LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô Phan Thị Tâm Thanh người đã tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp.
Xin cảm ơn quý thầy cô trong khoa Sư phạm và những bạn bè đã tạo điều
kiện, giúp đỡ động viên tôi để tôi thực hiện tốt chuyên đề này. Là công trình
nghiên cứu đầu tay nên không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong nhận được
sự cảm thông và góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Đắk lắk, ngày…tháng…năm 2015
Người thực hiện
Triệu Thị Thương
i
MỤC LỤC
ii
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Phong trào Thơ mới xuất hiện 1932-1945, một mặt đáp ứng được sự thay
đổi của thi ca trong hành trình đi lên của nó, mặt khác lại là mảnh đất để các nhà
thơ có thể làm mới mình, bộc lộ tiếng nói của chính mình. Phong trào Thơ mới
đã làm xuất hiện nhiều nhà thơ với những tư tưởng mới như Xuân Diệu, Hàn
Mặc Tử, Thế Lữ, Huy Cận…, trong số đó, Lưu Trọng Lư là người đã đóng
không nhỏ cho diện mạo của Thơ mới, thành tựu thơ ông để lại ấn tượng khá
đậm nét trong lòng độc giả.
Trong chặng đường sáng tác khá dài trên 50 năm, Lưu Trọng Lư đã để lại
nhiều tác phẩm thực sự có giá trị. Ông sáng tác ở nhiều thể loại: tiểu thuyết,
truyện, kịch thơ, kí sự,… Ở lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp mang
dấu ấn riêng nhưng lại nổi tiếng với danh hiệu nhà thơ. Giữ vai trò là nhà thơ
tiên phong trong phong trào Thơ mới nhưng chất thơ của ông không “tây” như
Xuân Diệu, không “sầu vạn cổ” như Huy Cận, không “điên cuồng” như Hàn
Mặc Tử mà có sự đan quyện giữa cổ điển và hiện đại, phương đông và phương
Ngay từ khi mới xuất hiện, sáng tác của Lưu Trọng Lư đã gây được sự
chú ý của rất nhiều người và trở thành đối tượng của nghiên cứu, phê bình lí
luận. Mỗi công trình nghiên cứu có một cách nhìn nhận đánh giá riêng về sáng
tác của Lưu Trọng Lư và ít nhiều đã đề cập đến những ảnh hưởng của thi pháp
thơ Đường đối với sáng tác của Lưu Trọng Lư.
Bóng dáng thơ Đường đã tồn tại một cách đường hoàng trong phong trào
Thơ mới (1932-1945). Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – nhà lí luận phê
bình xuất sắc của thời đại đã viết: “huống chi trong hàng thanh niên chịu ảnh
hưởng thơ văn Pháp, nhiều người lại quay về thơ Đường. Thanh thế thơ Đường
ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn nhưng vì cái học khoa cử, những bài viết
kiệt tác ngâm đi giảng lại thành vô nghĩa. Nó chỉ còn là những cái máy để đúc ra
hàng vạn bài thơ dở. Đến khi khoa cử bỏ, chữ nho không còn là đường tiến thân
song thiếu niên tây học vẫn có người xem sách nho họ chỉ cốt tìm nguồn sống
tinh thần, họ đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mát mẻ, có điều
kiện cần thiết dễ hiểu thơ. Cho nên dầu dốt nát, dầu nghĩa câu nghĩa chữ lắm khi
họ rất mờ họ đã hiểu thơ đường hơn nhiều khoa tây bảng”. [ 1, tr.38-39]. “hồn
thơ đường vắng đã lâu nay trở về trong thơ việt”- Thi nhân Việt Nam [ 1, tr.39]
Ngô Văn Phú trong thơ Đường ở Việt Nam đã khẳng định sự có mặt của
thơ Đường ở Việt Nam. Qua việc đề cập đến ảnh hưởng của thơ Đường đối với
Hồ Chí Minh, các nhà Thơ mới, tác giả kết luận: thơ Đường vẫn không thể thiếu
được trong món ăn tinh thần của các nhà thơ từng “tuyên chiến” với nó.
