MỤC LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961.
Với mục tiêu thúc đẩy và nâng cao hiệu quả kinh tế thị trường, mở rộng thương
mại tự do và góp phần phát triển kinh tế ở các nước công nghiệp.
Năm 2004, OECD ban hành tài liệu hướng dẫn về 6 nguyên tắc quản trị công
ty. Dựa trên các nguyên tắc QTDN do OECD hướng dẫn, hệ thống các quy định
về quản trị doanh nghiệp được đề cập tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật; bao
gồm các Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trước thực tế những vụ bê bối của những doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
trong những năm trờ lại đây như Vinashin năm 2010 làm thất thoát 84.000 tỷ đồng
hay việc làm ăn thua lỗ của Vinalines triền miên phần lớn xuất từ việc thực hiện
quản trị doanh nghiệp không tốt. Một câu hỏi được đặt ra là” Các tập đoàn kinh tế
nhà nước đã và đang thực hiện bộ quản trị doanh nghiệp của OECD như thế
nào?”
Thực tế, do sự khác biệt về cơ cấu tổ chức và chức năng của các tập đoàn
kinh tế nhà nước so với các doanh nghiệp khác mà bộ nguyên tắc quản trị doanh
nghiệp do OECD ban hành còn gặp nhiều khó khăn khi áp dụng tại các tập đoàn
kinh tế nhà nước. Mặt khác việc công bố thông tin về tài chính, cơ cấu quản lý, cơ
cấu quản trị, chính sách thù lao của các tập đoàn kinh tế nhà nước thường hạn chế
nhằm mục đích giữ uy tín cho nhà nước. Vì vậy với mục đích làm minh bạch các
thông tin về tập đoàn kinh tế nhà nước việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình áp dụng
bộ quản trị doanh nghiệp của OECD có tính mạnh dạn và cần thiết không chỉ đối
với các doanh nghiệp khác trong thị trường mà còn tạo niềm tin đối với người dân.
2. Lý do chọn đề tài.
Gần 30 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế theo cơ chế nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã và
đang gặt hái được những thành tựu đáng kể. Mặt khác, trong quá trình hội nhập
Đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư,
tổ chức tín dụng, hoàn thành các nhiệm vụ Đảng, Chính phủ đã giao cho các
TĐKTNN.
4. Đối tượng nghiên cứu- Phạm vi nghiên cứu.
- Bộ nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD.
- Tập đoàn kinh tế nhà nước ( vấn đề quản trị doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế
nhà nước).
5. Kết cấu của báo cáo
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính của đề tài bao gồm 3 chương được kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan lý luận về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp
trong nền kinht é thị trường
3
Chương 2: Giới thiệu bộ nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD
Chương 3: Giải pháp tăng cường và vận dụng nguyên tắc quản trị doanh
nghiệp của OECD trong các Tập đoàn kinh tế Nhà nước tại Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN
TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1. Lý luận chung về doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp
- Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài
chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng,
tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng,
thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các
mục tiêu xã hội.
+Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân. Tư
cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại
của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác
định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một
thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất
- Nguyên tắc là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn đòi hỏi chủ thể và chủ thể
phải tuân thủ và làm theo.
- Các nguyên tắc quản trị là các quy luật chỉ đạo, là tiêu chuẩn hành vi mà các nhà
qurn lý, người chủ doanh nghiệp phải tuân thủ trong quá trình hoạt động kinh
doanh.
- Yêu cầu của nguyên tắc quản trị:
• Phù hợp với mục tiêu quản trị.
• Phản ánh đúng tính chất về quan hệ quản trị.
• Đảm bảo tính hệ thống, tính nhất quán và phải đảm bảo bằng tính kỷ luật của tổ
chức.
