Thực trạng và giải pháp nhằm mở rộng phát triển và hạn chế rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Nam - Pdf 44

1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hóa, mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt
động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng phát triển
mạnh mẽ và chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá -
hiện đại hoá của nước ta. Với tư cách là chất xúc tác cho sự phát triển của thương
mại quốc tế, công tác thanh toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và phát
triển. Song, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua
và người bán càng trở nên đa dạng và phức tạp. Điều này đồng nghĩa với nguy cơ
rủi ro ngày càng cao trong buôn bán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế nói
riêng . Bằng chứng là nếu nhìn lại công tác thanh toán quốc tế của các ngân hàng
thương mại Việt Nam trong thời gian qua, điều làm chúng ta không khỏi lo ngại là
những con số thiệt hại đáng kể trong nghiệp vụ thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu
theo phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.Sau thời gian thực tập tại bộ phận
Thanh toán quốc tế (TTQT) thuộc phòng quan hệ khách hàng - ngân hàng Đầu tư
và phát triển tỉnh Hà Nam (BIDV Hà Nam - NHĐT&PTVN), em nhận thấy tín
dụng chứng từ là phương thức thanh toán được áp dụng phổ biến nhất trong
thanh toán quốc tế tại chi nhánh tuy nhiên với quy mô còn quá bé và hạn chế về
nhiều mặt,đồng nghĩa với nó là tiềm ẩn nhiều rủi ro khó tránh được.Hà Nam mặc
dù có lợi thế là cửa ngõ phía nam của thủ đô Hà Nội tuy nhiên nghiệp vụ TTQT
mới chỉ được chi nhánh thực hiện và phát triển từ cuối năm 2005 và mới chỉ là 1 bộ
phận chưa là 1 phòng hoàn chỉnh.
Do đó, hình thức thanh toán tín dụng chứng từ
này cần được phát triển và hoàn thiện hơn nữa để phù hợp với yêu cầu thực tế của đất
nước nói chung và của tỉnh Hà Nam nói riêng.
Xuất phát từ những vấn đề khó khăn nêu trên, Em muốn đi sâu nghiên cứu
đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm mở rộng phát triển và hạn chế rủi ro
trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ.
1.1.1 Khái niệm:
Với sự phát triển của thương mại, nhu cầu trao đổi không chỉ dừng lại ở một
số
nước mà hoạt động mua bán đã lan rộng ra khắp các nước, các khu vực trên
toàn thế giới. Vì vậy, một nghiệp vụ mới ra đời đáp ứng được đòi hỏi đó. Đó là: “
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế”.
Như vậy,thanh toán quốc tế là việc thực hiên các nghĩa vụ chi trả và quyền
hưởng lợi về tiện tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa
các tổ chức cá nhân nước này với tổ chức các nhân nước khác hay giữa 1 quốc giá
với tổ chức quốc tế ,thông qua quan hệ giữa các ngân hàng (NH) của các nước liên
quan.
1.1.2 Các điều kiện thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến quyền lợi
và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy định lại
thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế. Mặt khác, nghiệp vụ
Thanh toán quốc tế là sự vận dụng tổng hợp các điều
kiện Thanh toán quốc tế.
Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều
khoản thanh toán của các
hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các

nhập khẩu, hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuển vốn nhanh nếu là người
xuất khẩu, hay có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ
nước mình trên thế giới… Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán còn
phụ thuộc vào phương thức thanh toán, tương quan so sánh lực lượng giữa hai
bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước nào thì địa điểm
thanh toán là nước ấy.
c . Điều kiền về thời gian thanh toán :
Điều kiện thời gian thanh toán quy định
khi nào thì người NK phải trả tiền cho ngưỡi XK do đó nó tác động tực tiếp
đến việc luân chuyển
vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những rủi ro về tỷ
giá ,lãi suất thanh khoản,biến động về tiền tệ thanh toán khả năng có thể tránh
được những biến động về tiền tệ thanh toán. Do đó, nó là vấn đề quan trọng và
thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng.
Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:
- Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu phải trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay
một phần tiền hàng trước khi nhà XK chuyển giao hàng hóa dưới quyền định đoạt
của nhà NK trong khoảng thời gian từ khi Nhà XK chấp nhận đơn đặt hàng đến
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
khi họ thực hiện đơn đặt hang của nhà NK. Mức tiền ứng trước phụ thuộc vào thị
trường đó là của người mua hay người bán ,thêm nữa là tầm quan trọng của hàng
hóa,thời hạn sx của hàng hóa .....
- Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu
hoàn hành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc sau
khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
- Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu sau một
khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.