Quách Tấn với Thi pháp thơ Đường đã cho ta thấy được cách tiếp cận cũng
như sức tác động về bề rộng lẫn bề sâu của thơ Đường là khá lớn ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Đặc biệt ở Việt Nam, thơ Đường đã đi sâu vào trong tâm thức
văn hóa Việt Nam.
Dấu ấn thơ Đường còn bàng bạc trong các sáng tác của một số nhà thơ
trong phong trào thơ mới như: Tràng giang của Huy Cận, Tống biệt hành của
Thâm Tâm, Đây thôn Vĩ Dạ, Một nửa trăng của Hàn Mặc Tử,…
3
- “Hợp tuyển văn học Châu Á”, tập 1, Lưu Đức Trung chủ biên, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm sáng tác của một số nhà thơ mới
khác để có căn cứ làm sáng tỏ hơn ảnh hưởng của thơ Đường trong thơ Lưu
Trọng Lư.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của thơ Đường trong thơ Lưu Trọng Lư
- Nguyên nhân của sự ảnh hưởng
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp tiếp cận thi pháp học: đây là phương pháp giúp chúng tôi đi
sâu vào các tác phẩm để thấy được dấu ấn thơ Đường trong sáng tác của Lưu
Trọng Lư ở phương diện hình thức.
5
Phương pháp so sánh, đối chiếu: để có cái nhìn so sánh ảnh hưởng của thơ
Đường đối với Lưu Trọng Lư và một số nhà thơ Mới khác.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: để phân tích luận điểm, luận cứ nhằm
làm sáng tỏ vấn đề, trên cơ sở đó tổng hợp, khái quát để đưa ra kết luận, đánh
giá.
Ngoài phần đặt vấn đề, tổng quan/cơ sở lí luận, nội dung và phương pháp
nghiên cứu, dự kiến kết quả và tài kiệu tham khảo, chuyên đề gồm 2 chương:
6
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương 1: KHÁI QUÁT THƠ ĐƯỜNG VÀ CÁC CHẶNG
ĐƯỜNG THƠ LƯU TRỌNG LƯ
1.1. Khái quát thơ Đường
1.1.1 Khái niệm Đường thi
Khái niệm Đường thi có từ thời Đường (618- 907) – một triều đại được coi
là có nhiều chính sách tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Khái
đặc trưng của thơ Đường, trong khi đó người Việt Nam quen tiếp thu và làm
theo thơ Đường luật.
1.1.2 Một số đặc điểm về thể loại
Thơ Đường luật ra đời trên cơ sở những tiền đề về kinh tế, tư tưởng và văn
học. Có thể nói chính sự phát triển về kinh tế, sự tự do về học thuật tôn giáo và
sự vận động không ngừng của hệ thống văn chương đã đem đến sự cường thịnh
của văn học đời Đường. Hơn nữa triều Đường đã chú trọng phát triển chế độ
khoa cử, quy định lấy thơ phú để chọn kẻ sĩ. Vì thế, nho sĩ bồi bổ tài văn
chương, sáng tác thơ văn đủ niêm luật để ứng thí. Ngoài ra, thời kì này phong
trào dịch thuật kinh phật rất phát triển, các nhà dịch thuật dùng ngôn ngữ bạch
thoại đương thời để dịch kinh phật từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Trung Quốc, làm
cho hệ thống ngôn ngữ phong phú đầy đủ hơn. Sự giàu có về ngôn ngữ đủ sức
diễn đạt những ý vị sâu sa và những cấu tứ lạ lẫm trong thơ Đường.
Phong cốt và hứng kí là hai khái niệm dùng để diễn đạt đặc trưng về nội
dung của thơ Đường luật. Phong cốt thơ Đường lấy cứng cỏi mạnh mẽ của Hán
Nguỵ, bỏ đi phong kí suy đồi đồi thời Lục triều. Có người nhận xét phong cốt
của Đường thi là “tinh thần lạc quan sẵn có của người đời Đường kết hợp với
tính cách anh hùng trong văn học Kiến An và truyền thống tinh thần lí tưởng từ
Khuất Nguyên trở đi”. Hứng kí nghĩa là tỉ hứng kí thác, thủ pháp của thi nhân
dùng tỉ hứng để kí thác hoài bão chính trị của mình (gọi tắt là tỉ hứng). Hứng kí
thơ đường đã tiếp thu và thể hiện quan niệm “mỹ thích tỉ hứng” của truyền
thống, coi trọng tác dụng phản ánh hiện thực cuộc sống, đặc biệt là nêu lên nỗi
khổ và cách giải thoát u phẫn trong lòng nhân dân. Tuy nhiên có sự đổi mới về
phương thức thể hiện, vận dụng thủ pháp “trực trần kì sự” của thể phú nên lời
thơ cứng cỏi sắc bén.
