luận văn báo cáo: Hạn chế rủi ro trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi Nhánh Nam Hà Nội - Pdf 27

Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian ngồi học trên ghế nhà trường và quá trình thực tập tại
NH TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội, Em đã
tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho bản thân. Nó sẽ là
hành trang quý báu cho Em bước vào đời trong thời gian tới. Đó là những
kinh nghiệm được kết hợp giữa những kiến thức đã học và thực tiễn đúc kết
trong quá trình thực tập.
Để hoàn thành chuyên đề thực tập này là nhờ sừ chỉ bảo nhiệt tình của
các thầy cô giáo viện Ngân hàng – Tài chính, sự hướng dẫn tận tình của cô
giáo Hoàng Thị Lan Hương, cùng sự giúp đỡ của các anh chị trong Ngân
hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Nam Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô trong Khoa Ngân hàng – Tài chính trường ĐH Kinh Tế
Quốc Dân
Cô giáo hướng dẫn TS Hoàng Thị Lan Hương
Ban lãnh đạo Chi nhánh Ngân hàng BIDV Nam Hà Nội
+ Giám đốc, phó giám đốc Chi nhánh Ngân hàng BIDV Nam Hà Nội
+ Trưởng phòng, phó phòng Quản lý rủi ro Chi nhánh Ngân hàng BIDV
Nam Hà Nội
+ Chị Lê Thị Thu (Cán bộ hướng dẫn trực tiếp )
Cùng các anh chị cán bộ phòng Quản lý rủi ro và các phòng ban khác
của BIDV Nam Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
Em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp.
Sau cùng Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc quý thầy cô trường
Đại học Kinh Tế Quốc Dân cùng các anh chị trong Chi nhánh Ngân hàng
BIDV Nam Hà Nội dồi dào sức khỏe và thành công trong công tác.
Sinh viên
Bùi Hồng Vân
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02

Cán bộ công nhân viên
Cán bộ tín dụng
Giao dịch
Đầu tư và Phát triển
Không kì hạn
Có kì hạn
Tổ chức kinh tế
Nợ quá hạn
Dự phòng
Dự phòng rủi ro
Rủi ro tín dụng
Ngân hàng nhà nước
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nợ quá hạn đối với DNVVN phân tích theo nguyên nhân
Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nợ quá hạn đối với DNVVN theo thời gian quá hạn Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ quá hạn (2011-2013) Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.4: Nợ quá hạn cho vay DNVVN phân tích theo cơ cấu ngành kinh tế
Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động cho vay DNVVN tại chi nhánh
BIDV Nam Hà Nội Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ dự phòng RRTD trong hoạt động cho vay DNVVN tại chi
nhánh BIDV Nam Hà Nội Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của chi nhánh ngân hàng BIDV Nam Hà Nội.
Error: Reference source not found
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02

SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
1
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
gian thực tập thực tế tại chi nhánh ngân hàng BIDV Nam Hà Nội, Em nhận
thấy rằng việc hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và
nhỏ của chi nhánh ngân hàng BIDV Nam Hà Nội cũng như các NHTM là hết
sức cần thiết.
Vì vậy, em đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Hạn chế rủi ro trong cho
vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam - Chi Nhánh Nam Hà Nội” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay DNVVN,
về tín dụng ngân hàng đối với hoạt động cho vay DNVVN và rủi ro trong
hoạt động cho vay DNVVN.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay DNVVN tại ngân hàng BIDV Nam Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong
hoạt động cho vay DNVVN tại ngân hàng BIDV Nam Hà Nội trong thời gian
tới.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Chủ yếu tập trung nghiên cứu các giải
pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay DNVVN tại ngân
hàng BIDV Nam Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Được thực hiện tại Chi nhánh BIDV Nam Hà Nội
từ năm 2011 đến năm 2013.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh, thống
kê (so sánh sự tăng, giảm của các chỉ tiêu qua các năm trong bảng số
liệu,bảng biểu,… cụ thể là ở chương 2), quản lý trên lĩnh vực Tài chính -
Ngân hàng để thống kê, phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn, so sánh, cũng

