Phân tích thực trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh bắc kạn giai đoạn gần đây - Pdf 27

Nguyễn Thị Kim Thoa
Lời nói đầu
Trong những năm qua, Chính phủ Việt nam đã từng bước thực hiện chính
sách cải cách và đổi mới toàn diện nèn kinh tế quốc dân. Theo nhận xét chung của
các chuyên gia kinh tế thì Việt Nam đã có bước phát triển khởi đầu tốt đẹp, thành
công lớn nhất là chúng ta đã bảo đảm được an ninh lương thực, từng bước hội
nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt được rất
đáng kể trong kế hoạch năm năm 1991- 1995 là 8,2% một năm, năm 1996 là 9,3%,
năm 1997 là 8.2%, tuy có sự giảm xuống 5,8% vào năm 1998 và 4,8% năm 1999,
nhưng lại có xu tăng lên trong năm 2000 là 6,7%.
Mặc dù vậy, sư phát triển kinh tế diễn ra không đồng đều giữa các klhu vực
và các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là sự phát triển chênh lệch giữa đồng
bằng và miền núi. Đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng và
các thành phố lớn, do đó sự tụt hậu của các tỉnh miền núi ngày lớn. Trong số các
tỉnh miền núi thì Bắc Kạn là một tỉnh vừa được tách ra từ hai tỉnh Cao Bằng và
Bắc Thái, cho nên để bắt nhịp với tốc độ tănh trưởng và phát triển của cả nước thì
Bắc Kạn cần phải có sự lựa chọn đường lối phát triển kinh tế thích hợp.
Với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình nhằm thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: " Phân tích thực
trạng tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế tỉnh Bắc Kạn giai đoạn gần
đây".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm đưa ra những phương hướng cụ thể phù
hợp với điều kiện và hòan cảnh của một tỉnh miền núi, để từ đó có những giải pháp
thiết thực góp phần thực hiện thành công mục tiêu mà Đại hội Đảng IX đề ra là
tăng trưởng bình quân hàng năm 7,2%.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp như qui biện chứng, phân tích
và tổng hợp, diễn dịch và qui nạp, lịch sử và lôgíc, tư duy cụ thể và trừu tượng,
1
Nguyễn Thị Kim Thoa
quan sát và thực nghiệm cùng với phương pháp đánh giá hoạt động kinh tế và phân
tích thống kê.

: Tổng sản lượng thời kì trước
Y
1
: Tổng sản lượng thời kì sau
Mức tăng trưởng tuyệt đổi : ∆ = Y
1
- Y
o
.
Mức Tăng trưởng tương đổi: = Y
1
/ Y
o
.
b/ Phát triển kinh tế (PTKT): Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích
cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu
thành của nền kinh tế.
Như vậy, đã có phát triển kinh tế là bao hàm nội dung của sự tăng trưởng
kinh tế, nhưng nó được tăng trưởng theo một cách vượt trội so sự đổi mới về khoa
học công nghệ, do năng suất xã hội cao hơn hẳn và có cơ cấu kinh tế hợp lí và hiệu
quả hơn hẳn.
Do đó, khái niệm phát triển kinh tế bao gồm :
3
Nguyễn Thị Kim Thoa
+ Trước hết là sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự tiến
bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội.
+ Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội là hai mặt
vừa phụ thuộc lại vừa độc lập tương đối của lượng và chất.
+ Sự phát triển là một quá trình tiến hóa theo thời gian do những nhân tố nội
tại của nền kinh tế quyết định. Có nghĩa là người dân của quốc gia đó phải là