April - 2010
động thanh toán quốc tế thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại. Thanh toán
quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Việc tổ chức Thanh toán
quốc tế được tiến hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên
tâm và đẩy mạnh hoạt động XNK của mình, nâng cao các mối quan hệ lưu thông
hàng hóa – tiền tệ một cách trôi chảy và hiệu quả.
Đồng thời, hoạt động Thanh toán quốc tế góp phần hạn chế rủi ro trong quá
trình thực hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí
địa lý các đối tác xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả năng thanh
toán của người mua gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác Thanh toán quốc
tế thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro trong quá
trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối
ngoại phát triển.
Bên cạnh đó vai trò quan trọng của hoạt động TTQT còn được thể hiện trên các
mặt sau:Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK và hoạt động đầu tư nước ngoài trực
tiếp và gián tiếp của nền kinh tế như một tổng thể;thúc đẩy và mở rộng hoạt động
dịch vụ như du lịch,hợp tác quốc tế;tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài
chính khác và cuối cùng là thúc đẩy và mở rộng thị trường tài chính quốc gia hộp
nhập quốc tế.
Tóm lại, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một
phần nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế có tốt hay không. Thanh toán quốc tế
tốt sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất trong nước, khuyến
khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng hàng hoá.
b. Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.
Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí quan trọng. Nó
không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một mặt hoạt động không thể
thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
-Trước hết, hoạt động thanh toán quốc tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được
khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển

của khách hàng (người yêu cầu mở L/C), một ngân hàng (NH phát hành L/C)
phát hành một bức thư ,theo đó NHPH cam kết trả tiền hay chấp nhận hối phiếu
cho người hưởng khi xuất trình được bộ chưng từ phù hợp với các điều kiện và
điều khoản quy định của L/C.
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng thương
mại hiện nay. Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như: Letter of
Credit, Credit, Document Credit. ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng chứng từ còn có
các tên khác như L/C, thư tín dụng ...Trước đây, thư tín dụng còn được gọi là tín
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng nữa mà thông dụng
nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng
từ. Về mặt bản chất đây là phương thức thanh toán dựa trên cam kết thanh toán có
điều kiện của Ngân hàng,cam kết đó chính là thư tín dụng.
1.2.2. Các bên tham gia.
Các bên tham gia vào quá trình thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
cơ bản gồm 4 bên.
Thứ nhất là người yêu cầu mở L/C (Applicant for L/C):là bên mà L/C phát hành
theo yêu cầu của họ,thường là người mua, người nhập khẩu hoặc là người mua uỷ
thác cho một người khác.
Thứ hai là người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là bên được hưởng số tiền thanh
toán hay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C.Họ thường là người
bán, người xuất khẩu,….
Thứ ba là ngân hàng phát hành (NHPH - Issuing Bank): là Ngân hàng phát hành
L/C theo đơn người yêu cầu và cũng là là Ngân hàng phục vụ người mua.NHPH
thường được hai bên mua bán thỏa thuận,quy định trong hợp đồng,nếu không thì
nhà nhập khẩu được phép chọn NHPH.
Thứ tư là ngân hàng thông báo (NHTB - Advising Bank): là Ngân hàng ở nước

giao hàng.
(5) : Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuất khẩu tiến hành lập bộ chứng từ
thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phục vụ mình để đề
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9

ISSUING BANK

ADVISING BANK
APPLICANT
BENEFICIARY
7
8
1 3 5 6
HĐTM
44
4
2
910
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
nghị
thanh toán. Ngoài ra, người xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ
thanh toán cho Ngân hàng được chỉ định thanh toán được xác định trong L/C.
(6) : Ngân hàng này được chỉ định là ngân hang thanh toán,tiến hành kiểm
tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp với quy định trong L/C thì tiến hành
thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho người XK(trả tiền ngay;chiết khấu…).
Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ sơ cho
người xuất khẩu.
(7) : Sau khi thanh toán, NH chuyển bộ chứng từ sang NHPH và đòi tiền.

