Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1Lý do chọn đề tài.
Trong những năm vừa qua, với nhiều biến động kinh tế trên thế giới và khu vực. Cuộc
khủng hoản tài chính thế giới ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế các nước trên thế giới, và
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước ta.Tác động đến sự tăng trưởng và phát triến của các
ngành sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước. Thủy sản là một trong
những ngành chịu ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn trước những biến động của nền kinh
tế Thế giới.Thủy sản lại là một trong những mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam
bên cạnh lúa gạo, rau quả.
Với một thế giới đang ngày càng thay đổi nhanh chóng như ngày nay, cùng với các biến
động khó lường buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại lâu dài phải có tầm nhìn xa, trông
rộng. Nhìn về phía trước, dự đoán tương lai và có những kế hoạch phòng bị để đạt được
mục tiêu chung của tổ chức, đó chính là công việc của hoạch định. Hay nói cụ thể hơn,
hoạch định tài chính sẽ giúp các công ty có được những kế hoạch sẵn sàng cho tương lai,
kể cả ngắn hạn lẫn dài hạn, điều này giúp cho công ty phát triển lâu dài và tránh đi những
sai lầm không cần thiết
Hoạch định tài chính gồm có ngắn hạn và dài hạn. Trong đó, hoạch định tài chính dài hạn
liên quan đến kế hoạch đầu tư và tài trợ trong thời gian từ 3 đến 5 năm. Và kế hoạch này
không những giúp công ty đầu tư và gia tăng tài sản mà còn quyết định nguồn vốn nào
cần tài trợ cho tài sản đó. Ngoài ra kế hoạch tài chính giúp các doanh nghiệp thiết lập
những mục tiêu của mình.
Kế hoạch tài chính rất cần thiết với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay vì vậy tôi
quyết định chọn đề tài “Lập kế hoạch tài chính dài hạn tại công ty Thủy sản Nam Việt”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Thông qua các báo cáo tài chính của công ty Thủy sản Nam Việt từ năm 2007 – 2009 để:
Lập dự báo về doanh thu. Dự toán chi phí. Dự báo về nhu cầu vốn kinh doanh của
doanh nghiệp
Từ đó làm cơ sở để lập kế hoạch tài chính từ năm 2010 – 2012 cho công ty cổ
phần Nam Việt.
1.3Phương pháp nghiên cứu.
khoán, giảm giá chứng khoán đã trích năm trước nhưng không sử dụng hết…
Thu nhập từ các hoạt động khác: Các khoản thu nhập khác là các khoản thu từ các
hoạt động xảy ra không thường xuyên ngoài các khoản thu đã được quy định ở điểm như
trên như: thu từ bán vật tư, hàng hóa, tài sản dôi thừa, công cụ dụng cụ phân bổ hết giá
trị…và các khoản thu bất thường khác.
2.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu
Chất lượng hàng hóa: đây là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh thu. Chất lượng hàng hóa kém sẽ khó bán hoặc bán với giá thấp làm doanh thu
không cao, đặc biệt ảnh hưởng đến uy tín của công ty.
Giá sản phẩm:việc đánh giá thấp sẽ thu hút được khách hàng, tăng sức cạnh tranh,
tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Tuy nhiên, nó phải đủ để trang trải chi phí phát sinh
và có được lợi nhuận mong muốn.
Vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật: khi qui mô công ty mở rộng thì công ty cần đầu tư cơ
sở vật chất kĩ thuật, máy móc thiết bị hiện đại đảm bảo cung cấp hàng hóa nhiều hơn,
chất lượng hơn.
Nhân tố con người: là trình độ quản lý kinh doanh, khả năng tiếp thị sản phẩm và
am hiều thị trường, kinh nghiệm thực tiễn tích luỹ…
Nhân tố khác: doanh nghiệp muốn kinh doanh có hiệu quả thì cẩn theo dõi, nắm
bắt những thông tin về cơ cấu thị trường, chủ trương kế hoạch của nhà nước để kịp thời
đưa ra các biện pháp, định hướng đúng đắn cho việc kinh doanh của mình.
2.2 Chi phí
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 2
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sản xuất và lưu thông
hàng hóa. Đó là những hao phí lao động xã hội được biểu hiện bằng tiền trong quá trình
hoạt động kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tất cả chi phí phát sinh gắn liền với
doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động tù khâu mua nguyên vật
liệu, tạo ra sản phẩm đến khi tiêu thụ nó.