1.2.2. Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp
a) Tuân thủ luật pháp và thông lệ kinh doanh
Luật pháp là những ràng buộc của Nhà nước, và các cơ quan quản lý vĩ mô
đối với mọi người theo định hướng của sự phát triển xã hội. Nếu chủ doanh nghiệp
vi phạm sẽ bị xử lý bằng các biện pháp hành chính và kinh tế mà bất kỳ người chủ
doanh nghiệp nào cũng phải né tránh để không bị xử lý. Đây còn là các thông lệ
kinh doanh của xã hội mang tính bắt buộc mà các chủ thể kinh doanh phải biết và
chấp hành. Ngoài việc tuân thủ những quy định của pháp luật về hoạt động kinh
doanh, doanh nghiệp còn phải kinh doanh cho phù hợp với thông lệ của xã hội.
b) Phải xuất phát từ khách hàng
Kết quả cuối cùng của kinh doanh theo cơ chế thị trường, tuỳ thuộc gần như
quyết định vào người mua; mọi chủ doanh nghiệp phải tạo cho mình một khối
lượng khách hàng cần có để tồn tại và phát triển. Chính nó là căn cứ để hình thành
chiến lược marketing của mỗi doanh nghiệp (bao gồm cả 5 nội dung: sản phẩm
(Product), giá cả (Price), phân bố (Place), chiêu thị (Promotion) và nguồn vốn
(Purse) và các nội dung quản lý của doanh nghiệp (vốn, lao động, công nghệ, thị
trường, phương văn hoá doanh nghiệp v.v ).
c) Hiệu quả và hiện thực
Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tính toán và hoạt động của doanh nghiệp phải
đạt được các mục tiêu đề ra một cách thiết thực và an toàn, thể hiện ở các chỉ tiêu
người có chuyên môn, được đào tạo, có kinh nghiệm và tay nghề theo đúng vị trí
trong guồng máy sản xuất và quản lý của doanh nghiệp thực hiện. Đây là cơ sở
của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Một mặt những người
hoạt động trong guồng máy doanh nghiệp phải nắm vững chuyên môn nghề
nghiệp ở vị trí công tác của mình, mặt khác họ phải ý thức được mối quan hệ của
họ với những người khác và bộ phận khác thuộc guồng máy chung của doanh
nghiệp.
e) Kết hợp hài hoà các loại lợi ích
Đòi hỏi chủ doanh nghiệp phải xử lý thoả đáng mối quan hệ biện chứng hữu
cơ giữa các lợi ích có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, bao
gồm:
- Lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp, phải bảo đảm đủ động lực
cho họ sống và làm việc; nhờ đó gắn bó họ một cách văn minh và chặt chẽ trong
doanh nghiệp.
7
- Lợi ích của khách hàng, đó là những người mua sản phẩm của doanh
nghiệp cùng với các yêu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp và cách phục vụ của
doanh nghiệp.
- Lợi ích của nhà nước và xã hội, đó là nghĩa vụ về thuế và các ràng buộc
pháp luật khác mà doanh nghiệp phải thực hiện là các thông lệ xã hội (môi sinh,
môi trường, nghĩa vụ cộng đồng v.v ) mà doanh nghiệp phải tuân thủ.
- Lợi ích của các bạn hàng, đó là những cá nhân và đơn vị tham gia cung ứng
một phần hoặc toàn bộ các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Họ phải được giải
quyết thoả đáng các lợi ích của mình khi thực hiện mối quan hệ làm ăn với doanh
nghiệp, nếu không họ sẽ cắt quan hệ với doanh nghiệp để quan hệ với các doanh
nghiệp khác.
f) Luôn luôn bị giám sát, biết dấu ý đồ
Đó là nguyên tắc đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn biến dấu kín ý đồ và
tiềm năng kinh doanh của mình. Một mặt do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường
đòi hỏi các doanh nghiệp phải phòng ngừa đối thủ, mọi sự phô trương hãnh tiến,
hưởng. Để có thể làm hài hòa mối quan hệ này chỉ có cách các bên cùng nhau đối
thoại để tháo gỡ vướng mắc.
- Các doanh nghiệp thường không thực hiện được nguyên tắc “ Tuân thủ pháp luật
và thong lệ kinh doanh” bởi vì luật pháp có hai điểm yếu kém:
+ Nó không thể hoàn thiện và không có tính cập nhật.
+ Đội ngũ các nhà hành pháp thường có không ít người xấu họ sẵn sàng vi
phạm luật pháp để kiếm lời ích kỷ; mà chủ doanh nghiệp với động cơ trục lợi có
thể cấu kết với họ để làm giàu bất chính cho mình.
- Nguyên tắc “ Phải xuất phát từ khách hàng” cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm
vững vòng đời của mỗi sản phẩm để luôn luôn đổi mới chiến lược sản phẩm thích
nghi được với thị trường luôn biến động.