tạo ra những mâu thuẫn và xung đột găy gắt: Xung đột giữa khu vực sản xuất công
nghiệp và nông nghiệp; xung đột giữa giai cấp chủ và thợ; gắn với nạn thất nghiệp
tràn lan; xung đột giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; xảy ra mâu thuẫn về lợi ích kinh
tế - xã hội, do quá trình phát triển kinh tế không đều tạo nên.
+Tăng trưởng đưa lại những giá trị mới, song nó cũng phá huỷ và hạ
thấp một số giá trị truyền thống tốt đẹp cần phải bảo tồn và phát huy như:
nền giáo dục gia đình, các giá trị tinh thần, đạo đức, thuần phong mỹ tục,
chuẩn mực của dân tộc. Đồng thời với việc làm giàu bằng bất cứ giá nào thì
tội ác cũng phát triển; các băng đảng lũng đoạn, sản xuất hàng giả, buôn lậu
chất ma tuý với qui mô quốc tế sẽ gia tăng.
+Sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh chóng còn đưa lại những
diễn biến khó lường trước, cả mặt tốt và không tốt, nên đời sống kinh tế xã
hội thường bị đảo lộn, mất ổn định, khó có thể lường trước được hậu quả.
b/ Quan điểm nhấn mạnh vào sự bình đẳng và bất bình đẳng trong xã
hội:
Sự phát triển kinh tế đựợc đầu tư dàn đều cho các ngành, các vùng và sự phân
phối được tiến hành theo nguyên tắc bình quân. Đại bộ phận dân cư đều được chăm
sóc về văn hóa, giáo dục, y tế của Nhà nước, hạn chế tối đa sự bất bình đẳng trong xã
hội.
5
Nguyễn Thị Kim Thoa
Hạn chế của việc lựa chọn quan điểm này là nguồn lực hạn chế lại bị phân
phối dàn trải nên không thể tạo ra được tốc độ tăng trưởng cao và việc phân phối
đồng đều cũng không tạo ra được động lực thúc đẩy người lao động.
c/ Quan điểm phát triển toàn diện:
Đây là sự lựa chọn trung gian giữa hai quan điểm trên, vừa nhấn mạnh về số
lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển. Theo quan điểm này tuy tốc độ
tăng trưởng kinh tế có hạn chế nhưng các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết.
II . CÁC ĐẠI LƯỢNG ĐO LƯỜNG SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự tăng lên về sản lượng hằng năm do

+ T
Trong đó:
C
p
: các khoản chi tiêu mà các hộ gia đình được quyền tiêu dùng
I
p
: Các khoản mà doanh nghiệp tiết kiệm được dùng để đầu tư
GDP theo cách xác định trên đã thể hiện một thước đo cho sự tăng trưởng
kinh tế do các hoạt động kinh tế trong nước tạo ra, không phân biệt sở hữu trong
hay ngoài nước với kết quả đó. Do vậy, GDP phản ánh chủ yếu khả năng sản xuất
của nền kinh tế một nước.
2/ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP):
GNP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mà tất cả công dân một
nước tạo ra và có thể thu nhập trong một năm, không phân biệt sản xuất được thực
hiện trong nước hay ngoài nước.
Như vậy GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà nhân dân của một nước
thực sự thu nhập được.
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài
Với ý nghĩa là thước đo tổng thu nhập của nền kinh tế, sự gia tăng thêm GNP
thực tế đó chính là sự gia tăng tăng trưởng kinh tế, nó nói lên hiệu quả của các
hoạt động kinh tế đem lại.
7
Nguyễn Thị Kim Thoa
GNP thực tế là GNP được tính theo giá trị cố định nhằm phản ảnh đúng sản
lượng gia tăng hàng năm loại trừ những sai lệch do sự biến động giá cả (lạm phát)
tạo ra, khi tính GNP theo giá thị trường thì đó là GNP danh nghĩa.
Hệ số giảm phát là tỷ lệ GNP danh nghĩa và GNP tực tế ở cùng một thời
điểm. Dùng hệ số giảm phát để điều chỉnh GNP danh nghĩa ở thời điểm gốc, để
xác định mức tăng trưởng thực tế và tốc độ tăng trưởng qua các thời điểm.

như ở bảng 1.1:
8
Nguyễn Thị Kim Thoa
Bảng 1.1: Thu nhập của một số nước năm 1997
STT Tên nước Dân số (tr.người) GNP(Tỉ USD) GNP/Người(USD
)
1
2
3
4
5
6
Anh
Pháp
Thái Lan
Ai Cập
Êtiôpia
Việt Nam
59
59
61
60
60
77
1220,2
1526,0
169,6
71,2
6,5
24,5

