A. MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Một trong những cách giúp doanh
nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh đó là tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu
vào của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm mà vẫn
đảm bảo chất lượng của sản phẩm, phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, mỗi quá trình thi công xây lắp đều có sự kết hợp
của ba yếu tố đầu vào: Đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động. Nguyên
liệu, vật liệu là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất,
là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể của sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng giá thành sản phẩm. Mỗi sự biến động về chi phí nguyên vật liệu
làm ảnh hưởng đến sự biến động của giá thành sản phẩm. Vì thế sử dụng tiết kiệm
nguyên vật liệu là rất quan trọng.
Nếu hạch toán kế toán nói chung là công cụ đắc lực để quản lý tài chính thì hạch
toán kế toán vật liệu nói riêng là công cụ đắc lực của công tác vật liệu. Kế toán vật liệu
có chính xác kịp thời hay không ảnh hưởng đến tình hình hiệu quả quản lý doanh nghiệp.
Vì vậy để tăng cường công tác quản lý vật liệu phải không ngừng cải tiến và hoàn thiện
công tác kế toán vật liệu. Hạch toán kế toán vật liệu giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp nắm
bắt được tình hình thu mua, nhập xuất, dự trữ vật liệu một cách chính xác để từ đó có
biện pháp chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh kịp thời. Tổ chức công tác hạch toán vật
1
liệu chặt chẽ sẽ góp phần cung ứng kịp thời và đồng bộ nguyên vật liệu cho sản xuất,
nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Mặt khác do chi phí nguyên vật liệu chiếm
một tỷ trọng lớn trong giá thành, do đó chất lượng của công tác kế toán vật liệu có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc tập hợp chi phí giá thành sản phẩm.
Công ty cổ phần Licogi 14 là công ty xây dựng, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ
trọng lớn trong các công trình. Vì vậy, công tác kế toán nguyên vật liệu luôn được công
ty chú trọng. Công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty có những ưu điểm nhất định
phù hợp với điều kiện cụ thể của công ty. Tuy nhiên do những nguyên nhân chủ quan và
khách quan mà công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty còn có những hạn chế cần
dự trữ NVL ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, tiến độ thi công công trình. Tác giả đã đưa
ra biện pháp xây dựng định mức dự trữ nguyên vật liệu và lập kế hoạch dự trữ nguyên vật
liệu cho Công ty.
3
Khóa luận tốt nghiệp “ Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần vật liệu xây
dựng Bồ Sao” của tác giả Trần Thị Hồng Nhung- sinh viên K8 Đại học Kế toán, Trường
Đại học Hùng Vương, năm 2014. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán nguyên
vật liệu. Trên cơ sở đó tác giả phản ánh, đánh giá thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại
Công ty cổ phần vật liệu xây dựng Bồ Sao, tìm ra một số hạn chế trong công tác kế toán
nguyên vật liệu tại Công ty như: trong công tác quản lý nguyên vật liệu công ty còn hạn
chế về phương tiện quản lý kho đó là chưa sử dụng phần mềm quản lý kho mà mọi việc
nhập xuất kho đều ghi chép bằng tay. Từ hạn chế này tác giả đã nghiên cứu một số phần
mềm quản lý kho và tìm ra phần mềm quản lý kho SSE Inventory 2012 là phù hợp với
Công ty, đồng thời đưa ra hướng dẫn chi tiết về sử dụng phần mềm này.
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận,
nghiên cứu thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại doanh nghiệp cụ thể, đánh giá được ưu
điểm, nhược điểm và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Các đề tài đã nghiên cứu về nguyên
vật liệu dưới góc độ phản ánh thực trạng kế toán nguyên vật liệu và chưa phân tích khi có
sự chênh lệch giữa giá dự toán và giá thực tế, nếu có sự chênh lệch thì phải làm như thế
nào. Mặt khác, Ngày 22/12/2014 Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 200/2014/TT-
BTC thay thế quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 nên những đề tài trước
không có tính cập nhật. Vì vậy, trong khóa luận của mình tác giả sẽ thực hiện đề tài
nghiên cứu “ Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ
phần Licogi 14” với các nội dung sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận trên cơ sở đã cập nhật
thông tư 200/2014/TT-BTC và cơ sở lý luận về sự thay đổi giá dự toán, tìm hiểu thực
4
trạng kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần Licogi 14, đánh giá chi phí nguyên vật
liệu thực tế so với chi phí nguyên vật liệu theo dự toán, từ đó đưa ra các đánh giá khách
quan về kết quả đạt được và những tồn tại phải hoàn thiện, đồng thời đề xuất các giải
pháp tương ứng, điều kiện thực hiện các giải pháp đã đề xuất.
lý, kiểm tra, phân tích thông tin về tình hình kinh tế tài chính của đơn vị cho các đối
tượng sử dụng.