tham gia. Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn so với những
phương thức khác, song nó không phải là phương thức đảm bảo tránh được rủi ro
cho các bên tham gia, trong đó có Ngân hàng.
C. Nội dung của thư tín dụng.
Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua
bán, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán.
Một thư tín dụng có thể có những nội dung cơ bản sau:
(1) : Số hiệu L/C.
(2) : Địa điểm phát hành L/C
(3) : Ngày phát hành L/C
(4) : Tên địa chỉ những người liên quan đến L/C
(5) : Số tiền của L/C.
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số ,vừa được ghi bằng chữ và phải rõ ràng và
thống nhất với nhau.
(6) : Thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C
Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà ngân hàng phát hành cam kết trả tiền
cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn đó và phù hợp với
những điều quy định trong L/C.Thời hạn hiệu lựuc L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C
đến ngày hết hiệu lực L/C.
(7) : Thời hạn trả tiền của L/C
Thời hạn trả tiền của L/C là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau. Điều này
hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng.Thời hạn trả tiền có thể nằm trong
hoặc ngoài thời hạn hiệu lực của L/C.
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
(8) : Ngày giao hàng của L/C
Ngày giao hàng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định.Thời hạn
giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.

thuộc loại cam kết không bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, loại thư tín
dụng này không đảm bảo được quyền lợi của người bán vì người mua có thể đơn
phương huỷ bỏ L/C. Chính vì vậy ngày nay loại L/C này ít được sử dụng trong
thương mại quốc tế.
L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C) : Đây là loại L/C mà sau khi mở thì
mọi việc liên quan đến sửa đổi, bổ xung hoặc huỷ bỏ nó Ngân hàng phát hành chỉ có
thể tiến hành trên cơ sở có sự thoả thuận của các bên có liên quan. Vì thế quyền lợi
của người bán được đảm bảo. Tuy nhiên, L/C không thể không thể huỷ ngang không
có nghĩa không thể huỷ bỏ. Trong trường hợp các bên đồng ý huỷ bỏ L/C thì nó
được công nhận là không còn giá trị thực hiện. Đây là loại L/C được sử dụng nhiều
nhất trong thương mại quốc tế ngày nay.
Phân loại theo phương thức sử dụng (Uses) có các loại L/C cơ bản sau:
L/C không huỷ ngang có xác nhận(Irrevocable Confirm L/C): Là loại L/C không
thể huỷ bỏ.Theo yêu cầu của NHPH một ngân hàng khác xác nhận trả tiền cho L/C
này.Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên loại thư
tín dụng này được coi là rất đảm bảo quyền lợi cho bên bán, và đương nhiên phải
thanh toán một khoản phí nhất định đối với ngân hàng xác nhận.
L/C chuyển nhượng(Transferable L/C) : Là loại L/C không thể huỷ ngang mà
Ngân hàng trả tiền được phép hoàn trả toàn bộ một phần số tiền của thư tín dụng cho
một người hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. Một thư tín
dụng muốn chuyển nhượng được phải có lệnh đặc biệt của ngân hàng mở, trên thư
tín dụng phải ghi”có thể chuyển nhượng được”.Lưu ý rằng việc chuyển nhượng chỉ
được thực hiện một lần cho thư tín dụng đó.
L/C giáp lưng(Back-to-Back L/C): Là loại thư tín dụng được mở trên số tiền của
một thư tín dụng khác đã được mở trước.Loai thư tín dụng này thường được sử dụng
nhiều lần trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu. …
L/C tuần hoàn(Revolving L/C) : Đây là loại L/C mà sau khi sử dụng xong hoặc
đã hết thời hạn hiệu lực lại có giá trị như cũ và được trực tiếp sử dụng sau một thời
gian nhất định. Thư tín dụng tuần hoàn được chỉ rõ ngày hết hạn hiệu lực cuối
cùng,số lần tuần hoàn và giá trị mỗi lần đó.Đồng thời, cũng phải quyđịnh số dư của