1.5. Cơ chế kinh tế thị trường có ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực gì đối với
các nguyên tắc này
Nền kinh tế được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. Khi các quan hệ
kinh tế giữa các chủ thể biểu hiện qua mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường
(người bán cần tiền, người mua cần bán và họ phải gặp nhau trên th ị tr ường) thì n
ền kinh tế đó gọi là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền
kinh tế - xã hội, trong đó các quan h ệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp
đều biểu hiện qua quan hệ mua, bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và thái độ cư
xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là định hướng vào việc tìm kiếm lợi ích của
chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường. - Kinh tế thị trường là kinh tế
hàng hoá phát triển ở trình độ cao. Khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình
tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như: đất đai và tài
nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các
sản phẩm dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối t ượng mua - bán và hàng hoá
a) Ảnh hưởng tích cực
- Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng công lợi xã
hội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt.
- Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế tự do cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn
đứng vững được trên thị trường phải luôn luôn đổi mới về sản phẩm, về tổ chức
qua trao đổi hàng hoá dưới hình thức thương mại.
1.5. Các nhân tố tác động tới quá trình hình thành nguyên tắc quản trị doanh
nghiệp
1.5.1. Các yếu tố tác động
• Môi trường vĩ mô
- Môi trường nhân khẩu
- Môi trường kinh tế
- Môi trường tự nhiên
- Môi trường khoa học - kĩ thuật
- Môi trường chính trị - pháp luật
- Môi trường văn hóa
• Môi trường vi mô
- Môi trường nội tại của doanh nghiệp
10
- Khách hàng
- Nhà cung ứng
- Công chúng trực tiếp
- Đối thủ cạnh tranh
1.5.2. Phân tích sự tác động của các nhân tố tới nguyên tắc
• Môi trường vĩ mô
- Môi trường nhân khẩu:là bao gồm các yếu tố như quy mô dân số, mật độ dân số,
tuổi tác, giới tính, chủng tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp,…Vì đây là nhân tố
tác động trực tiếp đến con người và con người cũng là tác nhân tạo ra thị trường.
- Môi trường kinh tế: là những yếu tố tác động đến khả năng chi tiêu của khách
hàng, sử dụng những mặt hàng khác biệt.Môi trường kinh tế đống vai trò quan
trọng trong sự vận động và phát triển thị trường. Tốc độ tang trưởng kinh tế , tỷ lệ
lạm phát, lái suất ngân hàng, thu nhapk bình quân đầu người…ảnh hưởng đến sức
mua, cơ cấu tiêu dung từ đó điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm khí hậu, vị trí địa lý, cảnh
mực đạo đức. kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người
càng chú trọng đến sản phẩm phục vụ tiêu dùng. Thêm vào đó, xu hướng và thị
hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng cũng có sự biến đổi liên tục. Bao gồm những
chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mựcgiá trị này được chấp nhận và tôn trọng
bởi xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể. Sự tác động của các yếu tố văn hóa xã hội
thường có tính dài hạn và tính tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc
khó mà nhận biết. Phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa thường rất rộng, như
vậy những hiểu biết về văn hóa – xã hội sẽ là những cơ hội cho các nhà quản trị
trong quá trình quản trị chiến lược trong tổ chức.
• Môi trường vi mô
- Môi trường nội tại của doanh nghiệp: Môi trường văn hoá công sở được các nhà
khoa học môi trường cũng như các nhà văn hóa rất quan tâm. Đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay và nhiều năm về sau, khi mà trào lưu văn hóa ngoại nhập ào ạt tấn
công vào đất nước ta. Trong thời kỳ mở cửa, cùng với hội nhập và phát triển kinh
tế, các luồng văn hoá nước ngoài cũng theo đó mà vào. Có nhiều luồng gió mát
nhưng cũng không ít luồng gió độc. Làm sao điều chỉnh những hành vi ứng xử để
bảo tồn văn hóa mà vẫn du nhập được văn minh, tiến bộ nhân loại? Điều này hết
sức khó. Nó đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội phải biết tự mình điều chỉnh quan
điểm hành vi ứng xử sao cho phù hợp.Trước hết, phải xây dựng, tôn tạo môi
trường văn hoá và văn hoá môi trường lành mạnh, hài hòa và tiên tiến. Văn hóa
doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Cấp dễ thấy nhất thể hiện
ngay trong công việc hàng ngày nhưng cách báo cáo công việc, giữ gìn tài sản
chung, ngôn ngữ khi giao tiếp với đồng nghiệp, đối tác, khách hàng, các thủ tục
hành chính… Cấp thứ hai là các giá trị tinh thần xác định việc phải làm, hành
động của mình đúng hay sai, có mang lại lợi ích hay thiệt hại chung hay không.