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG
CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1Tổng quan doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.1Khái niệm.
Trong nền kinh tế thị trường, Doanh nghiệp được hiểu là những đơn vị
kinh tế được thành lập bởi một cá nhân, hay một nhóm cá nhân hoặc bởi các
tổ chức được nhà nước cho phép hoạt động nhằm thực hiện hoạt động kinh
doanh trong những lĩnh vực nhất định nhằm mục đích lợi nhuận hay công ích.
Các loại hình doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú do tùy theo từng
cách tiếp cận khác nhau để chia doanh nghiệp thành các loại khác nhau. Nếu
dựa theo quy mô kinh doanh người ta có thể chia làm hai loại hình doanh
nghiệp: doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ. DNVVN là những cơ
sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân.Tuy nhiên nhìn chung các tiêu
chuẩn xác định quy mô doanh nghiệp ở các quốc gia là: số lượng lao động,
tổng nguồn vốn và doanh thu trung bình hàng năm.
Ở Việt Nam những năm gần đây, vai trò của DNVVN càng ngày càng
được khẳng định, thể hiện được vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế.
Ngày 30/6/2009, Chính phủ ban hành nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ
giúp phát triển DNVVN thay thế cho Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành
ngày 23/11/2001 quy định cụ thể lại về các tiêu trí xác định DNVVN.
“ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp : siêu nhỏ, nhỏ,
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài
sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chỉ ưu tiên) ”.
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
4
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương

người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng
từ trên 50
người đến 100

thúc đẩy phát triển ý tưởng và kỹ năng mới, thúc đẩy sự đầu tư giữa các nền
kinh tế trong và ngoài khu vực.
-Thứ hai. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, các DNVVN thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp
đảo trong tổng số doanh nghiệp.Ở Việt Nam, DNVVN chiếm trên 96% tổng
số các doanh nghiệp. Vì thế, đóng góp của nó vào tổng sản lượng trong nền
kinh tế là vô cùng lớn và giữ vai trò quan trọng. Ngày nay, các hoạt động của
DNVVN ngày càng phong phú, đa dạng ở hầu hết các lĩnh vực. Nhận thấy vị
thế to lớn của các DNVVN nên Nhà nước càng ngày càng có đường lối kinh
tế đúng đắn để hỗ trợ các DNVVN phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất
lượng.
-Thứ ba: Tạo công ăn việc làm.
Tác động kinh tế xã hội lớn nhất của các DNVVN là giải quyết được
một khối lượng lớn công việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao
động và góp phần xóa đói giảm nghèo.Trong báo cáo của Ngân hàng Thế
giới, mức độ sử dụng lao động của DNVVN tăng gấp 4 – 10 lần, thu hút
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
6
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
nhiều lao động. Điều này có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam, một nước có tốc
độ tăng dân số rất cao, nguồn lao động liên tục tăng cộng với sức ép từ hiện
tượng di cư vào đô thị. Trước tình hình đó, vấn đề giải quyết việc làm là hết
sức cấp bách và cần thiết. DNVVN với đòi hỏi không quá cao về mặt trình độ
đã tạo ra công ăn việc làm lớn cho xã hội, giảm lao động nhàn rỗi trong dân
cư đồng thời góp phần tăng thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động,
giải quyết một vấn đề quan trọng của xã hội.
-Thứ tư: DNVVN có vai trò lớn đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác thế mạnh từmg vùng.
Nếu các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở tại những trung tâm kinh tế

Các DNVVN hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương
mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông - lâm - ngư nghiệp và hoạt động
dưới mọi hình thức như: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể
-Thứ ba: DNVVN có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường.
Các DNVVN có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng
mặt hàng nhanh vì quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít, khả năng thu hồi vốn nhanh.
Mặt khác, DNVVN tồn tại ở mọi thành phần kinh tế, sản phẩm của các
DNVVN đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không
thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này
thì nó sẽ dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn trong việc chuyển
hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.
-Thứ tư: Năng lực cạnh tranh còn hạn chế
Do quy mô vốn nhỏ nên các DNVVN không có điều kiện đầu tư quá
nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến,
hiện đại. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm
không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém. DNVVN cũng gặp nhiều khó
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
8
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do
thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả. Điều đó
làm cho các mặt hàng của DNVVN khó tiêu thụ trên thị trường.
-Thứ năm: Năng lực quản lý còn thấp.
Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh
đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động còn hạn chế. Số lượng
DNVVN có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và
năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp và giám