8
Thanh điệu và từ chương là yếu tố cấu thành về hình thức của Đường thi.
Thanh luật đường thi là sự kế thừa và phát triển hệ thống thanh luật của thơ ca
thời Tề Lương. Theo những ghi chép trong “Thơ ca bát bệnh” của Thẩm Ước ta
thấy thơ ca thời Tề Lương chia thanh điệu thành 4 loại “bình, thượng, tứ, thập”,
thơ uyển chuyển mà thôi. Loại thơ này có khả năng phản ánh hiện thực phức tạp
đầy biến động hoặc biểu hiện nhiều sắc thái tình cảm rất phong phú và mạnh
mẽ, chẳng hạn trọng “Hành lộ nan”, Lý Bạch đã viết:
“hành lộ nan, hành lộ nan
Đa lỳ lộ kim an tại”.
ở đây, sự băn khoăn, day dứt của thi tiên Lý Bạch giữa lẽ xuất xử và con
đường muốn về ở ẩn của mình. Dường như qua cách ngắt nhịp 3/3 của loại thơ
này người ta càng thấy rõ hơn sự bức bối, giằng xé trong nội tâm ông rất trực
quan, mạnh mẽ…hai sắc thái đan xen cùng nhau mà cứ thế phân vân chọn lựa.
1.1.2.2.Thể tuyệt cú (tứ tuyệt)
Là loại thơ được xem là ngắn nhất của Trung Quốc với đặc trưng là “dĩ
thiểu kiến đa” rất hàm súc, cô đọng.
Thơ chỉ mang một nét, nhưng một nét có hồn, chỉ trong một khoảnh khắc
tự nhiên nào đó thôi mà tâm hồn của con người, của thi nhân được thăng hoa
gần như tuyệt đối. Đồng thời thơ ở đây cũng chính là hạt tiêu, hạt nhân nghệ
thuật trong cấu trúc nhỏ, gọn mà sức vang vọng và ám ảnh lại vô cùng lớn.
1.1.2.3.Luật thi
Luật thi quy định về số chữ trong một câu, số dòng trong toàn bài. Thơ
Đường luật có các dạng chuẩn “thất ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu bảy chữ), và
có các biến thể như “thất ngôn tứ tuyệt” (mỗi câu bảy chữ), “ngũ ngôn tứ tuyệt”
(bỗn câu, mỗi câu năm chữ), “ngũ ngôn bát cú” (tám câu. Mỗi câu năm chữ)
cũng như các dạng ít phổ biến khác, “thơ bài luật” là một dạng kéo dài của
đường luật, trong đó sự đối ngẫu có trong 6 câu trở lên, cả bài gồm 10 câu trở lên,
theo tập quán, thường lấy số vần chẵn chục…cho nên thường chia rõ ràng bằng các
chữ thập vận, nhị thập vận.
Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 6 điểm: vần, niêm, luật, đối, kết cấu, tiết tấu.
Luật thơ Đường gắn với triết lý âm dương của người phương Đông. Có thể
xem bài thơ Đường như một hệ thống nghệ thuật mà mọi yếu tố đều vận hành
10
trên nguyên lí kết hợp, đan xen, đắp đổi, chuyển hoá lẫn nhau…giữa âm và
tại cuối các câu 1,2,4,6 và 8. Những câu này được gọi là “vần với nhau”. Nếu
một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về
11
vần thì được gọi là “thất vần”. Trong một bài thơ nếu câu đầu tiên gieo vần thì
gọi là “thủ cú nhập vận”, và ngược lại gọi là “thủ cú bất nhập vận”. Bài thơ từ
đầu đến cuối gieo một vận gọi là “độc vận” những chữ có vần giống nhau hoàn
toàn gọi là “vần chính”, những chữ có vần giống nhau gọi là “vần thông”. Hầu
hết thơ Đường dùng vần thanh bằng nhưng cũng có các ngoại lệ.
