Mục lục
Mục lục 1
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP 3
1.1.Khái niệm cơ bản về bán hàng đa cấp 3
1.1.1.Khái niệm 3
1.1.2.Các ưu điểm của bán hàng đa cấp so với hình thức phân phối truyền
thống 5
1.2. Nội dung của bán hàng đa cấp 8
1.2.1.Các đối tượng tham gia trong bán hàng đa cấp 8
1.2.2.Các hoạt động cơ bản 10
1.2.3.Nguyên tắc hoạt động của bán hàng đa cấp 12
1.3Mô hình của bán hàng đa cấp 13
1.3.1.Các mô hình bán hàng đa cấp cơ bản 13
1.3.2.Phân biệt tháp ‘ảo’ trong bán hàng đa cấp 17
1.4.Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam 21
1.4.1.Khách quan 21
1.4.2.Chủ quan 24
CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP
TẠI VIỆT NAM 27
2.1.Khái quát các doanh nghiệp bán hàng đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2007 -
2010 27
2.1.1.Khái quát giai đoạn đầu tiên 27
2.1.2.Giai đoạn 2007-2010 28
2.2.Thực trạng hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam 34
2.2.1.Về sản phẩm 34
2.2.2.Về doanh thu 37
Báo cáo nghiên cứu khoa học
2.2.3.Về mô hình hoạt động 38
2.2.4.Về nhân viên bán hàng 39
2.2.5.Chiến lược bán hàng 41
2006, 2008, 2009, 2010…………………………………………………………….45
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình kinh doanh truyền thống ………………………………………5
Sơ đồ 1.2: Mô hình kinh doanh đa cấp …………………………………….…….…6
Sơ đồ 1.3: Mô hình nhị phân trong kinh doanh đa cấp ……………………………14
Báo cáo nghiên cứu khoa học
1
Lời mở đầu
Bán hàng đa cấp hay kinh doanh đa cấp hoặc kinh doanh theo mạng ( tên
nguyên gốc tiếng anh là Multilevel Marketing - MLM - ) là một hình thức kinh
doanh đã xuất hiện và phát triển từ giữa thế kỷ XX, một nhánh đầy triển vọng của
lĩnh vực bán hàng trực tiếp ( Direct Selling ), đã có mặt và phát triển mạnh mẽ tại
nhiều quốc gia trên thế giới từ những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản… cho tới
các nước đang phát triển khác như Trung Quốc, Brazill. Trong đó, nhiều quốc gia
thuộc khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia đã ứng dụng và phát triển
thành công ngành kinh doanh này và có được thành tựu đáng kể góp phần vào quá
trình phát triển nền kinh tế quốc gia.
Không nằm ngoài xu thế hội nhập và phát triển của nước ta, từ những năm
cuối cùng của thế kỷ XX bán hàng đa cấp cũng đã bắt đầu xuất hiện và phát triển ở
nước ta. Khởi đầu là những sự hợp tác phân phối rồi sau đó là sự hiện diện trực tiếp
của các công ty nước ngoài và các doanh nghiệp thuần Việt kinh doanh trong lĩnh
vực này. Thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đã chứng kiến sự bùng nổ của bán hàng
đa cấp ở nước ta. Hàng loạt doanh nghiệp ra đời trong đó có sự xuất hiện của các
tập đoàn kinh doanh đa cấp hàng đầu thế giới, các công ty này không ngừng lớn
mạnh, nhiều công ty trong số đó có cả mạng lưới phân phối quy mô toàn quốc với
số lượng người tham gia rất lớn bao gồm đủ mọi thành phần, đủ lứa tuổi và doanh
số bán của chúng là những con số khổng lồ.