được nâng cao. ở các nước kém phát triển đời sống thấp, thường có tuổi thọ bình
quân dưới 50 tuổi, còn các nứơc phát triển chỉ số đó đều trên 70 tuổi.
b/ Mức tăng dân số hàng năm:
Đây là một chỉ số đi liền với chỉ số tăng thu nhập bình quân đầu người. Xã
hội loài người phát triển đã minh chứng rằng mức tăng dân số cao luôn luôn đi với
sự nghèo đói và lạc hậu. Các nước phát triển đều có mức tăng dân số tự nhiên đều
dưới 2% một năm, còn các nước kém phát triển đều ở mức trên 2% một năm .
c/ Số calo/người/ngày:
Chỉ số này phản ánh các cung ứng các loại nhu cầu thiết yếu nhất đối với mọi
người dân, về lương thực và thực phẩm hàng ngày được qui đổi thành calo. Nó
cho thấy một nền kinh tế giải quyết được nhu cầu cơ bản như thế nào.
d/ Tỉ lệ người biết chữ trong dân số
Cùng với chỉ số này, còn dùng chỉ số tỉ lệ trẻ em đến trường trong độ tuổi đi
học, hay trình độ phổ cập văn hoá của người lao động trong dân số. Các chỉ số này
phản ánh trình độ phát triển và sự biến đổi về chất của xã hội. Xã hội hiện đại đã
coi việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo là lĩnh vực đầu tư hàng đầu cho phát triển
kinh tế trong thời gian dài hạn. Tỉ lệ trẻ em đi học và người biết chữ cao, đồng
nghĩa với sự văn minh xã hội, và nó thường đi đôi với nền kinh tế có mức tăng
trưởng cao. Do vậy, nó là một chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia .
e/ Các chỉ số về phát triển kinh tế - xã hội:
10
Nguyễn Thị Kim Thoa
- Ngoài các chỉ số nêu trên người ta còn dùng các chỉ số đánh giá sự phát
triển xã hội ở mặt bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ như: Số giường bệnh, số bệnh
viện, bệnh viện an dưỡng, số bác sĩ, y sĩ bình quân cho một vạn dân. Về giáo dục
và văn hóa có tổng số các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, số lớp và số trường học,
viện nghiên cứu, nhà văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện tính bình quân cho ngàn hoặc
triệu dân.
- Sự công bằng xã hội trong phân phối sản phẩm cũng là một tiêu chuẩn đánh

và đường cong Lorent được
kí hiệu là A và phần còn lại của tam giác vuông được giới hạn bởi đường cong
Lorent và 2 đường vuông góc kí hiệu là B thì hệ số Gini được tính:
Có thể thấy rằng :
Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 tới 1
Hệ số Gini = 0: Xã hội hoàn toàn bình đẳng
Hệ số Gini = 1: Xã hội hoàn toàn bất bình đẳng
Dựa vào những số liệu thu thập của Ngân hàng thế giới (WB) thì trong thực tế giá
trị của hệ số Gini biến đối trong phạm vi hẹp hơn: Từ 0,2 đến 0,6. Theo nhận xét của
WB thì những nước có thu nhập thấp, hệ số Gini biến động từ 0,3 đến 0,5; đối với
những nước có thu nhập trung bình từ 0,4 đến 0,6 và đối với nước có thu nhập cao từ
0,2 đến 0,4.
Tuy nhiên hệ số Gini mới chỉ lượng hoá được mức độ bất bình đẳng về phân
phối thu nhập, còn tiêu thức về sự độc lập hay phụ thuộc về kinh tế và chính trị của
quốc gia, sự tự do dân chủ công dân, sự tiến bộ trong thể chế chính trị, xã hội thì
cũng chưa thể lượng hóa hết được .
2/ Các chỉ số về cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của một nước, theo cách hiểu thông thường là tổng thể các mối
quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố kinh tế và trong từng yếu tố của lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong những
giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Với quan niệm này, phải hiểu cơ cấu không
12
Diện tích (A)
Diện tích (B)
Hệ số Gini =
Nguyễn Thị Kim Thoa
chỉ là qui định về số lượng, chất lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống, mà
chính là quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống, còn các quan hệ về số lượng, tỷ
lệ chỉ được xem như là các biểu hiện của các mối quan hệ mà thôi .
Sự phát triển kinh tế - xã hội còn biểu hiện trong biến đổi của các ngành, các