Đây chính là loại thơ mà cấu tứ dựa trên các mối quan hệ đối lập mà đồng
nhất giữa các sự vật, hiện tượng thông qua một ngôn ngữ hàm súc, gợi mở với
những từ đắc, nhãn tự, ta thường gọi là “ý tại ngôn ngoại”. Mặt khác, thể thơ
này tuy chặt chẽ về cách luật để mang tính gò bó, nhưng lại có ưu điểm là cấu
trúc nội tại cấu đối, âm điệu hài hoà, phù hợp với nhu cầu thể hiện tình cảm nội
tại, sâu lắng, trầm tư.
Có rất nhiều mối quan hệ đã được các nhà thơ tạo dựng: con người và con
người trong tất cả các mối quan hệ chằng chịt, con người và thiên nhiên, cảnh và
tình, quá khứ và hiện tại, không gian và thời gian… đọc thơ Đường ta phải phát
hiện ra các mối quan hệ ấy và lí giải ý nghĩa của chúng. Có thể nói rằng, quan hệ
đồng nhất giữa các mặt đối lập trong thơ Đường, các hiện tượng mà cảm quan
thông thường cho là mâu thuẫn là hoàn toàn hợp lí với tư tưởng của người
phương Đông. Thường tạo nên những bài thơ câu thơ hay nhất trong thơ Đường.
Đối với thơ Đường, nhà thơ luôn chú ý đến những vấn đề khi sáng tác như:
đề tài sáng tác, không gian trong thơ, thi liệu và tứ thơ nên bài thơ luôn mang
tính chặt chẽ, thể hiện ý thơ mà không để lộ chủ thể trữ tình trong thơ.
1.2. Sơ lược các chặng đường thơ Lưu Trọng Lư
1.2.1 Sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Trọng Lư
Hơn 50 năm cầm bút, sáng tác trong hai giai đoạn trước và sau cách mạng.
Lưu Trọng Lư đã tạo nên được một dấu ấn riêng, một phong cách độc đáo và
cho ra đời những tác phẩm thật sự có giá trị. Chính những điều đó đã đưa Lưu
Trọng Lư thành một phong cách độc đáo, không thể nào lẫn với một phong cách
chất. Đó không còn là cái tôi buồn sầu cô đơn luôn đắm trong tình yêu và mộng
tưởng song song với cái tình và cái mộng giờ đây cao đẹp hơn, hùng vĩ hơn và
cũng hiện thực hơn. Không còn là cái tôi cô đơn kín mít mà là cái tôi công dân
13
hoà nhập với cộng đồng. Đó là cái tôi hiện thực vào dân tộc, hướng vào đại
chúng hướng vào những vấn đề của đời sống kháng chiến.
Nếu như ở thơ Lưu Trọng Lư trước cách mạng, tâm thế hướng nội tự biểu
hiện là tâm thế chủ đạo thì ở những thơ sau này như Người con gái sông Gianh,
tâm thế hướng ngoại và cái nhìn hướng ngoại đã trở thành phương thức trữ tình
chủ yếu. Thơ Lưu Trọng Lư lúc này có sự tăng cường chất liệu hiện thực và
hướng về đại chúng. Những sáng tác trong thời gian này ghi lại một bước
chuyển biến của Lưu Trọng Lư đi về hướng đại chúng hướng dân tộc, thơ ông
đạt độ chín trong sự hoà nhập giữa cái tôi và cái ta. Một chủ đề lớn xuyên suốt
và bao trùm thơ Lưu Trọng Lư- chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước. Không
những vậy các bài thơ như Sóng vỗ Cửa Tùng, Tâm sự đôi bờ, Trăng sáng đôi
bờ,…và đến tập Từ đất này, ở đây hồn thơ ông có bước tiến vượt bậc, cái tôi trữ
tình của nhà thơ không còn bó hẹp trong cái riêng tư mà thật sự mở rộng hoà
nhập với cuộc đời chung chan chứa tình người.