Trong bối cảnh đó, không ít các công ty đã lợi dụng sự mới mẻ, thiếu hiểu
biết của người dân và kẽ hở của pháp luật để tiến hành lừa đảo, kinh doanh đa cấp
bất chính. Những điều này tác động không nhỏ đến nền kinh tế, đến lao động và tác
1.1.1. Khái niệm
Bán hàng đa cấp hay được biết tới với các cái tên như kinh doanh theo mạng,
kinh doanh đa cấp… thực chất có nguồn gốc từ thuật ngữ Multi – Level -
Marketing ( MLM ) dùng để chỉ một hoạt động kinh doanh và tiếp thị sản phẩm
được phát triển từ giữa thế kỷ XX, là một nhánh đang rất phát triển của ngành bán
hàng trực tiếp( Direct Selling ). Cùng với sự phát triển của hoạt động bán hàng đa
cấp đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để có thể đưa ra định nghĩa chính xác về
hoạt động này, Có thể tham khảo tới một số cách tiếp cận như :
- Trên góc độ kinh doanh : Bán hàng đa cấp là phương thức kinh doanh
kết hợp giữa bán hàng trực tiếp (Direct Selling) và nhượng quyền thương mại
(Franchasing). Đại diện bán hàng đa cấp (hay còn gọi là nhà phân phối, hợp tác
viên, đại lý,…) nhận hoa hồng từ hiệu quả bán hàng của chính mình. Ngoài ra, khi
kêu gọi được những thành viên mới tham gia hệ thống của, họ còn nhận được hoa
hồng từ hiệu quả bán hàng của các thành viên mới (gọi là cấp dưới). Trong
Franchising, hoa hồng được trả cho cá nhân người kinh doanh Franchise và người
nhượng quyền Franchise. Còn trong hệ thống bán hàng đa cấp, tiền hoa hồng được
trả cho nhiều người thuộc các cấp khác nhau trong hệ thống.
- Theo góc độ marketing : Bán hàng đa cấp là một phương thức bán
hàng trong đó vấn đề tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện qua một cơ cấu
nhiều tầng là các mạng lưới phân phối bao gồm những nhà phân phối- người tham
gia bán hàng đa cấp có nhiệm vụ phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng và
xây dựng mạng lưới phân phối. Những người này hoạt động độc lập và mỗi nhà
Báo cáo nghiên cứu khoa học
4
phân phối có thu nhập được tính theo những tỉ lệ nhất định trên doanh số bán hàng
của chính nhà phân phối và của mạng lưới do nhà phân phối này xây dựng
- Theo luật pháp nước ta quy định :
Khoản 11 điều 3 Luật Canh Tranh 2005 của nước ta định nghĩa bán hàng đa
cấp như sau:
“Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện
trước khi đến tay người tiêu dùng
Sơ đồ 1.1: Mô hình kinh doanh truyền thống
Nguồn:
Theo tính toán của các nhà kinh tế, thì thông thường các khâu này chiếm từ
30-40% giá bán của một sản phẩm. Một khoản chi phí khác nữa mà người tiêu
dùng còn phải gánh chịu là chi phí dành cho tiếp thị, quảng cáo, tuyên truyền và
khuyến mãi. Nó chiếm khoảng 40% giá bán của một sản phẩm trên thị trường. Như
vậy, trong kinh doanh truyền thống, mức giá mà người tiêu dùng phải trả trên thực
tế chỉ có khoảng 20% là giá thành sản phẩm, còn lại là chi phí quảng cáo, tiếp thị
và các khâu trung gian.
Báo cáo nghiên cứu khoa học
6
Trong khi đó, mô hình bán hàng đa cấp bớt cồng kềnh hơn rất nhiều
Sơ đồ 1.2: Mô hình kinh doanh đa cấp
Nguồn:
Có thể khái quát các những điểm khác biệt giữa hai hình thức kinh doanh
này qua các tiêu chí sau:
Bảng 1: Sự khác nhau giữa kinh doanh đa cấp và kinh doanh truyền thống
Tiêu chí. KD truyền thống KD theo mạng
Vốn Rất lớn Rất ít
Ngành nghề Cần có bằng cấp hoặc nghiệp vụ Không đòi hỏi bằng cấp
Mặt hàng Đa dạng và dễ bão hòa.
Độc đáo, chất lượng tốt ,
độc quyền, dễ sử dụng
Lợi nhuận Rất thấp Rất cao
Thời gian Gò bó. Tự do
Cạnh tranh trong
công việc
Khắc nghiệt Không có, rất ít
Tình cảm Mất mát Giàu có bạn bè
vươn tới thành công.
- Tăng cường ý thức bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn trị bệnh,
giảm tải cho bệnh viện và các cơ sở y tế.
- Nâng cao thu nhập người dân
Chính vì những ưu điểm cơ bản trên nhiều chuyên gia và quốc gia trên thế
giới coi bán hàng đa cấp là ngành kinh doanh triển vọng nhất thế kỷ XXI.