Dựa trên các tiêu thức nêu trên mà liên hiệp quốc và Ngân hàng thế giới thư-
ờng sắp xếp các nước có mức độ tiến bộ, phát triển khác nhau; trong đó quan trọng
nhất vẫn là mức thu nhập tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người trong năm.
Căn cứ vào đây người ta sắp xếp các nấc thang phát triển khác nhau giữa các nước.
IV. CÁC NHÂN TỐ CỦA SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ
1/ Các nhân tố kinh tế :
Đây là lượng đầu vào mà sự biến đổi của nó trực tiếp làm thay đổi sản lượng
đầu ra. Có thể biểu hiện mối quan hệ đó bằng hàm số:
Y = F(Xi)
Trong đó: Y là sản lượng, còn Xi (i = 1, 2, , n) là các biến số đầu vào thể
hiện các nhân tố đều chịu sự điều tiết của mối quan hệ cung - cầu. Một số nhân tố
thì ảnh hưởng tới mức cung, một số nhân tố thì ảnh hưởng tới mức cầu. Sự cân
bằng cung - cầu do giá cả thị trường điều tiết sẽ tác động trở lại các nhân tố trên và
dẫn tới kết quả của sự sản xuất, đó là sản lượng của nền kinh tế.
14
- Mức thu nhập
- Giá tiêu dùng
- Các chính sách
kinh tế
- Vốn sản xuất
- Lao động
- Tài nguyên
- Khoa học - công nghệ
- Quản lý tổ chức
- Qui mô sản xuất
-
S
-Cung
-Cầu

trên quan điểm nghiêng về cung chứ không phải là cầu. Trong một giai đoạn nhất
định (ngắn hạn) sự khan hiếm của tài nguyên (nguồn đầu vào) hay sự thiếu cung,
luôn luôn là giới hạn của sự tăng trưởng, nhất là khi sức sản xuất còn thấp.
Còn theo trường phái kinh tế học hiện đại, mà xuất phát là Keynes thì mức
sản lượng và việc làm là do cầu quyết định. Điều này được lý giải sản lượng của
nền kinh tế luôn ở dưới mức tiềm năng, tức là nền kinh tế còn các nguồn lực tiềm
năng, công nhân thất nghiệp ở mức tự nhiên, vốn tích luỹ lớn, công suất máy móc
15
Nguyễn Thị Kim Thoa
chưa tận dụng hết Đó là do khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, năng suất
luôn được nâng cao. Do đó cung không phải là vấn đề giới hạn của sự gia tăng sản
lượng, mà ở đây nó phụ thuộc vào cầu.
Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn còn những nước quá nghèo, chưa đáp ứng đư-
ợc nhu cầu cơ bản của nhân dân. Song lại có những nước quá giàu đã đáp ứng đư-
ợc nhu cầu của đất nước và đang mở rộng thị trường ra khỏi biên giới để nhằm
đẩy mạnh tăng trưởng. Vì vậy mỗi quan điểm trên đều có giá trị trong mỗi hoàn
cảnh và điều kiện riêng biệt của mỗi quốc gia .
Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển, cung vẫn chưa đáp ứng
đựơc cầu, sự gia tăng sản lượng phải bao gồm sự gia tăng trong đầu vào của các
yếu tố sản xuất theo quan hệ hàm số giữa sản lượng với vốn, lao động, đất đai và
nguyên liệu, kĩ thuật và công nghệ
Y = F( K,L,R,T )
Trong đó:
K: là vốn
L: là lao động
R: là đất đai và tài nguyên
T: là tiến bộ của kĩ thuật và công nghệ
Hàm sản xuất trên nói lên sản lượng tối đa có thể sản xuất được tuỳ thuộc
vào sản lượng các yếu tố đầu vào trong điều kiện trình độ kĩ thuật và công nghệ
nhất định. Mỗi yếu tố có vai trò nhất định, do trình độ phát triển kinh tế ở mỗi nơi,