Ngoài chủ đề đấu tranh thống nhất, trong Người con gái sông Gianh và một
phần của từ đất này chúng tôi thấy có sự mở rộng đề tài: về bạn bè quốc tế, về
đảng, ca ngợi những đổi thay của cuộc kháng chiến, ở đề tài nào cũng thể hiện
tấm lòng chân thành và yêu mến của tác giả. Đặc biệt trong những bài thơ viết
về Đảng về Bác Hồ, Lưu Trọng Lư bày tỏ tấm lòng kính yêu và biết ơn sâu sắc.
Rõ ràng ở đây đã có sự phong phú hơn, đa dạng hơn trong cảm xúc, trong
cái tôi trữ tình của nhà thơ. Và sau này, về cuối đời ở tuổi bảy mươi nhưng dòng
thơ Lưu Trọng Lư vẫn tiếp tục tuôn chảy với bài thơ Đường Ta đi đấy bạn ơi,
Tội giặc, Điệp khúc biển trời,…tâm hồn của nhà thơ hoà nhập với bước đi của
nhân dân, đất nước ông nhìn sâu vào quá khứ, lịch sử và ca ngợi lòng yêu nước,
trí dũng cảm, hào hùng với những đổi mới của quê hương đất nước. Đặc biệt ở
giai đoạn này thơ Lưu Trọng Lư đã đạt đến độ trầm tĩnh ở mảng thơ tự biểu hiện
Trước hết, nước ta đã từng có một thời kỳ dài chịu sự thống trị của phương
Bắc, nằm trong nền văn minh lớn Trung Hoa, quán tính từ thời “nghìn năm Bắc
thuộc” là theo Hán học và chữ Hán, giáo dục, thi cử đều tham khảo của Trung
Quốc, học để thi một cách thực dụng thì theo đúng công thức “thi thiên, Phú
bách, Văn sách, Năm mươi”… thuộc lòng để bắt chước là đỗ, làm thơ cũng như
là một nét trong tính cách và phẩm chất, năng khiếu của người Việt Nam. Hơn
nữa, ngôn ngữ Hán và Việt đều thuộc loại đơn lập, đơn âm là chính, lại có thanh
điệu lên bổng, xuống trầm giống nhau, thể thơ Đường luật (thơ cách luật) ở
Trung Quốc đến đời Đường coi như đạt mức hoàn chỉnh về nhiều mặt.
Đầu đời Đường (Sơ Đường) thơ cận thể, thơ luật trở thành thể thơ như mọi
người ưu chuộng. Khi đã được đưa vào thi cử, nó càng trở nên có tính chất quan
phương. Tóm lại, đó là một thể thơ quy phạm triệt để theo mỹ học phương Đông
ở Trung Quốc thời đó rồi lan sang nước ta. Nói quy phạm triệt để là số từ, số
câu, số chữ cân đối thanh điệu, cân đối trong đối ngẫu, ở lời, ở ý, đến kết cấu
chặt chẽ: đề, thực, luận, kết nhất nhất có nhiệm vụ riêng,luôn tới đề tài, lập ý,
cấu tứ, chọn lời, tránh những thứ khiếm nhã, những khuyết tật phong yêu, hạc
tất… Hết thảy đều theo những quy tắc cứng rắn, tuyệt đối không được vi phạm.
Đời Đường nổi tiếng là một thời đại thịnh trị, văn hoá, văn minh phát triển cao,
không gian tư duy, tư tưởng mở rộng, trật tự xã hội thanh bình, có thể cũng là
16
nguồn gốc cho mặt thẩm mỹ được quy phạm đến mức đó. Còn như đến lúc nào
về sau, nó trở thành bước cản đường tiến lên thì đó là chuyện khác.
Như vậy, văn học nước ta tiếp nhận thể thơ Đường luật là tất nhiên, không bỏ
chút gì về mọi quy phạm trong đó. Nhất là khi nó được đưa vào thi cử, giáo dục.
Nói đúng hơn, sự tiếp nhận ấy mới là hình thức, mặt cạn của thi pháp, nó còn tiếp
nhận chiều sâu của thi pháp. Chính vì thế mà trải qua các thời kì lịch sử của nước
nhà nền văn học Việt Nam cũng đã thể hiện rất rõ những sự ảnh hưởng này.