1.2. Nội dung của bán hàng đa cấp
1.2.1. Các đối tượng tham gia trong bán hàng đa cấp
Theo định nghĩa bán hàng đa cấp là hoạt động tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm
thông qua các nhà phân phối, khi một cá nhân đăng ký tham gia với tư cách nhà
phân phối họ sẽ nhận được hoa hồng không chỉ từ doanh thu của họ mà còn từ các
cá nhân họ tuyển dụng được cùng tham gia hoạt động bán hàng đa cấp.(Theo cách
gọi thông thường cá nhân tuyển dụng gọi là cấp trên - Upline - và người được
tuyển gọi là cấp dưới -Downline) thì hoạt động bán hàng đa cấp bao gồm 4 nhóm
đối tượng chính:
Thứ nhất là các doanh nghiệp (thường gọi là công ty mẹ - Mother company)
đăng ký về mặt pháp luật để kinh doanh dưới hình thức bán hàng đa cấp. Doanh
nghiệp này chịu trách nhiệm về mặt luật pháp và có vai trò như:
o Cung cấp sản phẩm dịch vụ cho các nhà phân phối trong hệ thống đa
cấp để đưa sản phẩm dịch vụ đó tới tay người tiêu dùng.
o Tự xác định mô hình kinh doanh ða cấp để tiến hành kinh doanh. Mô
hình này có tính quyết định tới sự hấp dẫn và mức chi trả hoa hồng cho các nhà
phân phối. Nó cũng là cơ sở quan trọng nhất của hình thức bán hàng đa cấp.
Báo cáo nghiên cứu khoa học
9
o Chịu trách nhiệm đào tạo và quản lý các nhà phân phối để họ hoạt
động tốt và hiệu quả đúng pháp luật.
Thứ hai là sản phẩm dịch vụ, đối tượng trong bán hàng đa cấp, sản phẩm
đánh giá sự tồn tại lâu dài của một công ty kinh doanh theo mạng vì vậy sản phẩm
trong kinh doanh đa cấp phải có chất lượng tốt (do sản phẩm được lan truyền từ
trực tiếp tới lấy hàng tại kho của doanh nghiệp kinh doanh đa cấp mang đi tiếp thị,
bán hàng cho khách hàng (thường là người thân quen trước tiên ) qua đó thu lại
tiền hoa hồng hoặc lợi ích kinh tế. Hoạt động này tiến hành dựa trên nguyên tắc
chia sẻ thông tin với nhau. Đây là tiền hoa hồng mà nhà phân phối nhận được trong
điều kiện là sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích, chấp nhận mua để sử dụng và
giá bán của sản phẩm do công ty quy định (thường không chênh lệch nhiều so với
các sản phẩm cùng loại trên thị trường). Tiền hoa hồng này có nguồn gốc từ việc
thông qua việc tiêu thụ trực tiếp sản phẩm qua một trung gian duy nhất chứ không
qua nhiều trung gian như trong kinh doanh truyền thống qua đó doanh nghiệp tiết
kiệm được nhiều loại chi phí như quảng cáo, kho bãi, vận chuyển… (theo điều tra
có thể lên tới 70% giá bán sản phẩm). Số tiền thu được từ việc tiết kiệm chi phí này
một phần để trả hoa hồng cho nhà phân phối và phần còn lại được đầu tư lại vào
quá trình nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
Đồng thời với việc bán hàng trực tiếp, các nhà phân phối còn tập trung xây
dựng cho mình mạng lưới phân phối riêng có thể hiểu qua hoạt động nhượng quyền
thương mại (Franchasing). Mạng lưới phân phối này bao gồm những khách hàng
thường xuyên sử dụng sản phẩm, những người tham gia bán hàng đa cấp sau được
bảo trợ bởi nhà phân phối trước. Nhà phân phối trước sẽ nhận được phần trăm hoa
hồng nhất định từ doanh thu bán hàng của những nhà phân phốisau thuộc mạng
Báo cáo nghiên cứu khoa học
11
lưới của mình (tùy thuộc vào chính sách trả thưởng của doanh nghiệp bán hàng đa
cấp). Để có thể xây dựng được mạng lưới của mình, nhà phân phốicần phối hợp để
mời gọi, thu hút thành viên mới qua các buổi giới thiệu sản phẩm của công ty, tiếp
thị sản phẩm tới người khách hàng khơi gợi sự hứng thú của khách hàng, đào tạo
và truyền thụ kinh nghiệm kỹ năng cho nhà phân phốikhác để họ tiếp tục quá trình
mở rộng mạng lưới theo nguyên tắc cấp số nhân này. Chính việc đội ngũ phân phối
tăng không ngừng theo cấp số nhân khiến cho thị trường của công ty tăng lên
nhanh chóng.
