Bộ giáo dục v đo tạo Bộ Y tế
Trờng Đại học Y H Nội
YZ
Đm thị tú anh tìm hiểu mối liên quan giữa sự có mặt của
gen core/precore với một số dấu ấn
của hbv trong huyết thanh
luận văn thạc sỹ y học
Chuyên ngành: miễn dịch học
Mã số: 60.72.04 Ngời hớng dẫn khoa học:
11
1.2.1 Cấu trúc của vi rút viêm gan B
11
1.2.2. Sự nhân lên của HBV
13
1.2.3. Các phương thức lây truyền của HBV
14
1.2.3.1. Lây truyền HBV từ mẹ sang con 15
1.2.3.2. Lây HBV qua đường tiêm truyền 15
1.2.3.3. Lây HBV qua đường tình dục 15
1.3. Vai trò của các đoạn gen trong bộ gen của HBV
16
1.4. Các dấu ấn huyết thanh của HBV
17
1.4.1 Kháng nguyên bề mặt của HBV (HBsAg) và anti-HBs
17
1.4.2 Kháng nguyên lõi của HBV (HBcAg) và anti-HBc
18
1.4.3 Kháng nguyên e của HBV (HBeAg) và anti-HBe
19
1.5 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
20
1.5.1 Kỹ thuật PCR
20
1.5.2 Kỹ thuật ELISA
23
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
2.1. Đối tượng nghiên cứu
24
35
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN
38
4.1. Tỷ lệ phát hiện gen Core và gen PreCore ở các phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ có HBsAg(+)
40
4.2. Tỷ lệ phát hiện HBeAg, anti-HBe, anti-HBc, anti-HBs
42
4.3. Mối liên quan giữa sự hiện diện của gen Core, gen PreCore với
bốn dấu ấn trong huyết thanh
47
KẾT LUẬN
53
KIẾN NGHỊ
54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHỮ VIẾT TẮT
Anti- HBs : Antibody against Hepatitis B surface antigen.
( Kháng thể kháng kháng nguyên bề mặt vi rút viêm gan B)
Anti- HBc : Antibody against Hepatitis B core antigen.
( Kháng thể kháng kháng nguyên lõi vi rút viêm gan B)
Anti- HBe : Antibody against Hepatitis B e antigen.
( Kháng thể kháng kháng nguyên e vi rút viêm gan B)
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan B là bệnh gan truyền nhiễm gây ra bởi vi rút viêm gan B
(Hepatitis B Virus). Trong sáu loại vi rút gây viêm gan ( A, B, C, D, E, và
G ), vi rút viêm gan B được đặc biệt quan tâm bởi tính chất lây truyền và
mức độ nguy hiểm của nó. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (World
Health Organization) đến cuối năm 2000, thế giới có hơn 2 tỷ người nhiễm
HBV. Khoảng 400 triệu người mang HBV mạn tính. Hàng năm có hơn
500 000 người mang HBV mạn tính chết vì xơ gan và ung thư gan [44].
Người ta thấy rằng 90% những người mang HBV mạn tính ở các
nước Đông Nam Á là bị lây nhiễm ở thời kỳ chu sinh, đặc biệt là trong
cuộc đẻ [23]. Như vậy, nhiễm HBV ở thời kỳ sơ sinh là rất nguy hiểm, bởi
đại đa số những trẻ này sẽ là người mang HBV mạn tính với nguy cơ tiến
triển thành những bệnh gan mạn tính là rất lớn. Lây nhiễm cho trẻ nhỏ ở
thời kỳ sơ sinh chủ yếu là từ những mẹ có mang HBV, đặc biệt là ở những
mẹ mang HBV mạn tính.
Việt Nam là nước thuộc khu vực có tỷ lệ HBV lưu hành cao. Người
mang HBsAg(+) trong cộng đồng ở Việt Nam chiếm tỷ lệ 11,1% đến
16,8% [1,4,5,12,15,16,18]. Tỷ lệ phụ nữ mang HBV mạn tính cao. Đặc biệt
những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nếu mang cả hai kháng nguyên bề mặt
HBsAg và HBeAg thì khả năng lây truyền HBV cho con của họ tăng lên rõ
rệt.
Phát hiện HBV ở Việt Nam hiện nay phổ biến sử dụng kỹ thuật
ELISA (Enzyme Linked Immunosorbernt Assay). Đây là kỹ thuật phát hiện
kháng nguyên bề mặt (HBsAg) hay kháng nguyên hoà tan (HBeAg) của
phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với hai mục tiêu :
1. Phát hiện gen Core / PreCore ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
mang HBsAg.
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa sự có mặt của gen
Core/PreCore với một số dấu ấn của HBV trong huyết
thanh.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương về bệnh viêm gan B.
1.1.1. Dịch tễ học bệnh viêm gan B.
1.1.1.1. Dịch tễ học bệnh viêm gan B trên thế giới.
Vi rút viêm gan B (HBV - Hepatitis B Virus) là một tác nhân gây
viêm gan rất đa dạng về phương diện dịch tễ. Tỷ lệ mang HBV rất khác
biệt ở những vùng địa lý khác nhau và liên quan đến độ tuổi khi bị nhiễm
HBV [64]. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới đến cuối năm 2000, thế
giới có khoảng 400 triệu người mang HBV, hơn 500 000 trong số đó chết
do các bệnh gan hàng năm [44]. Ở Mỹ tỷ lệ mang HBV mạn tính là 1,25
triệu người [22,53]. Tỷ lệ người mang HBV trên toàn thế giới dao động từ
0,1% đến 20%, khác nhau giữa các châu lục. Căn cứ vào tỷ lệ mang HBV
trong cộng đồng người ta chia thế giới thành ba khu vực với ba mức độ lưu
trong khi ở Châu Phi số người cùng trong nhóm này chỉ có 10% đến 20%.
Những khu vực dịch lưu hành trung bình, sự lan truyền HBV là tương
đương ở các nhóm tuổi. Nhưng người ta cũng thấy hầu hết những lây
nhiễm sớm đều dẫn đến nhiễm HBV mạn tính. Ở những khu vực dịch lưu
hành thấp hầu hết các trường hợp lây nhiễm là do sinh hoạt tình dục không
được bảo vệ hoặc do tiêm truyền khi còn trẻ tuổi.
Thực tế cho thấy tuổi bị nhiễm HBV có ý nghĩa rất quan trọng lien
quan đến các diễn biến lâm sàng sau này của người bệnh [62]. Bởi vì 90%
trẻ bị nhiễm ở giai đoạn sơ sinh, đặc biệt là lúc đẻ sẽ chuyển thành nhiễm
HBV mạn tính. Nếu trẻ bị nhiễm trong giai đoạn từ 1 đến 5 tuổi chỉ 25%
đến 50% chuyển mạn tính. Và chỉ 5% bị chuyển thành mạn tính khi người
bị nhiễm đã ở tuổi trưởng thành [23].
1.1.1.2. Dịch tễ học bệnh viêm gan B tại Việt Nam.
Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HBV ở người
Việt Nam trên khắp các vùng miền trong cả nước. Các kết quả đều cho thấy
tỷ lệ lưu hành HBV trong cộng đồng là rất cao.
Tại Hà nội: Lê Vũ Anh, bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng
của 1.304 người thuộc cộng đồng dân cư ở Hà Nội, cho thấy tỷ lệ người
mang HBsAg là 11,35±0,02% [1]. Trần Thị Chính nghiên cứu những người
lành là cán bộ công chức và sinh viên Y thấy tỷ lệ mang HBsAg là 14,4%
[5]. Phan Thị Phi Phi khảo sát trên người lành và người ung thư tế bào gan
thấy tỷ lệ mang HBV là 13,9% [15]. Nguyễn Anh Tuấn bằng phương pháp 5
miễn dịch phóng xạ phát hiện các dấu ấn của HBV, thấy trong số 3.311
công nhân làm việc tại Hà nội được làm xét nghiệm số người HBsAg(+) là
11.1% [18].
Phạm Văn Lình điều tra ngẫu nhiên trên 1.478 người từ 3 đến 70 tuổi sống
ở Huế, đã rút ra tỷ lệ HBsAg(+) trong cộng đồng ở Huế là 16,8%, trong đó
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn cho thấy trong số 1.564 phụ nữ
có thai được làm xét nghiệm có 10,6% người HBsAg(+) và dẫn đến 23,6%
con của các bà mẹ này có HBsAg(+) [18].
Ngoài HBsAg Việt Nam còn là nơi có tỷ lệ người mang HBeAg
thuộc loại cao trên thế giới, đặc biệt là ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ. Tỷ
lệ phụ nữ có thai có HBeAg(+) là 5,1% [10]. Các nghiên cứu của Việt
Nam cũng như thế giới đều đã cho thấy HBeAg có vai trò rất quan trọng
trong lây truyền HBV, đặc biệt trong lây truyền từ mẹ sang con.
Chu Thị Thu Hà nghiên cứu trên 1.300 sản phụ tới sinh con tại bệnh
viện Phụ sản trung ương Hà nội, số sản phụ có HBsAg(+) chiếm 12,5%, số
sản phụ có cả HBsAg(+) và HBeAg(+) là 40,5%. Máu cuống rốn con của
các mẹ có HBsAg(+) có kháng nguyên bề mặt của HBV tới 49,08% [10].
Theo Đinh Thị Bình tỷ lệ mang HBsAg ở 1.564 sản phụ ở Hà nội là
10,6%. Trong 141 sản phụ có 25,5% mang cả hai kháng nguyên HBsAg(+)
và HBeAg(+). Nếu mẹ có cả HBsAg(+) và HBeAg(+), tỷ lệ HBsAg(+)
trong máu cuống rốn con của họ là 66,7%, còn con các mẹ chỉ có
HBsAg(+) nhưng HBeAg(-) tỷ lệ này là 23,6% [3].
Theo Đỗ Trung Phấn các mẹ mang cả hai kháng nguyên HBsAg và
HBeAg sẽ truyền HBsAg cho 67,1% con của họ và nếu mẹ chỉ mang
HBsAg thì chỉ truyền cho 14,6% con của họ [14].
Nghiên cứu của Đỗ Tuấn Đạt cũng cho thấy tỷ lệ mang HBsAg ở
phụ nữ có thai là 10,5%. Số sản phụ mang cả hai kháng nguyên HBsAg và
HBeAg là 3,6%, và nguy cơ truyền HBsAg cho con ở các sản phụ này tăng
16,5 lần [7].
Như vậy nếu mẹ có cả hai dấu ấn bề mặt của HBV sẽ có nguy cơ
truyền HBsAg cho con họ gấp 2,8 lần theo Đinh Thị Bình [3] và gấp 4,6
lần theo Đỗ Trung Phấn [14]. Điều này cũng cho thấy vai trò quan trọng
của HBeAg trong lây nhiễm HBV theo chiều dọc ở Việt Nam nói riêng
cũng như ở những người gốc Á nói chung trên thế giới.
Các nghiên cứu còn chỉ ra lây truyền HBV ở Việt Nam là lây truyền
[8]. Các triệu chứng hay gặp là sốt nhẹ, mệt mỏi, tiểu vàng, chán ăn [9].
Thời kỳ toàn phát (thời kỳ hoàng đảm). Trường hợp điển hình
thường có tiền triệu: đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn và nôn, sốt nhẹ
(37,5-39
0
C) khoảng 2-7 ngày trước khi có vàng da. Sau đó có đầy bụng
hoặc đau khu trú ở hạ sườn phải (hay gặp), nước tiểu sẫm màu và phân nhạt
màu, một số có ngứa nhẹ, có đau khớp [66]. Khi bắt đầu thấy ăn ngon, tiểu
nhiều, vàng da vàng mắt giảm dần là bệnh lui. Trẻ nhỏ thường hồi phục sau 8
2 tuần, người lớn sau 4-6 tuần. Tuy nhiên dấu hiệu mệt mỏi, chán ăn có thể
còn kéo dài sau nhiều tháng [11].
Nói chung viêm gan B cấp với các biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu
muốn xác định chắc chắn cần dựa vào các xét nghiệm huyết thanh và chẩn
đoán vi rút học.
- Xét nghiệm công thức máu: thấy bạch cầu tăng, chủ yếu do tăng
lymphocyte.
- Có hội chứng huỷ hoại tế bào gan: Transaminase tăng cao dần, tăng
ALT (alanine aminotransferase) và AST (aspartate aminotransferase)
[41].
- Hội chứng ứ mật: Bilirubin trực tiếp trong máu tăng sớm nhất ngay
cả khi bilirubin toàn phần còn bình thường. Trong 10-14 ngày đầu
bilirubin toàn phần tăng dần nhưng không quá 17µmol/l sau đó giảm
dần. Sau 3 tuần nếu nồng độ bilirubin toàn phần giảm còn dưới
51µmol/l là tiên lượng tốt, nếu không giảm là dấu hiệu bệnh diễn
biến nặng và kéo dài [8]. Phosphataza kiềm bình thường hoặc tăng
nhẹ.
- Hội chứng suy tế bào gan: Tỷ lệ prothrombin giảm, nếu giảm dưới
Viêm gan mạn tồn tại: Thường không có triệu chứng, đôi khi có mệt
mỏi, chán ăn, tức nhẹ hạ sườn phải. Lâm sàng bình thường hoặc gan to nhẹ.
Transaminase tăng. Bilirubin, phosphataza kiềm và γ globulin bình thường.
Tiên lượng tốt với những tổn thương tồn tại không tiến triển. Tuy nhiên có
thể tiến triển thành viêm gan mạn hoạt động đặt biệt khi có sự duy trì nhân
lên của vi rút [11].
Viêm gan mạn hoạt động: Biểu hiện lâm sàng có mệt mỏi, đau hạ sườn
phải, vàng da, ngứa, gan to vừa, có thể có lách to. Đặc biệt có tăng áp lực
tĩnh mạch cửa ngay cả khi không có xơ gan. Xét nghiệm transaminase tăng,
ALT tăng, phosphataza kiềm và γ globulin bình thường hoặc tăng nhẹ (trừ
trường hợp có ứ mật sẽ tăng cao), bilirubin bình thường hoặc tăng nhẹ.
Prothrombin giảm. Tiến triển theo hướng nặng lên, hoặc từng đợt dẫn tới
xơ gan sau nhiều năm [11].
Xơ gan: Biểu hiện lâm sàng không phân biệt căn nguyên. Xơ gan là
kết quả của kích thích gây viêm liên tục kéo dài hoặc do rối loạn trong cơ
chế điều hoà gây nên thể kinh diễn (hình thành u hạt). Nguy cơ dẫn đến
ung thư gan nguyên phát rất cao ở nhóm bệnh nhân này. Bệnh nhân cần
được kiểm tra bằng cộng hưởng từ, chụp động mạch có cản quang [11]. 10
1.2. Đặc điểm sinh học của vi rút viêm gan B.
1.2.1 Cấu trúc của vi rút viêm gan B.
Vi rút viêm gan B là một vi rút có cấu trúc DNA sợi kép, có vỏ thuộc
họ Hepadnaviridae. Vi rút lưu hành trong máu dưới 3 dạng hình thể: Hình 1.1: Ba dạng hình thể của HBV trong máu .
- Các hạt hình ống nhỏ có kích thước 20-22nm × 40-400nm.
lõi có TLPT 22 kilo Dalton, chính là kháng nguyên lõi của vi rút được kí 12
hiệu là HBcAg. Polypeptid tiền lõi có TLPT 25 kilo Dalton, có cấu trúc
gồm polipeptid lõi và thêm một peptid đơn có 29 acid amin (hình 1.2).
Kháng nguyên e (HBeAg) chính là một sản phẩm chuyển hoá của lớp vỏ
trong (của polypeptid tiền lõi) [58].
+ Chứa trong vỏ của hạt vi rút là bộ gen của HBV (genome). Bộ gen của
HBV là một DNA phụ thuộc DNA polymeraza, có 3200 đôi bazơ
(hình 1.2).[6*]
Ba dạng hình thể lưu hành trong huyết thanh của người nhiễm HBV
có thể đứng riêng lẻ hoặc dính lại với nhau, điều này tạo ra những bao
ngoài rỗng của vi rút do sự sản xuất dư thừa các protein bề mặt trong quá
trình nhân lên của vi rút. Các hạt này có rất nhiều trong huyết thanh ( 10
6
-
10
9
hạt / ml) và với tỷ lệ số hạt Dane / HBsAg là khoảng 1/10.000 [51].
1.2.2. Sự nhân lên của HBV.
Sự nhân lên của HBV, cũng giống như nhiều vi rút khác, phải trải
qua nhiều bước: (1) Vi rút gắn vào tế bào chủ; (2) Vi rút xâm nhập vào tế
bào chủ; (3) Vi rút di chuyển vào nhân; (4) Vi rút phóng thích bộ gen; (5)
Thực hiện sao mã và dịch mã; (6) Sao chép bộ gen vi rút; (7) Sự lắp ráp để
tạo bộ gen của hạt vi rút; (8) Giải phóng hạt vi rút [4].
Sau khi vào cơ thể HBV sẽ gắn và xâm nhập vào tế bào gan. 24 giờ
sau đó DNA của HBV xuất hiện trong nhân của tế bào gan. Khi đó DNA
vòng mở được chuyển thành DNA vòng đóng (covalently closed circle
DNA (cccDNA). CccDNA tiếp tục làm khuôn mẫu tổng hợp các mRNA
14
Vi rút viêm gan B không lây truyền trong không khí, qua thức ăn,
nước uống. Mà theo 3 phương thức lây truyền chính :
• Từ mẹ sang con.
• Do tiêm truyền.
• Qua đường tình dục.
1.2.3.1. Lây truyền từ mẹ sang con:
Lây truyền vi rút từ mẹ sang con là một đường lây quan trọng. Có 3
thời điểm đó là: lây truyền trong tử cung; lây truyền khi chuyển dạ và đẻ;
và lây truyền do tiếp xúc trong thời gian ngắn sau đẻ. Các phụ nữ mang
thai, mang vi rút viêm gan B hầu hết ở giai đoạn không triệu chứng nên họ
không biết tình trạng nhiễm vi rút của bản thân (trừ khi họ được xét nghiệm
tìm HBsAg) vì vậy nguy cơ lây truyền cho con lớn. Trẻ nhỏ là lứa tuổi mà
sự đáp ứng miễn dịch chưa hoàn chỉnh, nếu bị nhiễm vi rút ở lứa tuổi này
sẽ làm tăng khả năng nhiễm vi rút kéo dài và làm tăng tỷ lệ mang vi rút
mạn tính trong cộng đồng. Các bà mẹ có đồng thời cả HBsAg(+) và
HBeAg(+) hoặc mẹ nhiễm HBV cấp tính ở giai đoạn cuối của thai kỳ có tải
lượng vi rút cao trong máu, có khả năng truyền vi rút cho các con của họ
tới 85%-90% [28]. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ này dễ trở thành người mang
HBV mạn tính.
1.2.3.2. Lây qua đường tiêm truyền:
Truyền máu và sử dụng các chế phẩm từ máu không qua sàng lọc
HBsAg chính là nguồn lây nhiễm vi rút viêm gan B [50]. Dùng chung bơm
kim tiêm khi tiêm chích ma tuý đường tĩnh mạch cũng là một phương thức
lây truyền vi rút thường gặp. Các loại dụng cụ không tiệt trùng: Dụng cụ
phẫu thuật, nha khoa, bơm kim tiêm, kim chích, kim châm cứu, dụng cụ
xăm mình, xỏ lỗ tai, dao cạo râu… đều là những yếu tố gây lây truyền vi
rút viêm gan B [40].
polymeraza. Đoạn 2,4 kb mã hoá protein tiền S1, tiền S2 và HBsAg
(LHBs). Đoạn 2,1 kb mã hoá protein tiền S2 và HBsAg ( MHBs/SHBs).
Đoạn ngắn nhất (0,8 kb) mã hoá protein X [57].
o HBcAg và HBeAg được phiên mã từ một gen chung (đoạn dài nhất 3,5
kb). Trong quá trình sao chép, HBcAg khi đến lưới nội bào liền bị cắt
rời và HBeAg được tạo ra từ đoạn tiền lõi và lõi. HBcAg có chức năng
chủ yếu trong việc tạo nên thành phần liên kết của nucleocapsit tạo ra
lớp vỏ trong của vi rút.
o Polypeptid polymeraza phiên mã từ RNA tiền genome có vai trò quan
trọng trong quá trình nhân lên của vi rút, đặc biệt là chuỗi âm của phân
tử DNA.
o Protein X, được mã hoá từ RNA nhỏ nhất (0,7kb), được cho là có vai trò
trong quá trình nhiễm trùng tự nhiên của vi rút, nhưng cho đến nay còn
chưa rõ ràng.
o Các gen S và tiền S mã hoá lớp vỏ vi rút. Các protein tạo nên các hạt
HBsAg. Các gen tiền S2 và S (mã hoá cho protein bề mặt trung bình
MHBs), gen tiền S1 tiền S2 và S ( mã hoá cho protein bề mặt lớn
LHBs), protein tiền S1 đóng vai trò quan trọng trong quá trình kết hợp
của HBV vào tế bào gan [54].
1.4. Các dấu ấn huyết thanh của HBV.
1.4.1 Kháng nguyên bề mặt của HBV (HBsAg) và anti-HBs.
Kháng nguyên bề mặt của HBV (HBsAg) được sản xuất trong bào
tương của tế bào gan và xuất hiện chủ yếu trong huyết thanh cũng như trên
màng tế bào gan với nồng độ đôi khi rất lớn [4,19], nhưng không có trong
nhân tế bào gan [10,20]. HBsAg là dấu ấn huyết thanh cho thấy tình trạng
nhiễm HBV của cơ thể. HBsAg có thể được xác định nhờ hai kỹ thuật: Kỹ
thuật miễn dịch phóng xạ (RIAs) và kỹ thuật miễn dịch enzym (EIAs).
HBsAg xuất hiện sớm nhất trong huyết thanh bệnh nhân, chỉ một đến mười
tuần sau khi có phơi nhiễm với HBV, và còn có thể thấy ở giai đoạn cuối
của thời kỳ ủ bệnh, trước khi men transaminaza trong máu tăng cao và
đang phát triển, đang hoạt động và đang là một viêm gan B cấp. Người ta
thấy rằng anti-HBc không có tác dụng bảo vệ cơ thể chống tái nhiễm HBV,
không có vai trò điều hoà miễn dịch cũng như trong bệnh sinh của VGB.
Nó chỉ có tác dụng chỉ điểm chứng tỏ sự có mặt của HBcAg[46,60].
Vai trò bảo vệ của anti-HBc chống lại sự xâm nhập của vi rút đến
nay vẫn chưa rõ ràng [19]. Tuy nhiên anti-HBc là một dấu ấn khá quan 18
trọng trong chuẩn đoán hồi cứu và điều tra dịch tễ học về tình trạng nhiễm
HBV.
Xét nghiệm xác định IgM anti-HBc được dùng trong chuẩn đoán
bệnh cấp tính. Sự hiện diện của IgM anti-HBc trong huyết thanh pha loãng
1/5000 có thể giúp chuẩn đoán VGB cấp. Nếu IgM anti-HBc âm tính trong
huyết thanh pha loãng 1/5000 có thể loại trừ VGB cấp khá chắc chắn [48].
Cửa sổ của giai đoạn cấp (là khoảng thời gian mất HBsAg và xuất
hiện anti-HBs), IgM anti-HBc có giá trị chuẩn đoán khi bệnh nhân đã thải
trừ HBsAg trước khi xét nghiệm. Có khoảng 10% trường hợp VGB cấp
không phát hiện được nếu chỉ dùng duy nhất dấu ấn HBsAg. IgM anti-HBc
cũng tồn tại ở mức độ thấp trong viêm gan mạn và người ta theo dõi IgM
anti-HBc để đánh giá hiệu quả của đáp ứng với interferon [47].
1.4.3 Kháng nguyên e của HBV (HBeAg) và anti-HBe.
Năm 1972 Maginus và Espmark đã phát hiện ra một kháng nguyên
không thuộc hệ HBsAg, KN này có mối liên quan với tình trạng nhiễm
HBV mạn tính, đó là kháng nguyên e.
HBeAg là một kháng nguyên hoà tan, có mặt trong huyết tương.
HBeAg xuất hiện sớm ngay từ thời kỳ ủ bệnh gần như cùng lúc với
HBsAg, trước khi có dấu hiệu lâm sàng cũng như tổn thương gan. HBeAg
được xem như là dấu ấn biểu thị sự nhân lên của HBV liên quan đến tình
trạng nhiễm và mức độ nặng của bệnh. HBeAg còn đóng vai trò quan trọng
Liên kết hydo là một liên kết yếu. Ta có thể phá liên kết hydro bằng
nhiệt độ cao hoặc bằng hóa chất. Càng có nhiều liên kết hydro việc biến
tính DNA càng đòi hỏi phải được sử lý ở nhiệt độ cao. Các DNA có tỷ lệ
G/C cao được biến tính ở nhiệt độ cao hơn các DNA có tỷ lệ A/T cao.
Khi các điều kiện trong dung dịch quay trở về bình thường, 2 chuỗi
DNA đơn lại dần lai ghép lại với nhau, và DNA kép lại được khôi phục lại
như trước. 20
DNA polymeraza: Quá trình sao chép DNA là một quá trình tự
nhiên xẩy ra khi tế bào nhân lên. Nó bắt đầu bằng sự tách ra của 2 chuỗi
DNA với sự phá vỡ các liên kết hydro. Đương nhiên, trong trường hợp tự
nhiên này, biến tính DNA không phải bằng nhiệt độ cao mà là do enzyme
đặc biệt xúc tác. Ở những nơi hai chuỗi DNA tách rời nhau, có
oligonucleotit vào lai ghép với DNA đơn và DNA polymeraza có vai trò
kéo dài các oligonuleotiti này bằng cách nối các nucleotit ở dạng hoạt hóa
với nhau theo một trình tự bổ sung với chuỗi DNA vừa tách rời. Như vậy
mỗi chuỗi DNA ban đầu được dùng làm khuôn mẫu cho sự tổng hợp một
chuỗi DNA mới để tạo ra một phân tử DNA kép lai gồm có một chuỗi cũ
và một chuỗi mới.
Kỹ thuật PCR thực hiện dựa trên nguyên lý sao chép DNA trong tế
bào đó là: DNA được nhân lên theo cơ chế bán bảo tồn. Từ một phân tử
DNA chuỗi kép ban đầu được tách thành hai chuỗi đơn, mỗi chuỗi này làm
khuôn mẫu cho việc tổng hợp DNA. Các đoạn mồi được chọn nằm ở hai
đầu đoạn DNA cần nhân lên sao cho các sợi DNA tổng hợp mới được bắt
đầu tại mỗi đoạn mồi và kéo dài về phía đoạn mồi nằm trên sợi kia và cho
sản phẩm có độ dài nằm giữa hai đoạn mồi này. Độ dài của sản phẩm PCR
có thể từ vài trăm đến hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn cặp nucleotid.
Như vậy, cứ sau một chu kỳ các bản sao của DNA đích sẽ gấp đôi. Kết quả
nhiệt độ hạ xuống 4
0
C để bảo quản sản phẩm (hình 1.6).
Bước 1:
Biến tính DNA
Bước 2:
Lai ghép 2 mồi
xuôi - ngược
Bước 3:
Tổng hợp bằng
DNA polymerase Kết thúc chu kỳ
số đoạn DNA nhân
lên gấp đôi.
H
ình 1.6: các bước của một chu kỳ PCR
5’ 3’
3’ 5’
5’ 3’