hao mòn dần, đồng thời do nhu cầu về tài sản ngày càng tăng thêm về tài sản cho
nên cần phải tiến hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn tài sản và tăng thêm
17
Nguyễn Thị Kim Thoa
khối lượng tài sản mới. Quá trình này được tiến hành bằng vốn đầu tư thông qua
hoạt động đầu tư.
Vốn đầu tư được chia làm 2 loại: đầu tư cho tái sản sản xuất và đầu tư cho tài
sản phi sản xuất. Vốn đầu tư cho tài sản sản xuất gọi là vốn sản xuất, đó là chi phí
để thay thế tài sản cố định bị thải loại để tăng tài sản cố định mới và để tăng tài sản
tồn kho.
Như vậy hoạt động đầu tư là việc sử dụng vốn đầu tư để phục hồi năng lực
sản xuất và tạo ra năng lực sản xuất mới, đó là quá trình chuyển hóa vốn thành các
tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất. Hoạt động đầu tư thường được tiến hành
dưới 2 hình thức:
- Đầu tư trực tiếp :là hoạt động đầu tư mà người có vốn tham gia trực tiếp vào
quá trình hoạt động và quản lí đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như
phương thức hoạt động của các loại vốn mà họ bỏ ra. Hoạt động đầu tư này có thể
dưới các hình thức hợp đồng: Hợp đồng, liên doanh công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn.
- Đầu tư gián tiếp: Là hình thức bỏ vốn vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại
hiệu quả cho bản thân người có vốn cũng như xã hội, nhưng ngời có vốn không
tham gia trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư, dưới hình thức: cổ phiếu, tín phiếu
Trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng có 3 phương thức đầu tư mới được
áp dụng ở Việt Nam:
+ B - T - O: Phương thức Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh
+ B - O - T: Phương thức Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao
+ B - T: phương thức Xây dựng - Chuyển giao
(B - Build, T - Transfer, O - Operate)
Cả 3 phương thức đầu tư trên là những hợp đồng kí giữa Chính phủ với các
nhà đầu tư nhằm áp dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng.

ODA được gọi là nguồn vốn tài chính do các cơ quan chính thức (chính
quyền nhà nước hay địa phương ) của một nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ
cho phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này.
Nội dung viện trợ ODA bao gồm
- Viện trợ không hoàn lại : Thường chiếm 25% tổng vốn ODA
- Hợp tác kĩ thuật
- Cho vay ưu đãi, bao gồm:
+ Cho vay không lãi
19
Nguyễn Thị Kim Thoa
+ Cho vay với lãi suất ưu đãi từ : 0,5 - 5% /năm, trả vồn sau 3 - 10 năm, hoàn
vốn trong thời gian 10 - 15 năm.
* Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO):
Viện trợ NGO là các viện trợ không hoàn lại, trước đây viện trợ này chủ yếu
là vật chất, đáp ứng những nhu cầu nhân đạo :
Cung cấp thuốc men cho cá trung tâm y tế, chỗ ở và lương thực cho các nạn
nhân thiên tai. Hiện nay, loại viện trợ này lại được thực hiện nhiều hơn bằng các
chương trình phát triển dài hạn, có sự hỗ trợ của các chuyên gia thường trú và tiền
mặt .
* Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài đối với các nước đang phát
triển, là nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng với phát triển kinh tế. FDI không
chỉ cung cấp vốn, mà nó còn thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo
cán bộ kĩ thuật và tìm thị trường tiêu thụ. Mặt khác FDI còn gắn với trách nhiệm
bảo toàn và phát triển vốn. Do đó thu hút và khai thác tốt nguồn vốn này sẽ giảm
nợ nước ngoài đối với các nước đang phát triển .
a3/ Tác động của vốn đến tăng trưởng kinh tế :
Đầu tư là một bộ phận lớn và hay thay đối trong chi tiêu, do đó những thay đổi
trong đầu tư có thể tác động lớn đối với tổng cầu và do đó tác động tới sản lượng và
công ăn việc làm. Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu để mua sắm