Theo quy tắc 70 do luật pháp Hoa Kỳ quy định : “70% doanh thu từ việc tiêu
Bán hàng đa cấp hoạt động dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc chia sẻ
(truyền khẩu) và nguyên tắc phát triển theo cấp số nhân (bội tăng)
Nguyên tắc chia sẻ hay còn gọi là nguyên tắc truyền khầu là nguyên tắc dựa
trên thói quen của người tiêu dùng khi họ biết được và sử dụng một sản phẩm tốt
có chất lượng thì họ có thói quen đem sản phẩm dịch vụ này chia sẻ với bạn bè và
người thân để cùng sử dụng sản phẩm này. Những sản phẩm được chia sẻ như thế
này thường có sức hấp dẫn và lòng tin tưởng để sử dụng ở những người được chia
sẻ hơn là quảng cáo hay hình thức giới thiệu sản phẩm khác. Trên cơ sở này, bán
hàng đa cấp đã phát triển nó bằng việc khi một người chia sẻ thành công với người
khác thì họ nhận được thêm tiền hoa hồng, qua đó kích thích sự chia sẻ này. Mặt
khác, thông qua việc truyền khẩu việc quảng bá sản phẩm trở nên dễ dàng và hiệu
quả hơn rất nhiều với quảng cáo.
Nguyên tắc bội tăng hay phát triển theo cấp sô nhân có nguồn gốc từ một
chuyện cổ của Ấn Độ. Ngày xưa ở nước Ấn Độ có một ông vua rất thích chơi cờ.
Báo cáo nghiên cứu khoa học
13
Một hôm có một người nông dân phát minh ra một cách chơi cờ mới mà ngày nay
được gọi là cờ vua, ông ta liền mang đến dâng cho Quốc Vương. Quốc Vương rất
hài lòng và nói rằng: "Nhà ngươi muốn ta ban thưởng gì". Người nông dân đáp
rằng: "Thần không ước muốn gì cao xa, chỉ xin Quốc Vương đặt lên ô bàn cờ thứ
nhất 1 hạt gạo, ô thứ hai 2 hạt gạo, ô thứ ba 4 hạt và cứ thế, mỗi ô sau số hạt gạo
được đặt gấp đôi ô trước. Khi đặt đầy 64 ô cờ là hạ thần mãn nguyện vô cùng".
Vừa nghe xong Quốc Vương liền cười lên và gật đầu đồng ý. Thế nhưng rồi khi
đem ra thực thi thì Quốc Vương nọ đã phải vét kho đến hạt gạo cuối
cùng rồi mà không trả đủ cho người nông dân ấy. Qua câu chuyện cho thấy sức
mạnh của nguyên tắc bội tăng này. Trong bán hàng đa cấp nguyên tắc bội tăng có
mặt trong mô hình trả thưởng (nhà phân phối cấp trên hưởng hoa hồng cả từ doanh
số của nhà phân phối cấp dưới) và kết hợp với nguyên tắc truyền khầu để tạo nên
sức bật cho hoạt động bán hàng đa cấp. Khi một người chia sẻ cho 2 người khác và
2 người này mỗi người lại chia sẻ cho 2 người khác…nó hoàn toàn chính là nguyên
Báo cáo nghiên cứu khoa học
15
Phần chênh lệch hoa hồng giữa hai nhánh lại do công ty nắm giữ. Điều này yêu cầu
người sở hữu mạng lưới này muốn có hoa hồng cao phải cố gắng cân bằng hai
nhánh với nhau và có sự giúp đỡ lớn hơn với cấp dưới. Tuy nhiên, mô hình gây
tranh cãi ở nhược điểm là cho người vào trước luôn có lợi hơn người vào sau và
người vào sau không thể vượt qua người vào trước của mô hình này.Đồng thời mô
hình này cũng tạo ra sự ỷ lại lớn của cấp dưới với cấp trên và rất khó cân bằng sự
phát triển của hai nhánh.