được đảm bảo về mặt tài chính rằng bên bán giao hàng thì mới phải trả tiền hàng.
Ngoài ra, các khoản ký quỹ mở L/C cũng được hưởng lãi theo quy định.
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
- Đối với người bán : Người bán hoàn toàn được đảm bảo thanh toán với bộ
chứng từ hợp lệ. Việc thanh toán không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Người bán sau
khi giao hàng tiến hành lập bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C sẽ được
thanh toán bất kể trường hợp người mua không có khả năng thanh toán. Do vậy, nhà
xuất khẩu sẽ thu hồi vốn nhanh chóng, không bị ứ đọng vốn trong thời gian thanh
toán.
- Đối với Ngân hàng phát hành : Thực hiện nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng
thu được các khoản phí thủ tục, ngoài ra, Ngân hàng còn thu hút được một khoản tiền
khá lớn (Khi có ky quỹ). Khi thực hiện nghiệp vụ này, Ngân hàng còn thực hiện được
một số nghiệp vụ khác như cho vay xuất khẩu, bảo lãnh, xác nhận, mua bán ngoại tệ...
Hơn nữa, thông qua nghiệp vụ này uy tín và vai trò của Ngân hàng trên thị trương tài
chính quốc tế được củng cố và mở rộng.
B. Nhược điểm.
- Nhược điểm lớn nhất của hình thức thanh toán này là quy trình thanh toán rất tỷ
mỷ, máy móc, các bên tiến hành đều rất thận trọng trong khâu lập và kiểm tra chứng
từ. Chỉ cần có một sai sót nhỏ trong việc lập và kiểm tra chứng từ cũng là nguyên
nhân để từ chối thanh toán,dẫn đến hậu quả rất lớn.
- Với các phương thức thanh toán quốc tế đề cập ở trên, việc lựa chọn phương
thức nào trong hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một vấn đề hết sức quan trọng
đối với các Ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại Việt Nam
thực hiện hầu hết các hình thức nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế khách quan
cũng như ưu nhược điểm của từng phương thức mà phương thức thanh toán theo tín
dụng chứng từ hiện là phương thức thanh toán phổ biến tại các NHTM Việt Nam.
CHƯƠNG II

Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được thành lập. Nhiệm vụ của
Ngân hàng là cho vay vốn đầu tư cho các công trình XDCB không do NSNN
cấp và cho vay vốn lưu động đối với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực
XDCB, bên cạnh hoạt động
cho vay từ nguồn vốn do Ngân sách cấp.
Năm 1990 cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế đất nước, Ngân
hàng đổi mới theo mô hình đa năng và chính thức lấy tên là Ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam ( BIDV ) với chức năng nhiệm vụ sau:
- Huy động vốn trung dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
- Nhận vốn ngân sách cấp để cho vay các dự án thuộc chỉ tiêu kế hoạch
- Kinh doanh lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh
vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.
Từ năm 1995 hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được giao hoàn toàn
cho Tổng Cục đầu tư bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạch
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
1
Chuyên đề tốt nghiệp
April - 2010
Nhà Nước.
Ngày 28/3/1996 theo quyết định 186- TTg cho phép Ngân hàng hoạt động
như một doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Quyết
định này chính thức đưa NHĐT&PT chính thức trở thành một bộ phận trong hệ
thống NHTM, tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng
như các hình thức huy động vốn để đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ cũng như các
hình thức huy động vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố vị thế của mình
trên thị trường góp phần tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Đến nay, sau 53 năm xây dựng và trưởng thành gắn liền với các giai đoạn
lịch sử của đất nước, NHĐT&PTVN trở thành một trong những Ngân hàng có uy
tín lớn trong nước và quốc tế.
Chi nhánh Hà nam là một đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN, hạch toán

hình TA2 nhằm tiến tới một hệ thống Ngân hàng hoạt động chuyên nghiệp, tách
bạch giữa các khâu nghiệp vụ, mục tiêu hoạt dộng rõ ràng, hạn chế tối đa mọi rủi
ro trong hoạt động, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
SƠ ĐỒ 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC CHI NHÁNH NGÂN HÀNG
ĐT&PT HÀ NAM

2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh các năm 2007 - 2009 Chi
nhánh Hà nam .
Năm 2009 kinh tế thế giới đã từng bước thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài
chính kéo dài từ cuối năm 2007. Kinh tế Việt nam đã có dấu hiệu khởi sắc nhờ
chính sách kích cầu, chính sách tài khoá và tiền tệ nới lỏng của Chính Phủ và
NHNN Việt nam. Chính sách kích cầu hỗ trợ lãi suất đã phát huy tác dụng, nhờ
đó các doanh nghiệp đã bước đầu thoát khỏi những khó khăn và dần đi vào hoạt
dộng ổn định. Các nhà đầu tư đã bắt đầu quay trở lại thị trường Việt nam do tình
hình kinh tế trong nước đã có những dấu hiệu khả quan.Ngân hàng ĐT&PT Việt
Nam đã thể hiện được vai trò tiên phong trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia, góp phần bình ổn thị trường tiền tệ, tuân thủ và thực hiện tốt các giải pháp
của Chính Phủ và NHNN trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, chặn đã suy
giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô .
Với tinh thần nỗ lực phấn đấu theo định hướng của ngành,của Chính Phủ và
NHNN. Trong những năm qua, Chi nhánh Hà nam đã không ngừng mở rộng và
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9
Ban Giám Đốc
Khối
QHKH
Khối
QLRR
Khối Tác
Nghiệp
Khối quản lý nội