Theo tính chất hoạt động kinh doanh
Theo quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/12/2000 và thông tư 89/2002/TT-
phòng…
Chi phí hoạt động tài chính: là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh
nghiệp, nhằm mục đích sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm: chi phí liên
ngành, liên kết các khoản chi phí phát sinh trong các hoạt động liên doanh, liên kết, chi
phí mua trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu kể cả các khoản tổn thất trong đầu tư nếu có.
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 3
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
2.3 Lợi nhuận
2.3.1 Khái niệm
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn
hàng bán, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Nói cách khác, lợi nhuận là khoản
tiền dôi ra giữa tổng thu và tổng chi trong hoạt động kinh doanh hoặc có thể hiểu là phần
dôi ra của một hoạt động sau khi đã trừ mọi chi phí của hoạt động đó.
Công thức:
LN = DTT – ( ZSXTT + CPBH + CPQLDN )
LN : tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
DTT : Doanh thu thuần
ZSXTT : giá thành sản xuất sản phẩm
CPBH : chi phí bán hàng
CPQLDN : chi phí quản lý doanh nghiệp
Hiện nay theo quyết định 167/2000QĐ-BTC và thông tư 89/2002/TT-BTC ngày
9/12/2002 của Bộ tài chính thì lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm:
Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh : gồm 2 phần
Lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ: đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm ( bao gồm giá vốn hàng
hóa, chi phí bán hàng, và chi phí quản lý doanh nghiệp)
Lợi nhuận này thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng mức lợi nhuận của
doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp thực hiện tích lũy cho tái
sản xuất kinh doanh mở rộng. Đồng thời, cũng là điều kiện tiền đề lập ra các quỹ của
- Công ty tăng trách nhiệm tài chính nếu so sánh hai thời kỳ liên tiếp.
- Các chi phí khấu hao được liệt kê trong báo cáo thu nhập của năm gần nhất.
- Công ty bán cổ phiếu.
- Công ty có mức thu nhập ròng từ kỳ trước đó.
- Sử dụng các khoản vốn diễn ra khi:
- Công ty tăng tài sản nếu so sánh hai thời kỳ liên tiếp.
- Công ty thực hiện trả nợ giảm các nghĩa vụ tài chính.
- Công ty phát sinh thua lỗ trong thời kỳ trước đó.
- Công ty chi trả cổ tức tiền mặt.
- Công ty mua lại hoặc thu hồi cổ phiếu.
Việc phân tích các nguồn vốn và việc sử dụng vốn có thể giúp các nhà quản lý tài chính
xác định xem liệu việc công ty huy động và phân phối các khoản vốn có rơi vào tình
trạng mất cân bằng hay không. Hoạt động này cho phép công ty biết nên dựa vào các
nguồn vốn nội bộ hay huy động các nguồn vốn bên ngoài để tài trợ việc kinh doanh của
mình.
2.5 Khái quát tình hình nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh qua
phân tích Bảng cân đối kế toán.
2.5.1 Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn.
Phân tích tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá sự thay đổi
các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán về nguồn vốn và cách thức
sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào công việc cụ thể. Sự thay đổi của các tài khoản
trên Bảng cân đối kế toán từ kỳ trước tới kỳ này cho ta biết nguồn vốn và sử dụng vốn.
Để xác định tình hình tăng giảm nguồn vốn trong doanh nghiệp người ta thường sử dụng
các nguyên tắc sau:
- Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử dụng
vốn.
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 5
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
- Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cột nguồn vốn.
- Nguồn vốn và sử dụng vốn phẩi cân đối với nhau.
hạn.
Khả năng đáp ứng ngiã vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và
khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của doanh nghiệp phị thuộc phần lớn vào vốn lưu
động nói chung và vốn lưu động ròng nói riêng. Do vậy, sự phát triển còn được thể hiện ở
sự tăng trưởng vốn lưu động ròng.
2.6 Chi phí sử dụng vốn
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 6
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
2.6.1 Khái niệm
Chi phí sử dụng vốn là giá mà doanh nghiệp phải trả cho việc sử dụng một nguồn vốn
nào đó để tài trợ cho quyết định đầu tư.
2.6.2 Các loại chi phí sử dụng vốn
2.6.2.1 Chi phí sử dụng nợ:
- Chi phí sử dụng nợ vay của ngân hàng : là lãi suất tiền vay do ngân hàng ấn định.
- Chi phí sử dụng vốn vay do phát hành trái phiếu.
- Chi phí sử dụng vốn vay do phát hành trái phiếu không trả lãi định kỳ:
Trong đó:
FVn: giá trị danh nghĩa của trái phiếu.