1.2 Mô hình ma trận xuất hiện khi máy tính được sử dụng rộng rãi, nó quy
định số lượng người tối đa trong tuyến dưới trực tiếp của nhà phân phối đồng thời
nó cũng quy định số tầng tối đa mà mỗi nhà phân phối có thể được hưởng hoa
hồng. Như vậy sơ đồ ma trận quy định kích thước tối đa của một mạng lưới phân
phối của một nhà phân phối. Cụ thể một sơ đồ ma trận m x n quy định mỗi nhà
phân phối không được phép có quá m người thuộc tuyến dưới trực tiếp và được
hưởng hoa hồng tính trên số lượng tầng không vượt quá n. Ví dụ, sơ đồ 3x6 cho
phép bạn tuyển vào 3 người ở mức một và giới hạn mức 6 là mức chi trả hoa hồng
cuối cùng. Khi một nhà phân phối đã có m người ở tuyến dưới trực tiếp, anh ta vẫn
có thể giới thiệu người khác vào mạng lưới của mình nhưng những người này được
phân bổ vào những chỗ còn trống trong mạng lưới của ai đó trong tuyến dưới trực
tiếp của nhà phân phối trên.Ưu điểm của mô hình là đơn giản, duy trì sự năng động
giúp đỡ của tuyến trên với tuyến dưới.Tuy nhiên lại hạn chế quy mô mạng lưới,
phân phối ‘bình quân hóa’ . Hơn nữa, tốc độ phát triển đội nhóm của người tầng
dưới sẽ luôn chậm hơn những người tuyến trên.Chính vì những lý do trên mà mô
hình ma trận (và nhị phân) bị quy kết vào "hình tháp ảo" và bị cấm (hoặc kiểm tra
hoạt động rất gắt gao)tại các nước trên thế giới.
1.3 Mô hình đều tầng: Cho phép nhà phân phối có số lượng tuyến dưới
trực tiếp là không giới hạn, nhà phân phối được hưởng hoa hồng hay phần trăm hoa
Báo cáo nghiên cứu khoa học
16
sẽ "bứt ra" khỏi nhóm của bạn. Bạn sẽ không còn nhận được các khoản hoa hồng
trực tiếp từ các sản phẩm của họ hay là mạng lưới của họ bán nữa. Tuy nhiên bạn
vẫn sẽ tiếp tục nhận được một khoản lợi tức hoa hồng nhỏ từ khối lượng của nhóm
các nhà phân phối đã tách ra và từ mạng lưới của họ. Nên nhớ rằng, phần trăm hoa
hồng nhỏ nhưng từ một mạng lưới lớn. Mặc dù có nhiều tính ưu việt trong cách
thức chi trả hoa hồng, mô hình bậc thang li khai vẫn có nhược điểm nếu doanh
nghiệp tổ chức không thể cân bằng tầng trên và tầng dưới. Cụ thể là, nếu chính
sách không phù hợp, khi vừa vào sẽ có thu nhập rất nhỏ (nhỏ đến mức nhà phân
phối không thể đủ kinh phí để duy trì công việc kinh doanh) hoặc nhà phân phối
lâu năm sẽ không đạt được thu nhập đúng với công sức của họ. Vì thế, dù biết mô
hình bậc thang li khai vượt trội so với các mô hình khác nhưng nhiều doanh nghiệp
không đủ sức để cân bằng, khi mà những nhà phân phối mới vẫn đủ thu nhập để
duy trì hoạt động kinh doanh đến khi họ thật sự đạt được sự tự do về thời gian và
tài chính.
1.3.2. Phân biệt tháp ‘ảo’ trong bán hàng đa cấp
Hình tháp ảo (hay kim tự tháp, trò tháp ảo) là biến tướng của bán hàng đa
cấp và hai mô hình kinh doanh này là hoàn toàn phân biệt bởi những “nhà” bán
hàng đa cấp nhưng nó lại nhập nhằng với khá nhiều người rằng không có sự phân
biệt nào giữa hai hình thức và công ty bán hàng đa cấp bất chính là hình tháp ảo
đương nhiên được gọi là công ty bán hàng đa cấp. Nhưng từ khi bán hàng đa cấp
được pháp luật điều chỉnh thì hình tháp ảo chính thức đi vào nền kinh tế như một
mô hình kinh doanh phi pháp.