Đây là điều Lãnh đạo doanh nghiệp mong muốn nhận được ở nhân viên và phải
xây dựng dần từng bước. Cấp thứ ba là nền tảng cho các hành động chính là niềm
tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm
thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Các ngầm định nền tảng này là nền tảng cho
các giá trị và hành động của mỗi thành viên. Văn hóa kinh doanh trong một tổ
nghiệp, trong kế hoạch ngắn hạn sẽ bỏ lỡ những khả năng tiêu thụ và trong kế
hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối với công ty. Để cho quá
trình hoạt động của một doanh nghiệp diễn ra một cách thuận lợi, thì các yếu tố
đầu vào phải được cung cấp ổn định với một giá cả hợp lý, muốn vậy doanh
nghiệp cần phải tạo ra mối quan hệ gắn bó với các nhà cung ứng hoặc tìm nhiều
nhà cung ứng khác nhau cho cùng một loại nguồn lực.
- Công chúng trực tiếp: Công chúng trực tiếp là một nhóm bất kỳ tỏ ra quan tâm
thực sự hay có thể sẽ quan tâm đến những tổ chức có ảnh hưởng đến khả năng đạt
tới những mục tiêu đề ra của nó.Công chúng trực tiếp có thể hoặc là hỗ trợ hoặc là
chống lại nỗ lực của công ty nhằm phục vụ thị trường. Công chúng tích cực là
nhóm quan tâm đến công ty với thái độ thiện chí (ví dụ những nhà hảo tâm). Công
13
chúng tìm kiếm là nhóm mà công ty đang tìm kiếm sự quan tâm của họ, nhưng
không phải bao giờ cũng tìm được (ví dụ các phương tiện thông tin đại chúng).
Công chúng không mong muốn là nhóm mà công ty cố gắng thu hút sự chú ý của
họ, nhưng buộc phải để ý đến họ nếu họ xuất hiện (Ví dụ nhóm người tiêu dùng
tẩy chay).Công ty có thể xây dựng kế hoạch chiến lược cho tất cả các công chúng
trực tiếp, cơ bản của mình, cũng cho tất cả thị trường khách hàng. Giả sử rằng
công ty muốn giành được từ một nhóm công chúng trực tiếp cụ thể nào đó thái độ
phản ứng thiện cảm, những lời khen ngợi hay sự đóng góp thời gian tiền bạc. Để
làm được việc đó công ty cần phải thiết kế hàng hoá hấp dẫn đối với chính nhóm
công chúng này.
Các loại công chúng trực tiếp của công ty thường là:
+ Giới tài chính. Có ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo nguồn vốn của công
ty. Công chúng trực tiếp cơ bản trong giới tài chính là ngân hàng, các công ty đầu
tư, các công ty môi giới của Sở giao dịch chứng khoán, các cổ đông.
+ Công chúng trực tiếp thuộc các phương tiện thông tin. Công chúng thuộc
các phương tiện thông tin là những tổ chức phổ biến tin tức, những bài báo và bài
xã luận. Trước hết đó là báo chí, đài phát thanh và đài truyền hình.
+ Công chúng trực tiếp thuộc các cơ quan Nhà nước. Ban lãnh đạo phải nhất
Đặc biệt cần xác định rõ các đối thủ lớn là ai và tỷ suất lợi nhuận của ngành là bao
nhiêu?
+ Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn bao gồm các đối thủ tiềm ẩn (sẽ xuất hiện
trong tương lai) và các đối thủ mới tham gia thị trường, đây cũng là những đối thủ
gây nguy cơ đối với doanh nghiệp. Để đối phó với những đối thủ này, doanh
nghiệp cần nâng cao vị thế cạnh tranh của mình, đồng thời sử dụng những hàng
rào hợp pháp ngăn cản sự xâm nhập từ bên ngòai như : duy trì lợi thế do sản xuất
trên quy mô lớn, đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra nguồn tài chính lớn, khả năng
chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế trong việc xâm nhập các kênh tiêu thụ,
ưu thế về giá thành mà đối thủ không tạo ra được và sự chống trả mạnh mẽ của
các đối thủ đã đứng vững.