ngân hàng thương mại của trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Rủi ro gây ra những mất mát, thiệt hại nên đó là điều không ai mong
đợi, nó là những bất trắc vì thế nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
con người, tuy nhiên rủi ro lại có thể đo lường được và đây chính là cánh cửa
hé mở cho các nhà kinh doanh đi vào thế giới rủi ro để tìm cơ hội cho mình.
Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì cạnh tranh là điều không thể tránh
khỏi, do vậy rủi ro có thể xảy ra bất cứ khi nào, cho nên nếu muốn thắng lợi
trong cạnh tranh, muốn tồn tại và phát triển, các nhà kinh doanh phải dự đoán
xem những rủi ro gì có thể xảy ra trong tương lai, để có được những giải pháp
ngăn ngừa, chấp nhận rủi ro ở mức hợp lý, cho phép chứ không phải run sợ,
né tránh nó.
1.2.2 Các hình thức rủi ro cho vay DNVVN
Theo khái niệm về rủi ro tín dụng thì rủi ro tín dụng được chia thành các hình
thức sau
1.2.2.1 Không thu được lãi đúng hạn
Lúc này ngân hàng sẽ chuyển số lãi đó vào khỏa mục lãi treo phát sinh.
Hình thức rui ro này được xếp vào mức rủi ro thấp.
1.2.2.2 Không thu được vốn đúng hạn
Khi không thu được vốn đúng hạn thì tình hình sử dụng vốn bị ảnh
hưởng và ảnh hưởng tới tính thanh khoản của tài sản. Hình thức này gây ra rủi
ro lớn trong nhiệm vụ đảm bảo thanh khoản và tình hình sinh lời của tài sản.
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
10
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
1.2.2.3Không thu đủ lãi
Khi ngân hàng không thu đủ lãi thì tình hình đã trở nên nghiêm trọng.
Tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã gặp khó khăn. Lúc này ngân
hàng cần có những biện pháp hỗ trợ khách hàng như giảm lãi, tư vấn cho
khách hàng hoặc có thể cung cấp thêm những khoản tín dụng cần thiết cho

Trước khi cho vay, ngân hàng tiến hành phân tích, thẩm định khách
hàng và phương án vay vốn để quyết định có cho vay hay không. Ngân hàng
tiến hành thu thập các thông tin về khách hàng, năng lực tài chính của khách
hàng, đánh giá và phân tích năng lực pháp lý, uy tín của khách hàng, năng lực
tài chính của khách hàng, phân tích phương án vay vốn và dự đoán dòng thu
nhập trong tương lai của khách hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách
hàng. Ngoài ra ngân hàng cũng phải phân tích và dự đoán ảnh hưởng của môi
trường kinh doanh đến phương án vay vốn cũng như khả năng trả nợ của
khách hàng. Nếu làm tốt công tác thẩm định sẽ tạo cơ sở để thực hiện tốt các
bước tiếp theo. Thẩm định được coi là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu rủi ro
cho ngân hàng. Đối với những khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, và
việc đảm bảo cho khoản vay thấp thì ngân hàng sẽ từ chối cho vay.
1.2.3.2 Chỉ tiêu trong khi ngân hàng giải ngân
+ Quy mô phù hợp
Sau khi ngân hàng xem xét quy mô kinh doanh của doanh nghiệp phù
hợp, có tính khả quan thì ngân hàng tiếp tục giải ngân cho doanh nghiệp.
Ngân hàng đa phần không giải ngân cùng một lúc mà sẽ chia theo khoảng
thời gian một cách hợp lý để doanh nghiệp sử dụng vốn hợp lý, đúng mục
đích sử dụng, nhờ đó ngân hàng cũng giảm thiểu được rủi ro mất vốn.
+ Lãi suất, kì hạn, tài sản đảm bảo
Dựa vào thời gian doanh nghiệp vay vốn mà ngân hàng sẽ đưa ra lãi
suất hợp lý. Doanh nghiệp vay vốn phải có tài sản đảm bảo với ngân hàng, tài
sản đảm bảo phải có giá trị tương đương với số vốn vay, như vậy khi doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ không bị thất thoát nhiều.
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
12
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
Doanh nghiệp phải trả lãi theo đúng thời gian, lãi suất của ngân hàng.
+Mức độ tập trung tín dụng:

ngân hàng chưa thể thu hồi mặc dù khoản nợ đã đến hạn thanh toán.
Một cách tiếp cận khác, nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không
trả được khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng; hoặc ngân hàng phát
hiện khách hàng sử dụng sai mục đích, hoặc tài sản đảm bảo bị giảm giá trị,
hoặc khách hàng phá sản,… Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá
hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại theo thời gian và được
phân loại theo thời gian quá hạn như sau:
Nợ trong hạn ( Nợ nhóm 1) – Nợ đủ tiêu chuẩn
Nợ quá hạn dưới 90 ngày ( Nợ nhóm 2 ) – Nợ cần chú ý
Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày ( Nợ nhóm 3) – Nợ dưới tiêu chuẩn
Nợ quá hạn từ 180 đến 360 ngày ( Nợ nhóm 4) – Nợ nghi ngờ
Nợ quá hạn trên 360 ngày ( Nợ nhóm 5) – Nợ có khả năng mất vốn
Dựa vào cách phân loại trên thì nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần
hoặc toàn bộ nợ gốc và lãi hoặc lãi đã quá hạn. Tức là nợ quá hạn là các
khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5 - các khoản nợ đã quá hạn từ 10 ngày trở nên.
Nợ quá hạn là thước đo quan trọng nhất đánh giá sự lành mạnh thể chế.
Nó tác động tới tất cả các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng.Nếu một
khoản nợ là nợ quá hạn thông thường thì khả năng thu hồi lại khoản vay cao.
Còn đây là khoản nợ khó đòi thì hy vọng thu lại tiền vay trở nên mong manh,
ngân hàng cần có biện pháp hữu hiệu để giải quyết.Khi một khoản vay không
trả đúng thời hạn, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ
quá hạn với lãi suất cao hơn bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ
quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả năng mất vốn
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng,
bởi nó giúp cho ngân hàng có thể lường trước được những hậu quả có thể xảy
ra và có biện pháp phòng ngừa sớm, tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ ảnh hưởng đến
khả năng thanh khoản và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
+Tỷ lệ nợ quá hạn (%)
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
14

SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
15
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
khả năng ngân hàng không thu được cả vốn lẫn lãi.
- Tài sản bảo đảm (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát
mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
-Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có
khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi.
-Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày.
Cụ thể các nhóm nợ được quy định tại điều 6 quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi quyết định
493/2005/QĐ-NHNN như sau:
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh lại kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b
khoản này.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3 Điều
này.
Nợ nhóm 4 ( Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3 Điều
này.
Nợ nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở một thời điểm nhất
định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
Tỷ lệ nợ xấu =( Tổng nợ xấu / Tổng dư nợ cho vay) x 100%
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng nợ
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
17
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
xấu. Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như mức độ
rủi ro tín dụng tại ngân hàng.
Vì nợ xấu là khoản nợ rất khó để thu hồi nên chỉ tiêu này cho thấy thực
chất tình hình rủ̉i ro tín dụng hay mức độ sâu của rủi ro tại ngân hàng .Tỷ lệ
nợ xấu càng cao thể hiện rủi ro tín dụng càng cao, chất lượng tín dụng của
ngân hàng càng kém, và ngược lại.Tỷ lệ an toàn cho phép theo thông lệ quốc
tế và Việt Nam là 5%. Mức dưới 3% có thể coi là ngưỡng khá tốt trong hoạt
động ngân hàng.
Ngoài ra để đánh giá trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêu đồng
nợ xấu có thể tính chỉ tiêu tổng nợ xấu trên tổng nợ quá hạn.
+ Khả năng bù đắp rủi ro:
Hệ số khả năng
bù đắp rủi ro
=
Dự phòng rủi ro được trích lập
x100%
Nợ quá hạn khó đòi
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro trong hoạt động cho vay, dùng để tính
toán cho các khoản vay của khách hàng có khả năng không thu hồi được. Hệ
số này phản ánh cứ 100 đồng nợ quá hạn khó đòi thì có bao nhiêu đồng được
bù đắp bởi DPRR. Để đảm bảo an toàn ngân hàng phải hạn chế đến mức thấp
nhất nợ quá hạn khó đòi.