+ Phương pháp chứng từ kế toán: Là phương pháp kế toán được sử dụng để phản
ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành theo thời gian, địa điểm phát
sinh hoạt động đó vào các chứng từ kế toán, phục vụ cho công tác kế toán, công tác quản
lý.
+ Phương pháp tài khoản kế toán: Là phương pháp kế toán được sử dụng để phân
loại đối tượng kế toán từ đối tượng chung tới đối tượng cụ thể để ghi chép, phản ánh,
kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự biến
6
động của từng đối tượng cụ thể nhằm cung cấp thông tin về các hoạt động kinh tế của
đơn vị, phục vụ cho lãnh đạo trong quản lý kinh tế, tổ chức và lập báo cáo tài chính.
+ Phương pháp tính giá: Là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để xác
định giá thực tế của tài sản theo những nguyên tắc nhất định.
+ Phương pháp tổng hợp – cân đối kế toán: Là phương pháp kế toán được sử dụng
để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các mối quan hệ vốn có của đối tượng nhằm
cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán phục
vụ công tác quản lý các hoạt động kinh tế tài chính trong và ngoài đơn vị.
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia
và các thầy cô giáo để tìm được định hướng đúng đắn trong việc khái quát, đánh giá và
đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài được trình bày trong 03
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây dựng
Chương 2: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Công ty cổ phần LICOGI 14
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công
ty Cổ phần Licogi 14
7
B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào
quá trình sản xuất nó cấu thành thực thể vật chất của sản phẩm xây lắp như: gạch, cát, đá,
sỏi, xi măng toàn bộ giá trị của NVL được chuyển vào giá trị sản phẩm mới.
- Vật liệu phụ: Là các loại vật liệu được sử dụng trong sản xuất để tăng chất lượng
sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý sản xuất hoặc bao
gói sản phẩm Các loại vật liệu này không cấu thành nên thực thể của sản phẩm.
- Nhiên liệu: Cũng là vật liệu phụ nhưng do có tính chất lí hoá đặc biệt và có vai trò
quan trọng trong sản xuất kinh doanh nên được xếp thành một loại riêng để có chế độ bảo
quản, sử dụng thích hợp. Nhiên liệu là loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt năng cho
quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiên liệu bao gồm các loại ở thể lỏng, khí, rắn như xăng,
dầu, than, củi, hơi đốt để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm cho các phương tiện,
máy móc thiết bị hoạt động.
- Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị
sản xuất, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật tư được sử dụng cho công
việc xây dựng cơ bản. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, công
cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt các công trình xây dựng cơ bản
- Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các loại vật liệu
này do quá trình sản xuất loại ra như: phế liệu, vật liệu thu hồi do thanh lý TSCĐ
10
Việc phân chia nguyên vật liệu thành các loại như trên giúp cho kế toán tổ chức
các tài khoản tổng hợp, chi tiết để phản ánh thình hình thực hiện có và sự biến động của
các loại nguyên liệu đó trong qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
giúp cho doanh nghiệp nhận biết rõ nội dung kinh tế và vai trò, chức năng của từng loại
vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp thích hợp trong việc tổ
chức quản lí và sử dụng có hiệu quả các loại vật liệu.
* Căn cứ vào mục đích, công dụng của vật liệu cũng như nội dung quy định phản
ánh chi phí vật liệu trên các tài khoản kế toán, vật liệu của doanh nghiệp được chia thành:
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ quản lý ở các phân
Trong khâu thu mua nguyên vật liệu phải quản lí về khối lượng, quy cách, chủng
loại, giá mua, thuế GTGT được khấu trừ và chi phí mua. Đồng thời phải thực hiện kế
hoạch mua theo đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiêp.
Trong quá trình bảo quản nguyên vật liệu phải tổ chức tốt kho tàng bến bãi, xây
dựng và thực hiện tốt chế độ bảo quản đối với từng thứ nguyên vật liệu, tránh hư hỏng,
mất mát, hao hụt
Trong khâu sử dụng nguyên vật liệu cần phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh
tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu. Trên cơ sở đó so sánh với định mức, dự
toán chi phí, đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu.
Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được định mức tối đa, tối thiểu
nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường không bị ngưng trệ do
thiếu nguyên vật liệu hoặc gây tình trạng ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
1.4. Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu
- Tổ chức đánh giá, phân loại nguyên vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu
quản lí thống nhất của nhà nước và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
- Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng
tồn kho và phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu của doanh nghiệp để ghi chép,
phân loại tổng hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động của nguyên vật liệu trong
quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm.
13
- Tham gia kiểm kê nguyên vật liệu, xử lí kết quả kiểm kê theo quyết định của cấp có
thẩm quyền nhằm đảm bảo sự chính xác trung thực của thông tin kế toán.
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, dự trữ và sử
dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh.
1.5. Đánh giá nguyên vật liệu
1.5.1. Nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là sử dụng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của
nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định:
(nếu có)
+
Chi phí thu
mua thực tế
-
CKTM
GGHM
HMTL
Giá mua là giá chưa có thuế GTGT đối với doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ; là giá đã bao gồm cả thuế GTGT đối với doanh nghiệp tính
thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
Chi phí thu mua thực tế như: chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, chi phí phân loại
bảo hiểm, công tác phí của cán bộ mua hàng, hao hụt tự nhiên trong định mức.
Các khoản giảm giá gồm: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng mua, hàng mua
trả lại do không đúng quy cách, phẩm chất.
- Đối với nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, sản xuất: giá nhập kho là giá thành thực
tế sản xuất vật liệu.
15
Giá thực tế vật liệu
Nhập kho tự chế biến
=
Giá thực tế VL
Xuất kho chế biến
+
Chi phí
chế biến
- Đối với nguyên liệu, vật liệu thuê ngoài gia công:
Giá thực tế VL
thuê ngoài gia
công chế biến
- Phương pháp thực tế đích danh: Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh
được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hóa mua vào, từng thứ sản phảm
sản xuất ra. Theo phương pháp này khi xuất nguyên vật liệu phải căn cứ vào số lượng
16
xuất kho thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính trị giá vốn thực tế của nguyên
vật liệu xuất kho.
Phương pháp này được áp dụng cho những doanh nghiệp có ít chủng loại nguyên
vật liệu, giá trị của từng loại nguyên vật liệu tương đối lớn, có thể nhận diện được từng lô
hàng.
+ Ưu điểm: Tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán; chi phí thực tế phù hợp với
doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo
ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị thực tế của nó.
+ Nhược điểm: Phương pháp này gây khó khăn cho các doanh nghiệp có nhiều
chủng loại nguyên vật liệu. Phải theo dõi chi tiết giá vật liệu nhập kho theo từng lần nhập
và giá vật liệu xuất sẽ không sát với giá của thị trường.
- Phương pháp giá bình quân: Theo phương pháp này giá trị của từng loại hàng tồn
kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng
loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Phương pháp bình quân có thể được
tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng , phụ thuộc vào tình hình của doanh
nghiệp.
Giá trị thực tế NVL
xuất kho
=
Số lượng NVL xuất
kho
x
Đơn giá bình quân gia
quyền
Trong đó đơn giá bình quân được tính theo các phương pháp sau:
+ Phương pháp 1: Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ
Số lượng NVL
xuất kho
X
Đơn giá thực tế của
từng lô hàng nhập trước
Khi nào xuất hết số lượng của lô hàng nhập trước thì nhân với đơn giá thực tế của
lô hàng nhập tiếp theo. Như vậy, theo phương pháp này giá thực tế của NVL tồn kho cuối
kỳ là giá thực tế của NVL nhập kho thuộc các lần mua sau cùng.
Phương pháp này thích hợp trong thời kỳ lạm phát, và áp dụng đối với những
doanh nghiệp ít danh điểm vật tư, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều.
+ Ưu điểm: Cho phép kế toán có thể tính giá nguyên vật liệu xuất kho kịp thời,
phương pháp này cung cấp một sự ước tính hợp lý về giá trị vật liệu cuối kỳ. Trong thời
kỳ lạm phát phương pháp này sẽ cho lợi nhuận cao do đó có lợi cho các công ty cổ phần
khi báo cáo kết quả hoạt động trước các cổ đông làm cho giá cổ phiếu của công ty tăng
lên.
+ Nhược điểm: Các chi phí phát sinh hiện hành không phù hợp với doanh thu phát
sinh hiện hành. Doanh thu hiện hành có được là do các chi phí nguyên vật liệu nói riêng và
hàng tồn kho nói chung vào kho từ trước. Như vậy chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
không phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của nguyên vật liệu.