15
Kết luận chương 1
Quản trị là môn khoa học và cũng là nghệ thuật. Để quản trị tốt doanh
nghiệp các nhà quản trị cần nẵm vững các nguyên tắc quản trị và vận dụng vào
tình hình thực tiễn của công ty mình một các phù hợp. Để từ đó có định huwogs và
nâng cao năng lực quản lý cho doanh nghiệp giúp hiệu quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp đạt kết quả cao hơn.
Do đó việc nghiên cứu và nhận thức các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp
là hết sức quan trọng. Tuy nhiên việc vận dụng các nguyên tắc đòi hỏi các nhà
quản trị cần hết sức sáng tạo và linh hoạt.
16
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU BỘ NGUYÊN TẮC QUẢN TRỊ
DOANH NGHIỆP CỦA OECD.
2.1. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( OECD).
OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961.
Tiền thân của OECD là Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC) của 16 nước
châu Âu nhằm khôi phục kinh tế và giám sát phân bổ viện trợ.
- Năm 1950, Mỹ và Canada tham gia OEEC với tư cách quan sát viên.
OECD hiện đang có 34 thành viên.
- Châu Âu (25 thành viên) : Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đan Mạch,
Đức, Estonia, Hà Lan, Hungary, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Luxembourg, Pháp,
Phần Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Thụy
Điển, Thụy Sĩ, Na Uy, Ý
- Châu Mỹ (4 thành viên, 3 thành viên từ Bắc Mỹ và một từ Nam Mỹ):
Canada, Hoa Kỳ, Chile, Mexico
- Châu Á (3 thành viên) : Hàn Quốc, Israel, Nhật Bản
- Châu Đại Dương (2 thành viên) : New Zealand, Úc
b) Chức năng nhiệm vụ của tổ chức
Chức năng:
Là diễn đàn đối thoại giữa các nước thành viên, các tổ chức quốc tế và giới nghiên
cứu về các vấn đề kinh tế- xã hội
Tiến hành nghiên cứu, dự báo, đưa ra khuyến nghị và tư vấn các nước thành viên
trong hoạch định, phối hợp chính sách phát triển kinh tế- xã hội.
Nhiệm vụ:
Tăng cường quan hệ đối thoại giữa giới nghiên cứu và quan chức lãnh đạo của các
nước về những vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển;
Nghiên cứu, phân tích, tổ chức đối thoại để dự báo, cảnh báo các nguy cơ đối với
phát triển;
Xây dựng và tăng cường quan hệ đối tác giữa OECD với các nước đang phát triển;
Tư vấn cho OECD trong việc hoạch định chính sách
Mục tiêu:
Mục tiêu ban đầu của OECD là xây dựng các nền kinh tế mạnh ở các nước thành
viên, thúc đẩy và nâng cao hiệu quả kinh tế thị trường, mở rộng thương mại tự do
và góp phần phát triển kinh tế ở các nước công nghiệp. Những năm gần đây,
OECD đã mở rộng phạm vi hoạt động, chia sẻ kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm
phát triển cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi sang
kinh tế thị trường
Tăng cường hợp tác kinh tế, phối hợp chính sách giữa các nước thành viên về các
nước.
Khuôn khổ pháp lý và quản lý cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động thường
phức tạp. Nếu khuôn khổ này không nhất quán và rõ ràng thì có thể dễ dàng gây
nên các biến dạng thị trường và làm giảm trách nhiệm của cả ban Giám đốc lẫn
nhà nước với tư cách chủ sở hữu. Việc phân định trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ
quan chức năng, hợp lý hóa các quy định pháp lý và xây dựng một khuôn khổ
quản lý rõ ràng và nhất quán sẽ tạo điều kiện cải thiện thực tiễn quản trị công ty ở
doanh nghiệp nhà nước. Trong đó gồm các tiểu quy tắc làm rõ hơn về từng nội
dung cụ thể của nguyên tắc như:
19
2.2.1.1. Nguyên tắc về “Khuôn khổ chung về QTDN”
Nguyên tắc trên tập trung chính vào khuôn khổ quản trị công ty nhằm mục
đích thúc đẩy tính minh bạch của thị trường, khuyến khích các bên tham gia thị
trường nâng cao trách nhiệm.