sẽ gây tâm lý bất ổn cho người gửi tiền về khả năng chi trả của ngân hàng dẫn
tới họ rút tiền hàng loạt thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó
khăn nó có thể bị phá sản
Hậu quả phá sản của một ngân hàng không chỉ mình bản thân ngân
hàng gánh chịu mà nó còn tác động đến những ngân hàng có quan hệ ngân
hàng này. Điều này gây ra sự phản ứng dây chuyền, gây sự phá sản hàng loạt
của các ngân hàng ảnh hưởng tới nền kinh tế. Vì vậy, mỗi ngân hàng phải
luôn quan tâm đến rủi ro trong cho vay DNVVN cũng như rủi ro tín dụng để
đảm bảo cho quá trinh hoạt động kinh doanh của ngân hàng thực sự là đòn
bẩy cho nền kinh tế phát triển.
1.2.5 Biện pháp phòng ngừa rủi ro trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thương mại
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
19
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Thị Lan Hương
Nâng cao khả năng tự đề kháng rủi ro là một cách phòng ngừa và hạn
chế rủi ro một cách tốt nhất cho ngân hàng. Nhìn cách khác, khả năng tự đề
kháng rủi ro thể hiện năng lực “ chịu đựng được rủi ro” ở mức độ nhất định
của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Vì kinh doanh hàm chứa rủi ro
nên chủ thể kinh doanh luôn phải chấp nhận bắt buộc một số rủi ro nào đó.
Rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao, nên khi khống chế được các rủi ro lớn
( thông qua các hoạt động quản lý rủi ro nên thiệt hại gây ra được giảm thiểu)
chủ thể kinh doanh càng có nhiều cơ hội để nâng cao lợi nhuận. Giữ vững và
nâng cao khả năng tự đề kháng rủi ro của mình là cách thức để có thể tiếp
nhận và vô hiệu hóa các rủi ro lớn, từ đó vô hiệu hóa được lợi nhuận trong
kinh doanh. Khi khả năng tự đề kháng rủi ro của chủ thể kinh doanh không đủ
sức ngăn cản những rủi ro lớn, thì tác hại rủi ro sẽ diễn ra.Trong trường hợp
này, nếu biết kết hợp nhận dạng rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và đề ra biện
pháp giải quyết rủi ro, sẽ giúp hoạt động phòng chống rủi ro đạt hiệu quả.

chịu đựng rủi ro. Trong trường hợp khoản vay có rủi ro cao, ngân hàng khó có
thể chịu nổi nếu rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ bán khoản vay cho ngân hàng lớn
hơn hoặc một trung gian tài chính khác để hưởng hoa hồng.
+ Tìm kiếm thêm thông tin về các khoản cho vay DNVVN. Các quyết định
cho vay đưa ra trên cơ sở thiếu thông tin thường dẫn đến hậu quả là không
chắc chắn. Nếu có nhiều thông tin hơn về DNVVN, ngân hàng sẽ dự đoán tốt
hơn và có thể giảm thiểu rủi ro.
Các biện pháp khắc phục khi rủi ro xảy ra:
+ Đảo nợ: Là những khoản vay có thời hạn đã đến hạn nhưng DNVVN hiện
tại không có khả năng tài chính để trả nợ ngân hàng, hai bên sẽ đàm phán để
chuyển các khoản nợ đến hạn sang khoản nợ kì hạn khác với những điều kiện
đã thỏa thuận.
+ Giảm nợ: Khi các DNVVN gặp phải rủi ro bất khả kháng như thiên tai, lũ
lụt không có khả năng tài chính để trả các khoản vay trong hạn hoặc đến hạn
thì ngân hàng có thể giảm một phần trong khoản vay.
+ Xóa nợ: Đây là khoản vay đang trong hạn hoặc hết hạn mà DNVVN vẫn
SV: Bùi Hồng Vân Lớp: K13A.02
21

Trích đoạn Vài nét chung về chi nhánh ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nộ Tổng quan về ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Nam Hà Nộ Đa dạng hóa phương thức cho vay Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cấp, ngành có liên quan Kiến nghị với ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status