hiện chính sách điều hành lãi suất huy động và cho vay linh hoạt, cạnh tranh để
thu hút tiền gửi của khách hàng. Ban lãnh đạo Chi nhánh xác định công tác
nguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng, nhiệm vụ huy động
vốn là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, tăng trưởng huy động vốn để đáp ứng nhu
cầu tăng trưởng tín dụng, tạo lập nền vốn ổn định là góp phần phát triển Ngân
hàng bán lẻ.
Bảng 1:Tình hình huy động vốn qua các năm tại Chi nhánh(đơn vị: Tỷ VNĐ)
Năm 2008 Năm 2009
Số tiền
±
(%) Số tiền
±
(%)
Tổng nguồn huy động 1.350 1.620 270 120 2.350 730 145
- TCKT 550 620 70 112 850 230 137
- Dân cư 800 980 180 122 1.200 220 122
- ĐCTC 0 20 20 300 28
0
1.50
0
Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2007 đạt 1.350 tỷ đồng, trong đó tiền gửi
TCKT đạt 800 tỷ đồng chiếm 59 % tổng nguồn vốn của Chi nhánh. Đây là nguồn
tiền gửi mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng tuy nhiên nguồn tiền gửi này
không ổn định, dễ biến động do các khách hang có nhu cầu sử dụng thường
xuyên.
Năm 2008, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạt
tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh đạt 1.620 tỷ đồng, tăng 20% so với
năm 2007, Trong đó, tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 60 %, tiền gửi TCKT
đạt 620 tỷ đồng chiếm 38% tổng nguồn huy động và tăng 12 % so với 2007.
Đến 31/12/2009, nguồn vốn huy động là 2.350 tỷ đồng, tăng 45 % so với năm

141 1.700
500
141
1.Dư nợ vay NH 320 450 130 600 150
2.Dư nợ vay T-DH 530 750 220 1.100 350
II. Dư nợ TD bán lẻ 90 150 60 166 280 130 186
III. Dư nợ NQD 560 810 250 145 1.500 690 185
IV.Dư nợ có TSĐB 820 1.150 330 140 1.680 530 146
III. Nợ xấu 0 0 0
Với tổng nguồn vốn huy động được tăng đều qua các năm, đáp ứng đủ nhu
cầu vốn vay của khách hàng. Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác sử dụng và
quản lý vốn. Tính đến 31/12/2009, dư nợ tín dụng là 1.700 tỷ đồng, tăng 41 %
so với 2008 tương đương với tăng 500 tỷ đồng, trong đó dư nợ có TSĐB thường
xuyên chiếm từ 90-98% đến tổng dư nợ toàn Chi nhánh , chú trọng phát triển
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vì đây là nhóm khách hàng có khả năng
thích nghi nhanh với thị trường, đ ến 31/12/2009 dư nợ tín dụng ngoài quốc
doanh đạt 1.500 tỷ đồng chiếm 88% tổng dư nợ. Với đặc điểm tại địa bàn
Hà nam có nguồn tài nguyên đá vôi dồi dào, chất lượng tốt đảm bảo chất lượng
cho phát triển công nghiệp VLXD nên các sản phẩm tín dụng của Chi nhánh chủ
yếu đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất VLXD như xi măng, đá, cát….đặc biệt
chất lượng tín dụng được đảm bảo, nhiều năm liền Chi nhánh không có nợ xấu,
nợ quá hạn phát sinh.
+ Tín dụng ngắn hạn: Trong các năm qua Chi nhánh đã đặc biệt chú trọng
đến công tác Marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách
hàng mới, Dư nợ tín dụng ngắn hạn tăng đều qua các năm tuy nhiên vẫn chiếm tỷ
trọng chưa cao trong tổng dư nợ.Chi nhánh đã
thực hiện chính sách khách hàng
Ngô Duy Đông_TTQTA_K9

Trích đoạn Thành quả đạt được. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CHI NHÁNH NHNN cần có những biện pháp hoàn thiện và phát triển thị trường mua bán ngoại tệ liên ngân hàng: Để Chi nhánh mở rộng quan hệ TTQT, phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status