Khuôn khổ quản trị công ty được phát triển cần dựa trên quan điểm về tác
động của nó đối với hiệu quả kinh tế nói chung, tính toàn vẹn của thị trường và
các cơ chế khuyến khích mà khuôn khổ này tạo ra.
Trong đó:
- Môi trường quản lý và pháp lý áp dụng cho các hoạt động của các công ty
có ý nghĩa lớn tới hiệu quả kinh tế nói chung.
- Cơ quan hoạch định chính sách có trách nhiệm xây dựng một khuôn khổ đủ
linh hoạt để đáp ứng yêu cầu của các công ty hoạt động ở những điều kiện khác
nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty phát triển và sử dụng nguồn lực một cách
hiệu quả nhất.
- Cơ quan hoạch định chính sách cần tập trung vào hiệu quả kinh tế cuối
cùng và phải phân tích tác động của những chính sách này đối với những yếu tố
chính ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường như các cơ chế ưu đãi, hiệu quả của
các hệ thống tự điều tiết, và giải quyết các xung đột lợi ích hệ thống.
2.1.1.2. Nguyên tắc về “Khuôn khổ pháp lý đối với cưỡng chế thực thi minh
bạch”
một loạt các văn bản pháp lý như luật công ty, luật chứng khoán, tiêu chuẩn kế
toán và kiểm toán, luật phá sản, luật hợp đồng, luật lao động và luật thuế. Do vậy
sẽ nảy sinh nguy cơ quy định của các luật này chồng chéo và thậm chí mâu thuẫn
nhau.
- Ngoài ra, cưỡng chế thực thi hiệu quả cũng đòi hỏi phải phân định trách
nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan quản lý khác nhau để các cơ quan này có thể hoạt
động và hỗ trợ nhau hiệu quả nhất để tránh tình trạng có vấn đề xảy ra mà không
một cơ quan chức năng nào chịu trách nhiệm rõ ràng và để giảm thiểu chi phí tuân
thủ của công ty.
=> Do đó, các nhà hoạch định chính sách nhận biết và tiến hành các biện
pháp để hạn chế nguy cơ này là rất quan trọng.
2.1.1.4. Về “Quyền quản lý, tính minh bạch, nguồn lực”
-Về quản lý: các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi phải liêm
chính, có đủ thẩm quyền, và nguồn lực để hoàn thành chức năng của mình một
cách chuyên nghiệp và khách quan.
21
-Về tính minh bạch: các quyết định của những cơ quan này phải kịp thời,
minh bạch và được giải thích đầy đủ không có sự xung đột về lợi ích và được giám
sát bởi pháp luật.
-Về nguồn lực: Khi số lượng các công ty đại chúng, các sự kiện công ty và
mức độ công bố thông tin tăng lên thì các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế
thực thi có thể phải chịu nhiều áp lực về nguồn lực. Để theo kịp sự phát triển của
thị trường, các cơ quan này sẽ có nhu cầu lớn về nhân lực có trình độ để có thể
thực hiện hiệu quả công tác điều tra và giám sát. Do đó họ cần được cấp kinh phí
đầy đủ. Khả năng thu hút nhân lực trên cơ sở cạnh tranh sẽ tăng cường chất lượng
và sự độc lập giữa giám sát và cưỡng chế thực thi.
2.2.2. Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu
Nhà nước cần đóng vai trò chủ sở hữu có hiểu biết, tích cực, và xây dựng
chính sách sở hữu rõ ràng và nhất quán, đảm bảo việc quản trị doanh nghiệp nhà
nước được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm với mức độ chuyên
Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước.
Việc các công chức liên quan tán thành chính sách sở hữu, và Đại hội đồng
cổ đông, Hội đồng Quản trị và lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp nhà nước tán
thành các tuyên bố về mục tiêu của doanh nghiệp cũng rất quan trọng.
2.2.2.2. Quyền tự chủ hoạt động hoàn toàn của doanh nghiệp
Chính phủ không cần tham gia vào công việc quản lý hàng ngày của doanh
nghiệp nhà nước và phải cho phép các doanh nghiệp quyền tự chủ hoạt động hoàn
toàn để đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Phương tiện căn bản để thực hiện chức năng sở hữu nhà nước tích cự và có
hiểu biết là chiến lược sở hữu rõ ràng và nhất quán, quy trình đề cử Hội đồng
Quản trị chặt chẽ và có tổ chức, và thực hiện hiệu quả các quyền sở hữu đã được
xác lập. Cần tránh tham gia vào công việc quản lý hàng ngày của doanh nghiệp
nhà nước.