PV: giá trị gốc của trái phiếu.
n: thời hạn của trái phiếu
Chi phí sử dụng vốn vay do phát hành trái phiếu trả lãi định kỳ: để xác định chi phí sử
dụng vốn của trái phiếu này, ta sử dụng phương pháp thử thay thế các giá trị khác nhau
của r
D
ta có thể áp dụng công thức sau để có được giá trị thử ban đầu của r
D
FVn - PV
CF+
n
r
Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường do lợi nhuận giữ lại (r
E
)
D
1
r
e
= +
P
0
D
1
: lợi tức phần năm thứ I
P
0
: giá hiện tại của cổ phiếu
g: tốc độ tăng trưởng lợi tức
Chi phí sử dụng vốn cổ phần thường do phát hành cổ phiếu mới (r
ne
):
D
1
r
ne
= + g
P
0
(1-T)
T: tỷ lệ cổ phiếu phát hành
2.7 Báo cáo tài chính doanh nghiệp.
mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị, nhà xưởng và nhu cầu
nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu. Nhà quản trị phải dự tính được chính
xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kế hoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân
quỹ từ lợi nhuận không chia không đủ đáp ứng. Có 2 nguồn vốn trang trải cho nhu cầu
vốn để tăng trưởng là: lợi nhuận và vay nợ.
Nếu công ty không có đủ vốn để tài trợ cho chương trình mở rộng công việc kinh
doanh thông qua tăng tồn kho, đổi mới trang thiết bị và tài sản cố định và tăng chi phí
điều hành công ty thì sự phát triển của công ty sẽ bị chậm lại hoặc dừng lại hẳn do công
ty không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
2.8.3 Nội dung lập kế hoạch tài chính
2.8.3.1. Kế hoạch tài chính tập trung
Nhiều chỉ tiêu vốn của doanh nghiệp do các giám đốc tài chính đề nghị. Nhưng
các chiến lược chi tiêu cũng phản ánh các kế hoạch chiến lược do ban điều hành cấp cao
lập ra. Những kế hoạch chiến lược cố gắng nhận diện các công việc kinh doanh mà doanh
nghiệp có lợi thế cạnh tranh và cần được mở rộng.
Kế hoạch chiến lược liên quan đến lập ngân sách trên quy mô lón. Các chuyên gia
lập kế hoạch tài chính có gắng xem xét tổng đầu tư từ mỗi công việc kinh doanh và tránh
bị sa lầy một cách thật chi tiết.
Nhằm đảm bảo cho tính linh hoạt khi bắt đầu quy trình lập kế hoạch, cấp điều
hành có thể yêu cầu bộ phận đệ trình ba kế hoạch kinh doanh cho 5 năm tới.
2.8.3.2. Kế hoạch tài trợ
Hầu hết các kế hoạch đều chứa một tóm lược của việc tài trợ dự kiến. Phần này
của kế hoạch sẽ xem xét một cách logic cuộc thảo luận về chính sách cổ tức, bởi vì doanh
nghiệp chi ra càng nhiều, càng cần tìm ra nhiều nguồn vốn khác hơn là lợi nhuận giữ lại.
Một doanh nghiệp có đầu tư hạn chế, dư thừa dòng tiền hoạt động, và một chính
sách lợi tức cổ phần trung bình tích luỹ được một “ưu thế tài chính” đáng kể dưới hình
thức tài sản thanh toán và khả năng vay không sử dụng đến. Cuộc sống tương đối dễ chịu
cho giám đốc của các doanh nghiệp này, và kế hoạch tài trợ chỉ là thể thức thông thường.
Còn sự dễ chịu này có lợi cho các cổ đông hay không lại là một vấn đề khác.
2.8.4 Yêu cầu để việc lập kế hoạch tài chính hiệu quả
Các nhà hoạch định tài chính thường gặp những vấn đề không thể giải quyết được
và đối phó với các vấn đề này một cách tốt nhất có thể được theo phán đốn của mình. Thí
dụ như chính sách cổ tức, các giám đốc tài chính phải quyết định vấn đề này tuỳ theo
từng hồn cảnh cụ thể.
2.8.4.3. Kế hoạch tài chính phải linh hoạt
Kế hoạch tài chính dài hạn cũng được sử dụng như tiêu chuẩn để đánh giá thành quả sau
này. Nhưng việc đánh giá trở nên có giá trị hơn nếu nó được đặt trong từng hoàn cảnh cụ
thể. Chẳng hạn những kết quả đạt được đã diễn ra trong suất thời kỳ suy thoái, do đó phải
có một tiêu chuẩn để đánh giá thành quả đạt được trong suất thời kỳ suy thoái đó.
2.8.5 Vay trò, tầm quan trọng của kế hoạch tài chính.
Kế hoạch tài chính là một kế hoạch quan trọng, giúp Ban giám đốc dự trừ các nguồn tiền
trong hoạt động.