Ngay từ thời trung đại, phải nhắc đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương, Bà Huyện Thanh Quan… những thi sĩ kiệt xuất thời kì ấy của đất Việt
đã sử dụng rất nhiều những môtip quen thuộc trong Đường thi. Ví như Vương
Trong vô vàn những bộn bề của cuộc sống hằng ngày, tình yêu luôn gợi
về một cái gì đó rất tinh khiết, nhẹ nhàng. Đó là chuyện muôn thuở mà cũng rất
đỗi riêng tư. Gọi là muôn thuở vì những xúc cảm yêu thương vốn là tình cảm tự
nhiên của con người, riêng tư ở mỗi người, mang những sắc thái riêng không
trộn lẫn. Trước đây đạo đức phong kiến với những quan niệm nghiệt ngã đã kìm
hãm những tình cảm cá nhân, và tình yêu- thứ tình cảm cao quý nhất của con
người cũng chịu chung số phận. Thơ mới đến cái tôi và khát vọng cá nhân của
con người được giải phóng. Tình yêu với muôn vàn vẻ đẹp và cung bậc cảm xúc
đã đến với ta trong những vần thơ tha thiết nhất.
Ta bắt gặp trong thơ của Lý Bạch cũng nói về đề tài tình yêu đôi lứa trong
bài Ý xuân, trong thời điểm ông sống và làm thơ thì sự bó buộc xã hội lúc bấy
giờ khiến các nhà thơ ít nói về đề tài này, vượt lên hoàn cảnh để nói lên tiếng
nói của thời đại, cất cao tiếng hát của con người bằng những tình cảm lớn lao,
nhân sinh. Ông đã chiến thắng sự rối ren, tương lai mờ mịt mà Lý Bạch đã gửi
gắm qua bài thơ này.
18
“Cỏ Yên như sợi tơ xanh
Dâu Tần quấn quýt toả cành xum xuê
Khi chàng nghĩ đến ngày về
Là khi thiếp đã tái tê trong lòng
Gió xuân đâu biết cho cùng
Cớ sao len lỏi vào trong màn là”.
Bài thơ này với ba câu đầu nặng cảnh nhẹ tình, cỏ được đối với dâu, Yên
được đối với Tần. Dâu thì sinh ra tơ thành sợi tơ tình, ông tơ bà nguyệt xe duyên
họ nên được “xum xuê” hạnh phúc, song chiến tranh làm cho đôi lứa chia lìa, kẻ
Yên người Tần. Trong thời buổi rối ren, chàng nơi biên cương khói lửa- thiếp ở
chốn khuê phòng lạnh lẽo, chàng mải mê cung ngựa, thiếp vò võ cô sầu, khi
chàng nghĩ đến ngày về thì cũng là lúc lòng thiếp đã tái tê. Tác giả ước muốn
mượn cái vô hình của gió, để chàng gửi gắm nỗi nhớ thương vào cơn gió ấy mà
còn thể hiện sự chờ đợi, nỗi mong mỏi đến độ lạnh lẽo gần như băng giá nay lại
phương mà là tình yêu song phương đẹp đẽ, ngọt ngào: Tiếng thu nay, Ngò cải
đơm hoa…
Sau cách mạng thơ tình Lưu Trọng Lư đã có sự chuyển biến về chất, vẫn là sự
nhạy cảm chân thành trong tình yêu nhưng lại mang tâm sự lắng sâu hơn. Tình yêu
không xa lìa với bối cảnh và nhịp đập của xã hội đất nước: Tâm sự đôi bờ
Nhìn chung thơ Lưu Trọng Lư là những mạch cảm xúc chân thật. Ông
không che đậy lòng mình cũng không khoa trương thi vị hoá. Thơ ông như
những lời tâm sự thấu hiểu lẽ đời, tình đời khiến nó thấm thía. Đây là đặc điểm
nổi bật làm nên phong cách riêng của thơ Lưu Trọng Lư.