Khả năng cơ quan chủ quản hay chính phủ dùng quyền sở hữu để chỉ đạo
doanh nghiệp hoặc Hội đồng Quản trị của doanh nghiệp nhà nước cần phải hạn
chế trong khuôn khổ các vấn đề có tính chính sách và chiến lược. Cần công bố
công khai và xác định rõ những lĩnh vực nào và với loại quyết định gì thì chính
phủ hay cơ quan điều phối có thẩm quyền chỉ đạo doanh nghiệp nhà nước.
Tương tự như vậy, cũng cần hạn chế nghiêm ngặt bất cứ cơ quan chính phủ
nào khác can thiệp vào công việc quản lý hàng ngày của doanh nghiệp nhà nước.
2.2.2.3. Trách nhiệm của nhà nước và sự tôn trọng quyền tự chủ đối với các doanh
nghiệp
Nhà nước cần cho phép Hội đồng Quản trị của doanh nghiệp nhà nước thực
hiện trách nhiệm của mình và tôn trọng quyền tự chủ của họ.
23
Khi đề cử và bầu chọn thành viên Hội đồng Quản trị, cơ quan sở hữu phải
đảm bảo để Hội đồng Quản trị của doanh nghiệp nhà nước thực hiện trách nhiệm
của mình một cách chuyên nghiệp và độc lập.
Tính độc lập đòi hỏi tất cả thành viên Hội đồng Quản trị thực hiện nhiệm vụ
của mình một cách vô tư, tôn trọng lợi ích của tất cả mọi cổ đông. Điều này có
24
các chức năng sở hữu và các hoạt động khác của nhà nước, đặc biệt là điều tiết thị
trường và chính sách phát triển ngành.
Nếu chức năng sở hữu không được tập trung hóa thì yêu cầu tối thiểu là
thành lập một cơ quan điều phối vững mạnh trong số các cơ quan hành chính có
liên quan. Việc này giúp đảm bảo mỗi doanh nghiệp nhà nước có một nhiệm vụ rõ
ràng và được hướng dẫn cụ thể, nhất quán về mặt chỉ đạo chiến lược hay yêu cầu
báo cáo.
Tập trung hóa chức năng sở hữu vào một cơ quan duy nhất là phù hợp nhất đối với
các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong các ngành nghề tự do cạnh tranh.
2.2.2.5. Xác định mối quan hệ giữa cơ quan điều phối và các cơ quan chính phủ
Cơ quan điều phối hoặc sở hữu phải chịu trách nhiệm trước các cơ quan dân
cử như Quốc hội và phải xác định rõ ràng mối quan hệ với các cơ quan nhà nước
liên quan, kể cả cơ quan kiểm toán tối cao của nhà nước. Một số cơ quan chính
phủ, Bộ hoặc cơ quan hành chính có vai trò khác nhau đối với cùng một doanh
nghiệp nhà nước. Để tăng cường lòng tin của công chúng vào cách thức nhà nước
quản lý quyền sở hữu doanh nghiệp nhà nước thì việc làm rõ và giải thích các vai
trò khác nhau này cho công chúng là rất quan trọng.
Đặc biệt, cơ quan sở hữu phải duy trì hợp tác và đối thoại thường xuyên với
tổ chức kiểm toán tối cao của nhà nước chịu trách nhiệm kiểm toán doanh nghiệp
nhà nước. Cơ quan này phải ủng hộ công việc của tổ chức kiểm toán của nhà nước
và tiến hành các biện pháp phản hồi thích hợp với các kết quả kiểm toán, tuân theo
Tuyên bố Lima về các Hướng dẫn Quy tắc Kiểm toán của INTOSAI.
Cơ quan điều phối hoặc sở hữu doanh nghiệp nhà nước phải chịu trách
nhiệm về phương thức thực hiện chức năng sở hữu nhà nước của mình. Cơ quan
này có trách nhiệm giải trình, trực tiếp hoặc gián tiếp, đối với các cơ quan đại diện
cho lợi ích của dân chúng như Quốc hội. Trách nhiệm giải trình của cơ quan này
đối với cơ quan lập pháp cũng như trách nhiệm của bản thân doanh nghiệp nhà
nước cần được định rõ, và trách nhiệm này không được giảm bớt do mối quan hệ
báo cáo trung gian.