Xây dựng kế hoạch tài chính và thực hiện đúng sẽ giúp doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu
quả: không dư thừa tiền, cũng không thiếu vốn cho hoạt động kinh doanh.
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 10
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
3.1 Phương pháp dự báo doanh thu.
Có nhiều phương pháp dự báo doanh thu như:
- Phương pháp bình quân di động
- Phương pháp trung bình động có trọng số
- Phương pháp san bằng hệ số mũ đơn giản
- Phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh theo xu hướng
- Phương pháp dự báo Brown
- Phương pháp Holt
Trong đề tài này phương pháp chủ yếu được dùng để dự báo doanh thu là phương pháp
Holt. Nhằm tăng tính linh hoạt trong dự báo, phương pháp Holt chỉ sử dụng hai tham số
là α và γ; với α xác lập mật độ của các dữ liệu, và γ để xác lập độ dốc của đường khuynh
hướng.
Các công thức dự báo bước m được thiết lập như sau:
phương pháp chi tiêu kế hoạch và phương pháp kết hợp.
- Phương pháp tỷ lệ phần trăm doanh thu là một phương pháp khá đơn giản. Dựa
trên giả thuyết cho rằng tất cả các chi phí thành phần sẽ dựa trên sự ổn định trong doanh
số bán tương lai, không thay đổi so với tỷ lệ của chúng trong quá khứ. Các số liệu quá
khứ được sủa dụng là tỷ lệ trung bình của những năm gần nhất.
Chi phí khả biến, hầu hết các thành phần cấu thành tài sản lưu động và nợ ngắn
hạn điều chịu sự tác động trực tiếp từ sự biến động của doanh thu, tất nhiên không phải
tất cả các khoản mục trong báo cáo tài chinh điều chịu ảnh hưởng này, và một vài dự báo
cần tính độc lập
Trước tiên ta chon các khoản mục có khả năng thay đổi với doanh thu thuần và
sản lượng tiêu thụ.
Các khoản mục bên tài sản như: Tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho,….
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 11
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
Các khoản mục bên nguồn vốn: Phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước
Sau khi lựa chọn các khoản mục, để dự đoán nhu cầu tài chính của kỳ tiếp theo, cần tính
tỷ lệ của các khoản mục này ở cuối năm so với tổng số doanh thu thuần và tiêu thụ trong
năm. Từ đó tính ra lượng vốn cần thiết phải bổ sung hay dôi ra tính trên một đồng doanh
thu thuần dự kiến tăng thêm. Trên cơ sở đó ước tính lượng vốn cần thiết mà doanh nghiệp
tự trang trải hay tìm cách huy động từ bên ngoài.
- Phương pháp chi tiêu kế hoạch: Phương pháp phần trăm doanh số khá đơn giản
nhưng kém linh hoạt và nó được xây dựng dựa trên những số liệu quá khứ. Còn phương
pháp chi tiêu kế hoạch được xây dựng dựa trên những thông tin liên quan đến thời kỳ
tương lai mà doanh nghiệp sẽ xây dựng báo cáo dự kiến cho nó. Tính hợp lý của phương
pháp này là tỷ lệ các khoản mục được kỳ vọng sẽ có thay đổi so với quá khứ.
Cả hai phương pháp trên đều có những điểm thuận lợi và bất lợi riêng, vì trong
báo cáo tài chính có một số khoản mục có xu hướng tăng tỷ lệ thuận với doanh số, việc
dự toán chi tiêu cho chúng là không cần thiết và đôi khi kém chính xác do các yếu tố chủ
quan. Và cũng có những khoản mục trong Báo Cáo Tài Chính không tăng tỷ lệ thuận với
doanh số nên khi sử dụng phương pháp phần trăm doanh số sẽ không chính xác. Do đó
- Sản xuất dầu Bio-diesel;
- Chế biến dầu cá và bột cá;
- Sản xuất keo Genlatine và Gryxerin;
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 13
Hoạch định tài chính dài hạn tại Công ty Cổ phần Nam việt
4.3 Bộ máy tổ chức.
4.3.1 Cơ cấu tổ chức
SVTH: Nguyễn Văn Phụng Trang 14
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
GIÁM ĐỐC KỸ
THUẬT
GIÁM ĐỐC
XUẤT KHẨU
GIÁM ĐỐC TÀI
CHÍNH
GIÁM ĐỐC CƠ
KHÍ ,CƠ ĐIỆN
-XD
GIÁM ĐỐC
NHÂN SỰ
PHÒNG KỸ
THUẬT
PHÒNG XUẤT
NHẬP KHẨU
PHÒNG KẾ TOÁN
PHÒNG TÀI