng chi tiêu
Tổng cộng các mức cầu trên ta có hàm tổng chi tiêu E = C +I +G
0
+NX
hàm này thể hiện các mức cầu trên thị trường hàng hóa dịch vụ.
Ta có : E =C
0
+I
0
+G
0
+NX
0
+C(Y-T) +I(r) +NX(Y)
Hay E = E
0
+E(Y, r, T) với E
0
= C
0
+I

< 0.
2.1.2 Mô tả cung
Ký hiệu Q là mức cung hàng hóa dịch vụ trên thị trường và là biến ngoại
sinh. Do Q được tính theo giá cố định nên xét về mặt số học Q = Y .
2.1.3 Điều kiện cân bằng thị trường hàng hóa dịch vụ
Điều kiện cân bằng là Q = E hay Y =E nên ta có phương trình cân bằng
thị trường hàng hóa dịch vụ là Y= E
0
+ E(Y, r, T).
Ta có mô hình IS:
C(Y) = C
0
+ C(Y-T)
I = I
0
+ I(r)
NX = NX
0
+ NX(Y)
E = C
0
+ I
0
+ G
0
+ NX
0
+ C(Y-T) + I(r) + NX(Y)
Y = E
0

mức lãi suất nào. Từ hàm tiêu dùng ta thấy thu nhập cũng phụ thuộc vào
chính sách tài chính. Đường IS được vẽ cho một chính sách tài chính nhất
định. Điều đó có nghĩa là giữ G
0
và T cố định, khi chính sách tài chính thay
đổi đường IS dịch chuyển.
2.1.4 Phân tích mô hình và ứng dụng chính sách tài chính
2.1.4.3 Giải mô hình
Phương trình cân bằng thị trường hàng hóa dịch vụ xác định mối quan hệ
giũa Y và r để đảm bảo cân bằng thị trường này với E
0
và T cố định.
Nghiệm của phương trình là Y*, C*, I*. Trong đó:
Y* = Y*(C
0
, I
0
, G
0
, T, r) và I* = I*(r).
Biểu diễn mối quan hệ giữa Y và r trên mặt phẳng tọa độ (Y, r) ta được
đường IS.
r
.IS
0 Y

Đường IS là đồ thị của hàm số biểu thị quan hệ giữa r và Y. Coi phương

Y
+ NX
Y
nên
nếu NX là biến ngoại sinh thì E
Y
= C
Y
khi đó hay d
r
=
2.1.4.4 Phân tích so sánh tĩnh và phân tích chính sách kinh tế
Tác động của E
0
Ta có: > 0. Như vậy E
0
và Y có quan hệ thuận chiều bởi vậy
bất cứ sự tăng hay giảm của thành phần trong E
0
(G
0
, I
0
, NX
0
) sẽ làm đường
IS dịch chuyển sang phải hay trái.
Chính sách tài chính và nhân tử : mua hàng của chính phủ. Chúng ta
sẽ phân tích xem sự thay đổi trong mức mua hàng của Chính phủ có tác động
như thế nào tới nền kinh tế.

Mức tăng thu nhập bằng c* lần thứ hai này lại tiếp tục làm tăng tiêu dùng
một lượng là c*(c* ) vì bản thân nó lại làm tăng tiêu dùng và thu nhập,
v.v Sự hồi tiếp như vậy từ tiêu dùng tới thu nhập, sau đó tới tiêu dùng tiếp
diễn vô hạn. Hiệu ứng tổng cộng đối với thu nhập là:
Y = (1 + c + c
2
+ c
3
+ )* G
Nhân tử mua hàng của Chính phủ bằng:
Y/ G = 1 + c + c
2
+ c
3
+
Công thức tính nhân tử này là một cấp số nhân vô hạn. Kết quả tính toán được
cho chúng ta viết nhân tử như sau: Y/ G = với c là khuynh hướng
tiêu dùng cận biên. Ví dụ, nếu c = 0.6, nhân tử sẽ bằng:
Y/ G = 1 + 0.6
2
+ 0.6
3
+ = = 2.5
Trong trường hợp này, 1$ tăng thêm trong mua hàng của Chính phủ làm
cho thu nhập cân bằng tăng thêm 2.5$.
Chính sách tài chính và nhân tử: thuế. Bây giờ chúng ta xem
xét sự thay đổi của thuế có tác động như thế nào tới nền kinh tế. Biện pháp
giảm thuế ở mức T lập tức làm cho thu nhập khả dụng Y-T tăng một lượng
là T qua đó làm tăng tiêu dùng ở mức c* T.
Ta có: . Nên khi Chính phủ tăng (giảm) thuế T

có nghĩa là, khối lượng tiền tệ của nền kinh tế có thể mua được 20 ổ bánh mì
tại mức giá hiện hành.
Gọi M
0
là cung ứng tiền tệ. P là mức giá hàng hóa và dịch vụ hiện hành
thì M
0
/P là cung về số dư tiền thực tế. Lý thuyết về sự ưa thích thanh khoản
giả định cung về số dư tiền thực tế cố định nghĩa là không phụ thuộc vào lãi
suất. Cung tiền tệ là một biến ngoại sinh do Ngân hàng Trung ương quy định.
P cũng là biến ngoại sinh trong mô hình.
2.2.2 Mô tả cầu tiền tệ
Hàm cầu về tiền tệ là một phương trình cho biết yếu tố nào quyết định số
dư tiền thực tế mà dân cư muốn giữ. Một hàm cầu đơn giản về tiền tệ dạng:
(M/P)
D
= kY. Trong đó k là hằng số. Phương trình này nói rằng lượng cầu về
số dư tiền thực tế tỷ lệ thuận với thu nhập thực tế.
Xét hàm cầu tổng quát hơn, thực tế hơn, trong đó chúng ta giả định rằng
nhu cầu về số dư thực tế phụ thuộc vào lãi suất và thu nhập: (M/P)
D
= L(Y,
r). Các lý thuyết cơ cấu đầu tư dự báo rằng nhu cầu về tiền tệ có thể phụ
thuộc vào rủi ro và lợi tức mà tiền và các tài sản không phải tiền của các hộ
gia đình mang lại. Ngoài ra nhu cầu tiền còn phụ thuộc vào tổng số của cải,
vì của cải phản ánh quy mô của cơ cấu đầu tư được phân thành tiền và các tài
sản khác. Ví dụ, chúng ta có thể viết hàm cầu tiền như sau:
(M/P)
D
= L(r

= L(Y, r) với giả thiết L
Y
> 0, L
r
< 0.
2.2.3 Cân bằng thị trường tiền tệ và đường LM
Bây giờ chúng ta dùng lý thuyết về sự ưa thích thanh khoản để thiết lập
đường LM. Chúng ta thấy rằng lãi suất cân bằng là mức lãi suất làm cân
bằng cung và cầu tiền tệ phụ thuộc vào thu nhập. Đường LM biểu thị mối
quan hệ giữa lãi suất và thu nhập.
Với mức cung tiền thực tế M
0
/P, phương trình cân bằng thị trường tiền tệ
là: (M
0
/P) = L(Y, r) . Ta có mô hình:
M
D
= L(Y, r)
M
S
= M
0
/P
M
0
/P = L(Y, r) với M
0
, P là các biến ngoại sinh.


bởi độ dốc của đường LM ít hay nhiều. Ta có độ dốc của đường LM là
hay dr = -
2.2.4.2 Phân tích so sánh tĩnh và phân tích chính sách tiền tệ
Với P cố định khi Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng hay
thắt chặt tức là tăng hay giảm M
0
làm tăng hay giảm mức cung tiền thực tế
M
0
/P. Ta có: >
0. Tức là khi M
0
tăng (giảm) sẽ làm dịch chuyển đường LM sang phải (trái).
Đại lượng gọi là nhân tử gia tăng tiền tệ.
Từ phân tích trên chúng ta thấy chính sách tiền tệ chỉ tác động tới đường
LM tức là trên thị trường tiền tệ mà không ảnh hưởng đến thị trưòng hàng hóa
và dịch vụ.
3_ Mô hình cân bằng đồng thời- mô hình IS- LM
3.1 Mô hình IS- LM
Như vậy đường LM tự nó không quy định thu nhập Y hoặc lãi suất r.
Cũng như đường IS, đường LM chỉ biểu thị mối quan hệ giữa hai biến nội
sinh này. Mà cả hai đường IS và LM cùng tham gia vào quyết định trạng thái
cân bằng của nền kinh tế.
Ta sẽ kết hợp đồng thời trên hai thị trường hàng hóa và tiền tệ tức là gộp
hai mô hình IS, LM thành một hệ thống. Ta có:
Mô hình IS: Y = E
0
+ E(Y, r, T)
Mô hình LM: M
0

D
= Y –100r
Mức giá P = 2
Xác định mô hình IS_ LM .
Giải.
Đường IS có dạng: Y = C(Y-T) + I(r) + G
Thay số ta đuợc :
Y = 200 + 0.75(Y-T) + 225 – 25r +75 0.25Y = 425 – 25r hay
Y = 1700 – 100r (*)
Đường LM mô tả trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ: Mo
S
/P=M
D
Thay số: = Y – 100r Y = 500 +100r (**)
Kết hợp (*) và(**) ta có mô hình IS- LM
IS: Y = 1700 – 100r
LM: Y = 500 + 100r
Giải hệ phương trình này ta xác định được trạng thái cân bằng đồng thời
của nền kinh tế: (Y
0
= 1100, r
0
= 6%) .
3.2 Phân tích so sánh tĩnh và phân tích chính sách kinh tế
3.2.1 Tác động của chính sách tài khóa
Sự thay đổi của chính sách tài khóa làm dịch chuyển đường IS. Mô hình
IS- LM chỉ ra tác động của sự dịch chuyển của đường IS tới thu nhập và lãi
suất. Sự tác động này của chính sách tài khóa thể hiện việc tăng giảm của chi
tiêu Chính phủ (G
0

Y
)dY –E
r
dr = dE
0
– C
Y
dT
L
Y
dY + L
r
dr = (1/P)dM
0
– (M0/P
2
)dP
Với F = Y – E
0
– E(Y, r, T), G = M
0
/P – L(Y, r)
F
Y
= 1- E
Y
, G
Y
= L
Y

< 1 nên > 0.
Bây giờ chúng ta sẽ giải thích ảnh hưởng của sự mở rộng tài khóa đến
nền kinh tế.
Giả sử Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng thông qua việc
tăng chi tiêu Chính phủ. Ban đầu tổng cầu sẽ tăng thêm một lượng tương ứng.
Để đáp ứng sự gia tăng cầu về hàng hóa dịch vụ sản lượng phải tăng. Điều
này được thể hiện bằng sự dịch chuyển sang phải của đường IS. Tại mỗi mức
lãi suất cho trước, thu nhập cân bằng sẽ tăng thêm một lượng bằng c nhân với
lượng thay đổi của chi tiêu Chính phủ. Ví dụ, nếu chi tiêu Chính phủ tăng 100
và số nhân chi tiêu là 2 thì thu nhập cân bằng sẽ tăng là 200. Điều này ngụ ý
đường IS dịch chuyển sang phải một lượng là 200.
r
LM

r
r
o

Y= c * G IS’
IS

Nếu ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tại E
0
và chi tiêu Chính
phủ tăng 100, thì nền kinh tế sẽ chuyển đến nếu lãi suất không thay đổi.
Tại thị trường hàng hóa cân bằng- chi tiêu kế hoạch bằng thu nhập. Tuy
nhiên thị trường tiền tệ không cân bằng. Khi thu nhập tăng cầu tiền tệ cũng
tăng. Tại mức lãi suất r
o
cầu tiền tệ thực tế bây giờ đã lớn hơn cung tiền thực

sẽ tăng cao hơn và chính sách sẽ hiệu quả hơn trong việc điều tiết tổng cầu.
3.2.2 Tác động của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ tìm cách ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua kiểm
soát các điều kiện tài chính như sự sẵn sàng về tín dụng và chi phí vay tiền.
Trong thực tế, các điều kiện tài chính này rất rộng và linh hoạt, tuy nhiên
trong kinh tế vĩ mô chúng ta đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát khối lượng
tiền tệ. Chính sách kích cầu bằng tăng cung ứng tiền tệ được gọi là chính
sách tiền tệ mở rộng hay chính sách tiền tệ lỏng. Ngược lại, chính sách giảm
tổng cầu thông qua cắt giảm cung tiền được gọi là chính sách tiền tệ thắt
chặt.
Để phân tích tác động của chính sách tiền tệ khi Chính phủ tăng giảm
lượng tiền cung ứng M
0
ta cần tính nhân tử gia tăng tiền tệ . Bằng
cách tính tương tự như trên ta có:
Hệ phương trình dạng ma trận:
=
Ta có:
= L
r
(1- E
Y
) + L
Y
E
r
, = E
r

Suy ra: > 0. Ta có thể giải thích như sau:

1
dọc theo
đường IS. Thu nhập làm tăng cầu tiền và đẩy lãi suất tăng lên. Cuối cùng nền
kinh tế sẽ đạt trạng thái cân bằng tại E
1
với r
1
, Y
1
: cả hai thị trường hàng hóa
và tiền tệ đều cân bằng. Chúng ta có thể tóm tắt cơ chế hoạt động của việc mở
rộng tiền tệ như sau:
Cung tiền tăng Lãi suất giảm Đầu tư tăng Tổng chi tiêu kế
hoạch tăng Thu nhập tăng.
Như vậy, chính sách tiền tệ có ảnh hưởng khác đến các thành phần của
sản lượng so với sự thay đổi của chính sách tài khóa thông qua thay đổi chi
tiêu Chính phủ. Khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, tổng cầu bị ảnh
hưởng thông qua sự thay đổi của cầu đầu tư, trong khi đó chi tiêu Chính phủ
không thay đổi, và chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân tăng lên do thu nhập tăng.
Trái lại tăng chi tiêu Chính phủ làm tăng lãi suất và giảm đầu tư tư nhân. Do
vậy, việc lựa chọn công cụ chính sách nào nhằm mở rộng (hoặc thu hẹp) tổng
cầu một phần sẽ phụ thuộc vào ý định của các nhà hoạch định chính sách
trong việc thay đổi cơ cấu cuối cùng của sản lượng.
Vậy điều gì quyết định hiệu quả của chính sách tiền tệ? Có ba nhân tố cơ
bản quyết định hiệu quả của chính sách tiền tệ:
- Hệ số co giãn của cầu tiền với lãi suất: tăng cung tiền sẽ ít hiệu quả trong
việc tăng tổng cầu khi cầu tiền co giãn mạnh với lãi suất (khi đường cầu
tiền tương đối thoải). Khi cầu về tiền co giãn mạnh với lãi suất, tăng cung
tiền có ảnh hưởng nhỏ đến lãi suất, lãi suất r chỉ giảm ít. Các yếu tố khác
giữ nguyên, khi lãi suất giảm ít thì chỉ có một sự gia tăng nhỏ của đầu tư

=
0) thì đường IS thẳng đứng do đó chính sách tiền tệ không hiệu quả.
- Ta có: . Nếu > 1 thì chính sách tài khóa hiệu quả
hơn chính sách tiền tệ. Ngược lại nếu < 1 thì chính sách tiền tệ hiệu
quả hơn chính sách tài khóa. Như vậy từ tỉ số trên ta thấy ảnh hưởng
tương đối của hai chính sách phụ thuộc vào mức độ phản ứng của cầu tiền
tệ và của cầu đầu tư đối với biến động của lãi suất.
Sự thay đổi chính sách được thảo luận ở trên thực hiện dưới hình thái thay
đổi ngoại sinh trong một chính sách, giữ các biến ngoại sinh khác cố định.
Trong thực tế chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể tồn taị
không độc lập với nhau. Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính đều theo
đuổi các chính sách mà chúng có thể tương hợp có thể không. Chúng ta
đơn giản lưu ý rằng ảnh hưởng cuối cùng của chính sách tài khóa phụ
thuộc vào phản ứng của Ngân hàng Trung ương trước sự thay đổi đó. Ví
dụ, giả sử Chính phủ tăng thuế. Với những yếu tố khác không đổi, điều
này sẽ làm giảm sản lượng và lãi suất trong ngắn hạn. Tuy nhiên nếu
Ngân hàng Trung ương tìm cách giữ mức lãi suất không đổi, nó sẽ phản
ứng trước sự thay đổi này bằng cách giảm cung tiền. Kết quả là sản lượng
giảm nhiều hơn. Một cách khác là Ngân hàng Trung ương muốn giữ sản
lượng ổn định, trong trường hợp đó nó sẽ tăng cung tiền, làm giảm lãi
suất nhiều hơn. Bài học cơ bản rút ra là ảnh hưởng cuối cùng đến nền
kinh tế phụ thuộc hỗn hợp các chính sách được lựa chọn bởi các cơ quan
quản lý tiền tệ và tài khóa.
3.2.4 Mô hình IS_ LM với tư cách lý thuyết tổng cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status