Sơ đồ 1.3 Sơ đồ 1.4
Tác động vốn đầu tư Tác động của vốn sản xuất
xuất đến tăng trưởng đến tăng trưởng
b/ Lao động với phát triển kinh tế :
b1/ Nguồn lao động và các nhân tố ảnh hưởng
b1.1/ Nguồn nhân lực và nguồn lao động
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo qui
định của pháp luật có khả năng tham gia lao động.
Nguồn lao động là một bộ phận của dân số có khả năng lao động bao gồm
dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và dân số ngoài độ tuổi lao
động đang làm việc thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân .
21
GDP
AD
0
AD
1
AS
GDP
P
Y
0
Y
1
P
1
P
0
AD

ở các nước đang phát triển, số ngời làm việc trong khu vực nông thôn hoặc
khu vực thành thị không chính thức tuy có việc làm nhưng với năng suất thấp, thời
gian làm việc không đầy đủ mà phần lớn mà là chia việc để làm, do vậy để biểu thị
loại thất nghiệp này người ta gọi là thất nghiệp trá hình .
* Thời gian lao động : thường được tính bằng số ngày làm việc trong một
năm, số giờ làm việc trong tuần hoặc số giờ làm việc trong ngày Xu hướng
chung là thời gian làm việc sẽ giảm đi khi trình độ phát triển kinh tế được nâng
cao.
b1.3/ Các yếu tố ảnh h ởng đến chất l ượng lao động :
Số lượng lao động mới phản ánh được một mặt sự đóng góp của lao động
vào phát triển kinh tế. Mặt khác cần được xem xét đến chất lượng lao động, đó là
22
Tổng số người thất nghiệp
100%
Nguồn lao động
Tỷ lệ thất nghiệp =
Nguyễn Thị Kim Thoa
yếu tố làm cho lao động có năng suất cao hơn. Chất lượng được nâng cao nhờ giáo
dục, đào tạo, nhờ sức khoẻ của người lao động, nhờ việc bố trí điều kiện lao động
tốt hơn.
b2/ Vai trò của lao động với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế.
b2.1/ Đặc điểm lao động ở các nư ớc đang phát triển .
* Số lượng lao động tăng nhanh.
* Phần lớn lao động đang làm việc trong khu vực nông nghiệp.
* Hầu hết người lao động chưa được sử dụng.
b2.2/ Vai trò của lao động với tăng trư ởng và phát triển kinh tế.
* Vai trò hai mặt của lao động trong quá trình phát triển kinh tế: Lao động,
một mặt là một bộ phận của nguồn lực phát triển, đó là yếu tố đầu vào không thể
thiếu được của quá trình sản xuất. Mặt khác lao động là một bộ phận của dân số
những người được hưởng lợi ích của sự phát triển.

khoáng sản, dầu khí.
c2/ Vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế.
* Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc
xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm có được từ nguồn tài nguyên chưa
qua sơ chế hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát
triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến .
* Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình tích luỹ vốn và phát triển ổn định. Việc tích luỹ vốn đối với hầu hết các nước
đòi hỏi phải trải qua một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong
24
Nguyễn Thị Kim Thoa
nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên với những nước đã được thiên
nhiên ưu đãi nguồn tài nguyên lớn, đa dạng có thể rút ngắn quá trình tích luỹ vốn
bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo
nguồn vốn tích ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Sự
giàu có về tài nguyên, là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế, ít bị phụ thuộc
vào nguồn tài nguyên, vốn là một yếu tố không ổn định trên thị trường thế giới.
Điều này cho phép những nước có nguồn tài nguyên phong phú có thể tăng trưởng
trong những điều kiện ổn định.Trong khi những nước ít may mắn hơn về tài
nguyên phải căng thẳng để điều chỉnh sự lên xuống về giá cả khi phải nhập khẩu
các nguồn nguyên liệu.
d/ Khoa học công nghệ với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
* Cách mạng khoa học kĩ thuật làm thay đổi sâu sắc phương thức lao động
của con người.
Loài người đã trải qua hàng nghìn năm trong giai đoạn thứ nhất của nền văn
minh, giai đoạn của nền nông nghiệp thủ công với công cụ lao động chủ yếu công
cụ thô sơ sử dụng nguồn năng lượng của cơ thể và xúc vật.
Giai đoạn thứ hai của nền văn minh nhân loại là giai đoạn của nền sản xuất cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status