Việc những nhà phân phối hình tháp ảo phải làm để có thu nhập là lôi kéo
người vào mạng lưới của mình, thù lao và vị trí trong hệ thống phụ thuộc vào mạng
Báo cáo nghiên cứu khoa học
18
lưới đã phát triển thế nào về số lượng. Cụ thể, thu nhập của họ do đâu mà có? Mua
sản phẩm của công ty với số lượng tối thiểu do công ty quy định, sau đó ký hợp
đồng là điều kiện cần và đủ để người muốn tham gia gia nhập mạng lưới phân phối,
chính số tiền người tham gia bỏ ra mua sản phẩm sẽ được dùng để chi trả cho các
Bảng 2: Bảng so sánh kinh doanh đa cấp chân chính và tháp ảo
Kinh doanh đa cấp Hình tháp ảo
1. Cách
thức
Hợp pháp Bất hợp pháp
Tự nguyện
Có tính chất lôi kéo, ép buộc
tham gia
Người tham gia bán sản phẩm cho những
người ngoài mạng lưới (theo giá lẻ) và
tuyển mộ người khác vào mạng lưới (bán
sản phẩm theo giá sỉ)
Không có bán hàng, chỉ mời
người vào mạng lưới
Không quan trọng là bạn tham gia khi nào,
ở vị trí nào.
Phụ thuộc vào cách thức bạn làm việc
Tốt nhất là tham gia từ lúc ban
đầu, càng vào sau cơ hội của
bạn càng thấp
2. Phí
tham gia
Không lớn, là chi phí làm thủ tục và cung
cấp tài liệu.
Chi phí này không được tính vào tiền hoa
hồng
Chính là tiền mua sản phẩm,
dùng để phân chia hoa hồng
3.Đối
tượng
Bắt buộc đóng góp một khoản
tiền lớn để được tham gia hoặc
bắt người tham gia mua một
lượng sản phẩm nhất định
6. Mua
sản
phẩm
Vì có nhu cầu
Vì được tham gia mạng lưới
để có lợi ích kinh tế hay lợi
ích khác,
không có nhu cầu sử dụng
7. Sản
phẩm
Chất lượng tốt Chất lượng bình thường hoặc
kém chất lượng, được nâng giá
Báo cáo nghiên cứu khoa học
21
cao gấp nhiều lần để chi trả
hoa hồng
Được tiêu thụ cả bên trong và ngoài mạng
lưới
Chỉ được tiêu thụ bên trong
hình tháp
Được hướng dẫn về sản phẩm trước khi
chia sẻ
Không được hướng dẫn hoặc
hướng dẫn qua loa
Nhà phân phối am hiểu và đam mê sản
phẩm
kinh doanh theo mạng, hạn chế sự xuất hiện của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp
Tốc độ phát triển và thay đổi công nghệ. Có một thực tế là công nghệ nước
ta khá lạc hậu và trình độ sản xuất trong nước còn kém. Trong khi đó, các công ty
bán hàng đa cấp phần lớn là công ty nước ngoài góp vốn hay là đại diện cho họ,
phân phối các sản phẩm có nhiều sự khác biệt và chất lượng chủ yếu được đảm bảo
nên hoạt động bán hàng đa cấp khá năng động. Nhưng nước ta đang trong quá trình
hội nhập nhanh, tiếp cận với các công nghệ hiện đại đã dần rút ngắn khoảng cách
sản phẩm cạnh tranh lại. Vì vậy, tốc độ thay đổi công nghệ đang dần nhanh hơn,
chu kỳ sản phẩm đã ngắn hơn khiến các doanh nghiệp bán hàng đa cấp cần thay đổi
và không chủ quan. Bên cạnh đó, phát triển công nghệ ở nước ta ở lĩnh vực viễn
thông- internet đang diễn ra với tốc độ cao hàng đầu thế giới. tạo điều kiện cho việc
tiếp nhận các thông tin về bán hàng đa cấp nhanh hơn, có cái nhìn tổng thể hơn và
cung cấp cho hoạt động bán hàng đa cấp một lợi thế là xu hướng bán hàng đa cấp
kết hợp với mạng xã hội và internet.
Các điều kiện văn hóa - xã hôị
- Quy mô dân số nước ta khá lớn với 89 triệu dân, mật độ dân số tập
trung tại các thành thị là rất lớn, tốc độ gia tăng dân số cao. Đây là cơ sở khiến các
doanh nghiệp và các doanh nghiệp bán hàng đa cấp xác định nước ta là một thị
trường không thể bỏ qua với quy mô lớn, nhu cầu về các sản phẩm tiêu dùng, y tế,
mỹ phẫm lớn cái mà vốn là thế mạnh của hình thức bán hàng đa cấp
Báo cáo nghiên cứu khoa học