1.5.2.2. Đánh giá theo giá hạch toán
Kế toán chi tiết nguyên liệu, vật liệu phải thực hiện theo từng kho, từng loại, từng
nhóm, thứ nguyên liệu, vật liệu. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng giá hoạch toán trong
kế toán chi tiết nhập xuất nguyên liệu, vật liệu, thì cuối kỳ kế toán phải tính hệ số chênh
19
lệch giữa giá thực tế và giá giá hạch toán nguyên liệu, vật liệu để tính gia thực tế nguyên
liệu, vật liệu xuất dùng trong kỳ theo công thức:
+
=
+ +
Sau đó tính trị giá xuất của vật liệu theo công thức:
Công tác hạch toán chi tiết phải đảm bảo theo dõi được tình hình nhập xuất tồn
kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị của từng danh điểm vật tư, phải tổng hợp được tình
hình luân chuyển và tồn của từng danh điểm theo từng kho, từng quầy, từng bãi.
Có 03 phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu:
- Phương pháp mở thẻ song song
- Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- Phương pháp sổ số dư
a. Phương pháp ghi thẻ song song
Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của
từng thứ vật liệu ở từng kho theo chỉ tiêu số lượng.
Hàng ngày khi nhận được chứng từ nhập, xuất vật liệu, thủ kho tiến hành kiểm tra
tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi ghi sổ số thực nhập, thực xuất vào thẻ kho trên cơ
sở các chứng từ đó.
Cuối tháng, thủ kho tính ra tổng số nhập, xuất và số tồn cuối kỳ của từng loại vật
liệu trên thẻ kho và đối chiếu số liệu với kế toán chi tiết vật tư.
Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ hoặc thẻ chi tiết vật liệu ghi chép sự biến động
nhập, xuất, tồn của từng loại vật liệu cả về hiện vật và giá trị. Hàng ngày hoặc định kỳ sau
khi nhận được các chứng từ nhập, xuất kho vật liệu do thủ kho nộp, kế toán kiểm tra ghi đơn
giá, tính thành tiền và phân loại chứng từ và vào sổ chi tiết vật liệu.
21
Cuối kỳ kế toán tiến hành cộng sổ và tính ra số tồn kho cho từng loại vật liệu,
đồng thời tiến hành đối chiếu số liệu trên sổ kế toán chi tiết vật liệu với thẻ kho tương
ứng. Căn cứ vào các sổ kế toán chi tiết vật liệu kế toán lấy số liệu để ghi vào Bảng tổng
hợp nhập xuất tồn vật liệu. ( Phụ lục 02: Mẫu thẻ kho, Phụ lục 03: Mẫu sổ chi tiết NVL)
- Ưu điểm: Phương pháp này đơn giản trong khâu ghi chép, dễ kiểm tra đối chiếu,
dễ phát hiện sai sót đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất và tồn kho của từng danh
điểm nguyên vật liệu kịp thời, chính xác.
- Nhược điểm: Ghi chép trùng lặp giữa thủ kho và kế toán ở chỉ tiêu số lượng, làm
tăng khối lượng công việc của kế toán, tốn nhiều công sức và thời gian.
- Điều kiện vận dụng: Thích hợp với các doanh nghiệp thực hiện công tác kế toán
đến tiến độ thực hiện các khâu kế toán khác.
23
- Điều kiện vận dụng: Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có
nhiều danh điểm vật tư nhưng số lượng chứng từ nhập xuất không nhiều, không có điều
kiện bố trí riêng từng nhân viên kế toán chi tiết vật liệu để theo dõi tình hình nhập xuất
hàng ngày.
1.6.2. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
a. Tài khoản sử dụng
Tài khoản 152 - Nguyên liệu, vật liệu
* Nguyên tắc kế toán
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm
của các loại nguyên liệu, vật liệu trong kho của doanh nghiệp. Nguyên liệu, vật liệu của
doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục
đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên liệu, vật liệu phản ánh vào tài
khoản này được phân loại như sau:
- Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia
vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm. Vì
vậy khái niệm nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể.
Trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, dịch vụ không đặt ra khái niệm vật
liệu chính, vật liệu phụ. Nguyên liệu, vật liệu chính cũng bao gồm cả nửa thành phẩm
mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất, chế tạo ra thành phẩm.
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không
cấu thành thực thể chính của sản phẩm nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay
24
đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài, tăng thêm chất lượng của sản phẩm hoặc tạo
điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường, hoặc phục vụ cho
nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, bảo quản đóng gói; phục vụ cho quá trình lao động.
- Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản
xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên
liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí.