ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN) là một trong những bệnh nhiễm khuẩn
phổ biến ở trẻ em. Ở bắc Mỹ và ở châu Âu nhiễm khuẩn tiết niệu đứng hàng
thứ 2 và thứ 3 sau nhiễm khuẩn đường hô hấp và tiêu hóa [55],[86]. Nhìn
chung tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em gái khoảng 8% và trẻ trai khoảng 3% [75]. Ở
Việt Nam trong các bệnh tiết niệu, NKTN đứng hàng thứ 3 và chiếm tỷ lệ
12,11% số bệnh nhân nhi vào khoa thận viện BVSKTE điều trị trong 10 năm
1981 – 1990, tỷ lệ tử vong của bệnh chiếm 5,7% [15]. Bệnh thường gặp ở trẻ
nhỏ đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi triệu chứng không điển hình dễ bị bỏ sót dẫn tới
một số bệnh thận mạn tính, suy thận làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tương lai
của bệnh nhân [55]. Ở người lớn NKTN có thể để lại những hậu quả lâu dài
như viêm thận, tăng huyết áp, ngộ độc thai nghén, suy thận mạn [58]. Khoảng
10% suy thận mạn do NKTN mạn tính, suy thận giai đoạn cuối phải vào viện
chạy thận nhân tạo bệnh nhân mất sức lao động và là một gánh nặng đối với
gia đình và xã hội [87].
Hiện nay tình trạng lạm dụng kháng sinh trong các bệnh nhiễm khuẩn
nói chung và NKTN nói riêng ngày càng gia tăng dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân
NKTN bị kháng thuốc tương đối cao, bệnh nhân bị tái nhiễm nhiều lần chính
vì vậy nghiên cứu về NKTN vẫn là mối quan tâm của y học hiện đại. Gần đây
trên thế giới các nhà khoa học đã tìm thấy một số loại peptid kháng khuẩn nội
sinh hay kháng sinh nội sinh ở người. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy peptid
kháng khuẩn LL-37 được bài tiết từ các bạch cầu trung tính, đại thực bào, các
tế bào biểu mô đường niệu. Peptid này có vai trò quan trọng trong quá trình
đáp ứng miễn dịch ở đường tiết niệu bằng cách nhanh chóng phá vỡ màng tế
bào vi khuẩn ngay sau khi có sự xâm nhập của chúng khi mà hệ đáp ứng
1
miễn dịch đặc hiệu chưa được phát huy. Ngoài ra LL-37 còn tham gia vào quá
trình hóa hướng động tế bào miễn dịch, trung hòa độc tính vi khuẩn để bảo vệ
hệ tiết niệu trước sự tấn công của vi khuẩn [31]. Mặt khác với những hiểu biết
mới về vitamin D cho thấy vai trò trong đáp ứng miễn dịch bẩm sinh đặc
biệt tham gia tổng hợp peptid kháng khuẩn LL-37 ở các tế bào miễn dịch và
Nhiễm khuẩn tiết niệu là tình trạng được đặc trưng bởi tăng số lượng vi
khuẩn và bạch niệu một cách bất thường. Thuật ngữ này không bao gồm cỏc
viờm đường tiết niệu do các bệnh hoa liễu: giang mai, lậu [11].
Nhiễm khuẩn tiết niệu là một thuật ngữ theo nghĩa rộng để chỉ tình trạng
vi khuẩn xâm nhập nước tiểu hay bất cứ tổ chức nào của hệ thống tiết niệu từ
vỏ thận đến lỗ niệu đạo [11].
Sự xâm nhập của vi khuẩn ở nước tiểu có thể xuất hiện đơn độc (vi
khuẩn niệu không triệu chứng) hay kết hợp các triệu chứng nhiễm khuẩn hệ
tiết niệu (vi khuẩn niệu có triệu chứng). Nhiễm khuẩn có thể chỉ khu trú ở một
vị trí như thận (viêm đài bể thận), bàng quang (viêm bàng quang). Nhưng
toàn bộ hệ tiết niệu luụn cú nguy cơ bị VK xâm nhập khi một bộ phận của nó
đã bị nhiễm khuẩn [11].
1.1.2. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn tiết niệu.
* Tuổi:
Hầu hết tất các tác giả đều thống nhất NKTN thường xảy ra ở trẻ dưới 2
tuổi. Nghiên cứu tại bệnh viện nhi TW năm 2005 thấy trẻ dưới 2 tuổi chiếm
66,67% số bệnh nhi NKTN [9]. Tại bệnh viện trẻ em Hải Phòng nghiên cứu
trong 3 năm 2002- 2004 lứa tuổi này chiếm 47,7% trong số 148 bệnh nhi
NKTN [12]. Nguyên nhân chủ yếu theo các tác giả là do:
+ Sức chống đỡ với vi khuẩn yếu, khả năng tạo miễn dịch yếu.
+ Khả năng kháng khuẩn của niêm mạc bàng quang cũn kém
+ Tổ chức thận chưa trưởng thành.
* Giới
3
Nói chung trẻ gái mắc nhiều hơn trẻ trai do đặc điểm giải phẫu của
đường tiểu [11]. Dưới 1 tuổi trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái, lứa tuổi sơ sinh tỷ
lệ nam: nữ bị NKTN là 4:1 [73]. Tỷ lệ NKTN ở trẻ dưới 2 tuổi điều tra năm
1998 tại Thụy Điển trẻ trai 1,5% và trẻ gái 1% [52]. Theo Daniela tỷ lệ trẻ trai
và trẻ gái 11 tuổi bị NKTN lần lượt là 1% và 3%, trung bình 2% số trẻ trai và
8% số trẻ gái bị NKTN trong thời kỳ thơ ấu [33].
Tại Việt Nam hiện nay hầu hết là các nghiên cứu hồi cứu về triệu chứng
lâm sàng và căn nguyên VK tập trung nhóm bệnh nhân nhi đến khám tại bệnh
viện. Bệnh đứng hàng thứ 2 trong các bệnh thận phải vào viện điều trị chiếm
11,9% tổng số bệnh nhi vào khoa thận VBVSKTE trong 5 năm (1975-1979)
[14] và đứng hàng thứ 3 trong số các bệnh nhân nhi vào khoa thận điều trị
chiếm 12,11% trong 10 năm từ 1981- 1990 [12]. Lê Tố Như và Lê Nam Trà
đã tiến hành sàng lọc trên 1015 trẻ sơ sinh tại viện nhi TW thấy tỷ lệ NKTN
là 6,2% [15].
1.3. Chẩn đoán nhiễm khuẩn tiết niệu.
Bệnh cảnh lâm sàng NKTN rất khác nhau các triệu chứng và dấu hiệu
lâm sàng chỉ có giá trị gợi ý, bệnh có thể biểu hiện nguy kịch của tình trạng
nhiễm khuẩn huyết cho đến hoàn toàn không có biểu hiện lâm sàng muốn
chẩn đoán xác định NKTN phải dựa vào xét nghiệm nước tiểu về mặt tế bào
và vi sinh học. Trong đó cấy và và định lượng vi khuẩn trong nước tiểu là
quan trọng nhất.
5
1.3.1. Xét nghiệm nước tiểu
Chẩn đoán xác định NKTN dựa vào cấy nước tiểu nhưng phải đảm bảo
vô khuẩn, đúng cách.
* Xác định bạch cầu niệu: .
Phương pháp Số lượng bạch cầu
Soi cặn sau ly tâm ≥ 10bạch cầu/vi trường
Cặn Addis ≥10000 bạch cầu/phút
Soi tươi Webbs-Stansfeld ≥30 bạch cầu/mm
3
nước tiểu tươi
không ly tâm
Đây chỉ là xét nghiệm gợi ý không có giá trị chẩn đoán vì bạch cầu có
thể tăng ở một số bệnh khác như viêm cầu thận cấp, lao thận, nhiễm khuẩn
ngoài thận [11]
CRP tăng
Huyết sắc tố giảm trong nhiễm khuẩn mạn
Cấy máu có thể dương tính trong viêm thận bể thận cấp
Để chẩn đoán các tổn thương dị tật của thận như siờu õm, chụp UIV,
chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ…
Phân định NKTN trên và NKTN dưới cần dựa vào dấu hiệu lâm sàng và
xét nghiệm như tìm trụ bạch cầu, khả năng cô đặc nước tiểu giảm, tốc độ máu
lắng cao, tăng bạch cầu hạt trong máu ngoại vi, CRP tăng, các kháng thể
chống Tamm - Horsfall protein kháng thể chống kháng nguyên vi khuẩn
tăng, sự bài tiết beta 2 micro - globulin tăng, tìm thấy sẹo ở nhu mô thận nhờ
kỹ thuật Tc99 - DMSA hoặc chụp cắt lớp điện toán, sinh thiết thận [55],[87].
7
1.4. Sinh lý bệnh NKTN.
1.4.1. Cơ chế đề kháng tự nhiên của cơ thể .
- Đường tiểu bình thường cho phép sự dẫn lưu nước tiểu một cách dễ dàng
và triệt để. Chiều dài niệu đạo cũng cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn vào bàng
quang, hơn nữa đoạn nối niệu quản bàng quang chống lại luồng trào ngược.
- Nhờ có nhu động của niệu quản, nước tiểu được bài xuất liên tục từ bể
thận xuống bàng quang, khi bàng quang đầy nước tiểu sẽ bị đẩy ra ngoài
qua động tác đái.
- Các đáp ứng miễn dịch tại chỗ: IgA tiết, các peptid kháng khuẩn, bong
các tế bào biểu mô đã bị vi khuẩn dính vào và các đáp ứng miễn dịch hệ thống
là các globulin miễn dịch, bổ thể. Các tế bào biểu mô bàng quang có khả năng
tổng hợp Toll-like receptor cùng với các tế bào CD14 hoạt hóa hàng rào miễn
dịch kích thích tổng hợp các cytokin, chimokin các chất này có tác dụng hóa
ứng đọng thu hút các tế bào miễn dịch để loại bỏ vi khuẩn.
- Ngoài ra, trong các thành phần nước tiểu cũng có một số yếu tố ngăn
chặn sự phát triển của vi khuẩn như pH nước tiểu thấp, nồng độ thẩm thấu
cao, nồng độ ure cao…[55],[86]
1.4.2. Đường xâm nhập vào hệ thống tiết niệu của vi khuẩn.
1.5.1. NKTN có triệu chứng
1.5.1.1. Viêm bàng quang hay NKTN dưới:
Với các triệu chứng nhiễm khuẩn nhẹ (sốt nhẹ hoặc không sốt), các dấu
hiệu viêm bàng quang như: đỏi khú, đỏi buốt, đái rắt, đái đục, đỏi mỏu, trẻ
nhỏ biểu hiện khóc khi đái
1.5.1.2. Viêm thận bể thận hay NKTN trên.
* Viêm thận bể thận cấp: Biểu hiện nhiễm khuẩn toàn thân sốt cao rét
run đôi khi co giật, bộ mặt nhiễm khuẩn ngoài ra còn có thể đi kèm với kém
ăn, giảm cân, rối loạn tiêu hóa. Trẻ sơ sinh có thể gặp bệnh cảnh nhiễm khuẩn
huyết sốt cao hoặc hạ thân nhiệt, vẻ mặt nhiễm khuẩn nhiễm độc, vàng da,
kém ăn chậm tăng cân, hoặc bệnh cảnh sốc nhiễm khuẩn.
Dấu hiệu tiết niệu: Đái đục, đái mủ, đỏi mỏu, đỏi rỉ…
Dấu hiệu tại chỗ: sưng đau vùng thận, đau bụng hoặc đau thắt lưng, có
dấu hiệu Paternaski [21].
* Viêm thận bể thận mạn tính:
Viêm thận bể thận mạn tính được chẩn đoán khi bệnh kéo dài trên 3
tháng hoặc tái phát nhiều lần. Để chẩn đoán xác định phải dựa vào sinh
thiết thận.
Lâm sàng có 2 thể:
+ Thể phá hủy: Có từng đợt cấp tính xen kẽ những thời kỳ tiến triển âm
ỉ. Bệnh thường khởi phát sau một bệnh tiết niệu.
Triệu chứng: Sốt cao dao động, thiếu máu, gày sút cân, đái nhiều, có
từng đợt đỏi mỏu hoặc đái mủ. Ngoài ra bệnh nhân có thể có những cơn đau
bụng do sỏi hoặc ứ đọng nước tiểu.
10
+ Thể tiềm tàng: Thường là tiờn phỏt.
Triệu chứng: Không đặc hiệu như đái nhiều, uống nhiều, khát nước, đái
dầm, đau bụng không rõ nguyên nhân, toàn trạng gầy yếu, chán ăn, da xanh,
chậm lớn, trẻ hay bị ốm. Đôi khi chỉ có triệu chứng như thiếu máu, cao huyết áp.
1.5.1.3. NKTN không đặc hiệu.
tử đường đôi hiện diện trên bề mặt tế bào biểu mô đường niệu đặc biệt là
thận. Độc lực cao của E.coli còn do yếu tố tan máu, khả năng xâm nhập biểu
mô, khả năng gây độc tế bào. E.coli có khả năng tạo vỏ bọc xung quanh
(biofilm) trỏnh cỏc đại thực bào của vật chủ rồi tăng sinh trong tổ chức. Sự
hình thành các biofilm gây trở ngại cho điều trị làm giảm tác dụng kháng
sinh, trong biofilm có thể tồn tại nhiều chủng vi khuẩn khác nhau.
- Proteus mirabilis: Vi khuẩn có men urease biến ure thành NH
3
kiềm
hóa nước tiểu. Sự kiềm hóa nước tiểu chính là điều kiện thúc đẩy vi khuẩn
phát triển.
- P.aeruginosa: có vai trò quan trọng trong NKTN, khó khăn trong điều
trị vỡ khỏng kháng sinh cao.
- Staphylococci căn nguyên gây NKTN ở lứa tuổi trẻ.
- S.epidermdis là nguyên nhân quan trọng trong NKTN ở bệnh nhân đặt
sonde tiểu.
- Ent. feacalis gây NKTN ở bệnh nhân có sử dụng dụng cụ đặt ở đường
niệu sinh dục.
12
Theo Kate Verrier John 1992 tần suất vi khuẩn gây NKTN ở trẻ em cũng
liên quan đến giới tớnh [28].
Vi khuẩn Nam (%) Nữ (%)
E.coli 40 88
Proteus 52 5
S.aureus 4 6
S. faecalis 4 1
Ngoài ra Virus, nấm, Mycoplasma cũng gây bệnh nhưng rất hiếm.
1.6.2. Sự nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
Vấn đề khó khăn trong điều trị NKTN hiện nay là tình trạng kháng thuốc
kháng sinh của vi khuẩn niệu ngày càng trầm trọng và phổ biến. Năm 1984 sự
Vitamin D là một nhóm tiền hormon tan trong dầu, một số dạng của
vitamin D được phát hiện
Vitamin D
1
(phân tử của hợp chất ergocalciferol với lumisterol tỷ lệ 1:1)
Vitamin D
2
(erocalciferol)
Vitamin D
3
(cholescalciferol)
Vitamin D
4
(dihydroergocalciferol)
Vitamin D
5
(sitocalciferol)
Trong đó 2 hình thức chủ yếu của vitamin D là Vitamin D
2
và Vitamin D
3
.
Vitamin D
2
có nhiều ở thực vật, nấm, động vật không xương sống dưới tác
dụng của tia cực tím, cơ thể tổng hợp vitamin D
3
được từ 7-dehydrocholesterol
dưới da dưới tác dụng của tia cực tím 290nm- 310nm đặc biệt ở bước sóng
295-297nm.
Vitamin D
3
(sản xuất
trong da hay hấp thu
qua thức ăn) qua gan
được hydroxylated tại
C25 tạo 25-
hydroxycalciferol
(25OHD) nhờ enzim 25-
hydroxylase (CYP2R1)
25OHD qua thận
chuyển hóa tiếp thành
chất có hoạt tính sinh
học chính là
1,25dihydroxycalciferol
(1,25(OH)
2
D hay
calcidiol) và
24R,25(OH)
2
D
3
nhờ
enzim 1-α hydroxylase
(CYP27B1)
15
Vitamin D và chất chuyển hóa của nó được bài tiết chủ yếu qua mật vào
ruột và được tái hấp thu tại ruột. Có khoảng 35 chất là chất chuyển hóa của
vitamin D đã được xác định, các chất chuyển hóa có thể là sản phẩm thoái hóa
24,25(OH)
2
D là chất chuyển hóa lưu hành của 25(OH)D ở thận dưới xúc tác
của CYP27B1 chuyển thành 1,24,25(OH)
3
D. 1,25(OH)
2
D cũng là cơ chất cho
24 hydroxylase để chuyển thành 1,24,25(OH)
3
D. Chất này ít có hiệu lực sinh
học so với 1,25(OH)
2
D.
Sự bài tiết của vitamin D. Vitamin D và chất chuyển hóa của nó được
bài tiết chủ yếu qua đường mật vào ruột và được tái hấp thu tại ruột.
Những yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng vitamin D trong cơ thể chủ yếu
do chế độ thức ăn và cường độ ánh sáng mặt trời. Ở những vùng như Boston
(42 vĩ độ bắc) và Edmonton (52 vĩ độ bắc) tiếp xúc với ánh sáng mặt trời
trong mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 thì không hiệu quả chút nào trong
việc tổng hợp vitamin D ở da vì không có bức xạ tia cực tím với dải 295nm
đến 310nm trong khoảng thời gian này [50]. Một số phong tục tập quán lạc
hậu làm hạn chế sự tiếp xúc của da với ánh sáng mặt trời. Thức ăn ít vitamin
D, người mẹ trong thời kỳ mang thai bị thiếu vitamin D dẫn đến dự trữ
vitamin D của trẻ kém. Suy gan hoặc cảm ứng enzym do thuốc giảm sản xuất
25(OH)D [50]
* Tác dụng sinh học của 1,25(OH)
2
D
1,25(OH)
-
ATPase
để tăng vận chuyển canxi vào bào tương thiếu vitamin D gây ngừng hấp thu
canxi tích cực đặt cơ thể vào tình trạng cân bằng canxi âm tính gây rối loạn sự
khoỏng húa xương gây còi xương hoặc loãng xương. Tại xương: 1,25(OH)
2
D
tăng vận Ca
++
qua màng xương vào mô xương, tăng hiện tượng canxi hóa
[35],[42]. Thiếu hụt vitamin D vẫn còn phổ biến ở trẻ em, người lớn và trong
bào thai ước tính trên thế giới có khoảng 1 tỷ người thiếu vitamin D. Thiếu
vitamin D gây chậm phát triển chiều cao, gây biến dạng xương và tăng nguy
cơ gẫy xương hông sau này. Thiếu vitamin D ở người lớn có thể gây kết tủa
mọc thêm xương và gây loãng xương, loãng xương gây yếu cơ và làm tăng
nguy cơ gẫy xương [50]. Với việc phát hiện ra rằng hầu hết cỏc mụ và tế bào
trong cơ thể đều có thụ thể VDR và có hệ thống enzym để chuyển hình thức
lưu thông chính của vitamin D là 25(OH)D sang hình thức hoạt động
1.25(OH)
2
D cung cấp cái nhìn mới sâu sắc vào các chức năng của vitamin này
đối với những bệnh tật là thách thức của y học hiện đại đó là giảm nguy cơ
mắc ung thư, các bệnh tự miễn, các bệnh nhiễm trùng, tăng huyết áp và các
bệnh tim mạch. Năm 2007 tạp chí Times đã trích dẫn những lợi ích của
vitamin D trong danh sách “ Tốp 10 đột phá y tế” với việc khám phá ra rằng
vitamin D điều chỉnh hoạt động của gene mã hóa cho peptid kháng khuẩn,
18
mặc dù nghiên cứu sâu rộng đã được thực hiện trên vitamin D, các cơ chế
phân tử, tế bào chịu trách nhiệm về vai trò của nó chưa được làm sáng tỏ [44].
D ức chế sự phát
triển của limpho T [71], đặc biệt là Th1 tế bào có khả năng sản xuất interferon
(IFN-γ) và interleukin (IL-2) và hóa ứng động các đại thực bào ngược lại tăng
sản xuất IL-4, IL-5, IL-10 [60]. Mặt khỏc trờn cỏc tế bào đuôi gai
1,25(OH)
2
D làm giảm sự biểu hiện của thụ thể CD40, CD80, CD86 và giảm
bài tiết IL-12 quan trọng cho Th1 phát triển [32]. Những thay đổi trên làm
giảm quá trình nhận biết, trình diện sử lý kháng nguyên của các tế bào miễn
dịch. Với khả năng của 1,25(OH)
2
D
3
là ức chế đáp ứng của hệ thống miễn
dịch có lợi trong trong một số trường hợp như các bệnh tự miễn xơ cứng bì,
viêm khớp dạng thấp, lupus, đái tháo đường, thải bỏ mảnh ghép [77].
19
Đối với đáp ứng miễn dịch bẩm sinh hay đáp ứng miễn miễn dịch tự
nhiên: 1,25(OH)
2
D liên kết với các VDR cú trờn bề mặt làm gia tăng hoạt
động của các tế bào giết tự nhiên và tăng cường hoạt động thực bào của các
đại thực bào [78]. Hơn nữa 1,25(OH)
2
D tăng cảm ứng gen tổng hợp peptid
kháng khuẩn cathelicidin LL-37 sau khi được kích hoạt bởi vi khuẩn, nấm, ký
sinh trùng và virus [66]. Các đại thực bào, bạch cầu đa nhân và các tế bào
biểu mô như các lớp biểu bì, biểu mô đường tiêu hóa, hô hấp, sinh dục có khả
năng đáp ứng và sản xuất 1,25(OH)
2
trạng thiếu vitamin D hơn là biểu hiện của còi xương. Kết quả nghiên cứu của
Liu P.T. và cộng sự trong invitro kích hoạt TLR2/1 bởi lipoprotein triết xuất
từ trực khuẩn lao làm giảm khả năng tồn tại của nó trong các monocytes và
các đại thực bào của người. Đồng thời, với sự gia tăng của VDR và CYP27B1
trong các tế bào này, trực khuẩn lao chỉ bị giết khi huyết thanh mà trong đó
các tế bào được nuôi cấy có đủ 25(OH)D. Điều đó cung cấp bằng chứng rõ
ràng tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng vitamin D trong điều trị và ngăn
ngừa bệnh này [61]. Hoạt hóa TLR2/1 hoặc bổ xung 1,25(OH)
2
D cho những
tế bào này làm tăng tổng hợp cathelicidin peptid kháng khuẩn, nếu như quá
21
trình tổng hợp bị ngăn chặn khả năng của 1,25(OH)
2
D để tăng cường giết trực
khuẩn lao là ngăn cản [63].