20
2.2.1.2. Tình yêu thiên nhiên, đất nước
Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thơ. Là đối tượng phản ánh, là nơi kí
thác tâm sự hoặc làm nền cho những trạng thái cảm xúc. Vốn là người yêu cái
đẹp nhạy cảm với cái đẹp, luôn đi tìm và chắt chiu từ cái đẹp thanh cao đến cái
đẹp bình dị đời thường. Thiên nhiên trong thơ Lưu Trọng Lư phong phú nhiều
màu sắc. Thơ ông ngập những trời, mây gió, trăng hoa, chim cá… bên cạnh đó
ta cũng bắt gặp thiên nhiên phong phú ấy với những hình ảnh cụ thể, trở đi trở
lại như: mùa thu, sông biển, trăng hoa, gió mây,… chẳng hạn: Tiếng thu, Tình
điên, Chia ly, Mây trắng, Nắng thu về,…
Ngoài hai hình tượng khai thác ở trên, ông còn rất nhiều phát hiện tinh tế
độc đáo. Về một mùa đông bên nhau đã đi qua trong bài thơ Mưa… mưa mãi
“Qua rồi mùa ân ái,
Đàn sáo đã sang sông”.
Mùa xuân về lại cảm nhận trong bài Xuân về:
“Rồi ngày lại ngày
Sắc màu phai
Lá cành rụng”.
Và cả cía nhiệt thành của mùa hạ với Mộng chiều hè
Viết về thiên nhiên, Lưu Trọng Lư còn say mê nồng nàn với sông biển. Đó có
thể là dòng sông quê hương êm đềm ân nghĩa thuỷ chung trong kỉ niệm: Giang
phục: Nhật kí, gái miền Nam, Giải phóng miền Nam… Đánh thắng giặc Mỹ, giải
phóng niềm Nam, thống nhất đất nước. Đó là nỗi lòng nguyện vọng của không
chỉ riêng một người, không chỉ riêng Lưu Trọng Lư mà là nỗi lòng, lòng mong
22
ước thiết tha của cả dân tộc. Lưu Trọng Lư đã nung nấu sống và viết với nỗi
lòng chung ấy.
2.2.1.3. Tình yêu con người
Bên cạnh tình yêu đất nước thì tình yêu con người cũng là một trong những
yếu tố quan trọng mà nhà thơ quan tâm. Với Lưu Trọng Lư cuộc sống của
những con người trong xã hội đảo điên đó mong manh như thân kiếp của cái đẹp
“sống một kiếp vạn người thương”. Thi nhân đã viết về họ bằng niềm thương
cảm mênh mông, vời vợi và sự chia âm nghẹn ngào, da diết như : Giang hồ,
Hoa bên đường, Hồn nghệ sĩ,… và trong nhiều bài khác như: Chị em, Lòng cô
phụ,…Lưu Trọng Lư cũng gửi gắm biết bao ưu tư, tình cảm sâu xa qua những
điều tưởng chừng như thật giản dị nhưng lại đầy niềm thương cảm.
Thơ Lưu Trọng Lư viết về tình yêu con người không chỉ nói tiếng nói đầy
thương cảm. Mà bên cạnh đó, ông còn là người nhạy cảm trước cái đẹp. Ông
muốn miêu tả cuộc sống với lí tưởng đẹp và thường thiên về cái đẹp trong con
người. Vì vậy mà khi đi vào cuộc sống mới, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Lưu trọng Lư thường có xu hướng muốn lướt qua phần hiện thực có phần
gai góc, mà hướng vào khai thác phần nên thơ, những nét duyên dáng ở những
đối tượng tự nó vốn là đẹp. Với những nét đó trong phong cách, thơ Lưu Trọng
Lư viết về con người thường mang vẻ đẹp khoẻ khoắn, sinh động trong tâm hồn.
Chẳng hạn: Tiếng hát thanh niên, O tiếp tế, Ngò cải đơm hoa, Người con gái
sông Gianh,…
Thơ Lưu Trọng Lư giản dị nhỏ nhẹ là vậy. nhưng cũng thấm thật sâu trong
trái tim những người từng trải, những người đã sống, đã yêu. Và đặc biệt tình
yêu đất nước, tình yêu con người đều được thể hiện trong những bài thơ trong
sáng giản dị, chân thành. Đó là cái độc đáo,nét riêng trong thơ Lưu Trọng Lư.
23