Đó có một lịch sử lâu dài của việc sử dụng vitamin D đường uống để
điều trị nhiễm khuẩn với thành công rõ ràng. Kể từ đầu thế kỷ 19, nguồn
vitamin D (ánh sáng mặt trời, dầu gan cá tuyết) đã được xác định là phương
pháp hỗ trợ điều trị bệnh lao [44]. Nghiên cứu của Nursyam cho thấy hiệu
quả điều trị bệnh nhân lao được bổ sung vitamin D: 100% triệu chứng X-
quang cải thiện và tỷ lệ chuyển đổi đờm AFB sang âm tính so với 76% ở
nhóm giả dược[67]. Nghiờn cứu khỏc trờn bệnh nhân lupus vulgaris: 18/32
bệnh nhân được chữa khỏi, 9 được cải thiện[39]
* Các phương pháp định lượng 25(OH)D
25(OH)D được sử dụng để đánh giá tình trạng vitamin D trong huyết
thanh. 25(OH)D là chất chuyển hóa lưa hành chính của vitamin D có thời
gian bán hủy là 15 ngày. Nó phản ánh sản xuất vitamin D trong da cũng như
các hình thức bổ sung khác từ chế độ dinh dưỡng. Nồng độ 25(OH)D này
phản ánh cả 25(OH)D
1.7.2. Peptid LL-37.
- Những hiểu biết về LL-37
Peptid kháng khuẩn (AMPs) được tìm thấy ở nhiều loài động vật có vú
bao gồm cathelicidin và các defensins được tổng hợp và bài tiết từ các tế bào
miễn dịch và các tế bào biểu mô bề mặt. Trái ngược với các loài động vật có
vú khác và có ít nhất 10 defensins được tìm thấy ở người, cathelicidin duy
nhất được tìm thấy ở con người là LL-37. LL-37 tên viết tắt của 2 acid amin
mở đầu Leucin- leucin gồm 37 acid amin. LL-37 có chất tiền thân là hCAP18
(cationic antimicrobial peptide-18) hay Pro-LL-37. Cấu trúc Propeptide này
được chia thành 3 vùng: Peptid tín hiệu có N- tận gồm 30 acid amin, vùng
cathelin khoảng 100 acid amin và vùng peptid kháng khuẩn LL-37.
Propeptide sau khi vận chuyển các nơi lưu trữ đoạn peptid mở đầu sẽ bị cắt
bỏ, sau đó được thủy phân thành cathelin và peptid có C-tận là LL-37, cả hai
đều có tác dụng chống nhiễm khuẩn rộng rãi.
23
LL-37 có cấu trúc xoắn α bậc 2, pH
i
+6 không chứa acid amin cystein
trong phân tử. Cấu trúc này ổn định nhờ liên kết hydro giữa nhóm –NH- và
nhóm –CO- của các acid amin trong cùng chuỗi peptid cứ một vòng xoắn
360
o
thỡ có 3,6 gốc acid amin do nhóm –NH- acid amin thứ nhất và nhóm –
CO- của acid amin thứ tư tạo ra. Gen mã hóa cho hCAP18 ở người là CAMP
phát hiện năm 1963 trờn cỏnh ngắn của nhiễm sắc thể số 3 bao gồm 4 exon,
exon 1-3 mã hóa trình tự peptid tín hiệu và cathelin, exon 4 mã hóa các
peptid kháng khuẩn, tương tự gen mã hóa LL-37 cũng được tìm thấy ở loài
chuột [31].
Trình tự các acid amin trong chuỗi peptid LL-37 ở người[40]
LLGDF-FRKSK-EKIGK-EFKRI-VQRIK-DFLRN-LVPRT-ES
làm thay đổi tính thấm của thành mạch và thúc đẩy sự xâm nhập của các tế
bào viêm. Ngoài ra interleukin-8 cũn cú kích thích bạch cầu trung tính bài tiết
LL-37 [30]
Vai trò liờn kết và trung hòa với LPS (lipopolisaccharide). LPS có
nguồn gốc từ vách và được gọi là nội độc tố của các vi khuẩn gram (-) gây
nhiễm trùng huyết là nguyên nhân gây ra các bệnh cảnh lâm sàng như sốc
nhiễm khuẩn. LL-37 có thể trung hòa các hoạt động sinh học của LPS bởi liên
kết với nó nhờ có ái lực cao hơn.
25