tìm hiểu mối tương quan giữa nồng độ procalcitonin với số lượng bạch cầu và nồng độ crp trong máu bệnh nhân viêm tụy cấp - Pdf 23

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tụy cấp (VTC) là tổn thương viêm nhu mô tuyến tụy cấp tính từ
nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong. Ở các nước phương tây khoảng 20%
VTC có tiến triển nặng và trong số các trường hợp nặng có 10-30% dẫn
đến tử vong măc dù đã được điều trị tích cực. Ở Việt Nam những năm gần
đây bệnh có xu hướng gia tăng [1].
Diễn biến của VTC rất phức tạp, khó tiên lượng vì vậy việc đánh giá
được mức độ VTC càng sớm càng cần thiết, giúp thầy thuốc theo dõi tiến
triển của bệnh để lựa chọn phương pháp tối ưu, nhanh chóng hạn chế biến
chứng của bệnh.
Sự công bố thang điểm Ranson vào năm 1974 là bước ngoặt trong việc
nghiên cứu căn bệnh này, tiếp sau đó các phương pháp tiên lượng khác lần
lượt ra đời như thang điểm Imrie, APACHE và dựa vào chụp cắt lớp vi tính,
tuy nhiên không có phương pháp nào có khả năng xác định mức độ và tiên
lượng VTC một cách chính xác trong giai đoạn sớm của bệnh. Ở các bệnh
nhân VTC, mức độ tăng nồng độ các cytokine đã được chứng minh qua nhiều
nghiên cứu gần đây cho thấy có liên quan đến sự phát triển của các biến
chứng suy tạng, hoại tử, nhiễm trùng. Trên cơ sở đó đã có một số xét nghiệm
được sử dụng để đánh giá mức độ nặng nhẹ của VTC [2].
CRP là tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi trong dự báo mức độ nghiêm
trọng của VTC, nhưng gần đây Procalcitonin đã được đề cập đến trong các
nghiên cứu và kết quả cho thấy chỉ số sinh hóa này còn có giá trị cao hơn
CRP trong dự báo mức độ nặng của VTC.
Procalcitonin, tiền chất của calcitonin do tế bào C tuyến giáp sản xuất,
là một protein có 116 acid amin được tìm ra như một dấu ấn đánh giá được
tình trạng nhiễm khuẩn của bệnh. Nồng độ cao Procalcitonin đã được tìm thấy
1
trong máu bệnh nhân nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân nhiễm vi rút thường không
tăng hoặc tăng rất ít Procalcitonin [3].
Xét nghiệm Procalcitonin là chỉ số sinh hóa được sử dụng thường quy
trong lâm sàng, đơn giản, cho kết quả nhanh chóng và có thể đánh giá được

+ Do nguyên nhân nhiễm khuẩn: Nhiễm trùng (Quai bị, CMV, virus
viêm gan B, HIV, Mycoplasma, Toxoplamosis).
+ Do nguyên nhân tự miễn: Viêm tụy tự miễn, bệnh viêm đường ruột
do tự miễn, các bệnh tự miễn hệ thống: Bệnh lupus ban đỏ hệ thống, viêm
quanh ĐM thể nút, bệnh Vegener và bệnh Behcet
3
+ Do nguyên nhân bẩm sinh: Tụy đôi, do chít hẹp và co thắt của cơ
vòng Oddi.
+ Do nguyên nhân di truyền: VTC di truyền.
+ Nhóm nguyên nhân do thầy thuốc: VTC sau ERCP, sau phẫu thuật.
+ Do nguyên nhân khối u: Do u tụy
+ Do nguyên nhân mạch máu.
+ Do nguyên nhân chấn thương: Chấn thương bụng
+ Nhóm các nguyên nhân khác: Bọ cạp, ngộ độc phospho hữu cơ, loét
dạ dày tá tràng xuyên thấu, VTC thiếu niên.
+ Nhóm không giải thích được nguyên nhân hay VTC vô căn [7]
1.3. CHẨN ĐOÁN VTC
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng của VTC
Triệu chứng LS của VTC xảy ra hết sức cấp tính, đột ngột, diễn biến phức
tạp, có thể có các dấu hiệu ngoại khoa xen lẫn, đặc biệt trong VTC hoại tử [7].
1.3.1.1. Triệu chứng cơ năng
- Đau bụng: Là dấu hiệu nổi bật nhất, là lý do để bệnh nhân đi khám
bệnh. Đau thường xuất hiện một cách đột ngột ở vùng thượng vị, có thể lan
lên ngực, ra hai mạng sườn hai bên, xiên ra sau lưng. Đau liên tục, dữ dội
kéo dài nhiều giờ, có thể đau khởi phát sau khi ăn, sau bữa ăn nhiều rượu thịt.
Cũng có khi khởi phát tự nhiên. Đau dữ dội do hiện tượng viêm tụy giải
phóng ra các enzyme, đặc biệt là enzyme tiêu protein gây tiêu huỷ màng tế
bào gây giãn mạch, chảy máu mô kẽ thoát dịch gây shock.
- Nôn: Đa số BN có nôn hoặc buồn nôn, lúc đầu nôn ra thức ăn, sau đó
nôn ra dịch, nôn xong có thể đỡ đau hoặc không.

gây tình trạng ứ mật hoặc do viêm gan.
- Trường hợp nặng (nhất là trong VTC thể hoại tử) có thể gặp các mảng
bầm tím dưới da hai bên mạng sườn (dấu hiệu Grey Turner) hay mảng ở vùng
tụy và quanh tụy, suy hô hấp, suy thận, shock, suy đa tạng.
1.3.2 Triệu chứng cận lâm sàng của VTC
1.3.2.1. Xét nghiệm sinh hoá - huyết học
- Amylase máu: Giá trị bình thường <220U/l do tụy tiết ra chỉ có 40%
còn 60% là của nước bọt. Bắt đầu tăng từ 4-12h sau khi đau, tăng cao sau 24h
và duy trì như vậy trong 2-3 ngày và về bình thường sau 3-5 ngày. Amylase
tăng gấp 3 lần giá trị bình thường trở lên kết hợp với LS mới có giá trị chẩn
đoán VTC [8].
- Lipase máu: Chỉ có nguồn gốc từ tụy nên tính đặc hiệu cao hơn
amylase máu. Lipase máu cũng phải tăng gấp 3 lần giá trị bình thường cao
nhất (250U/l) mới có giá trị chẩn đoán VTC [8]. Ngoài ra do sự tăng lipase
máu tồn tại kéo dài hơn sự tăng amylase máu, nên nó sẽ là một xét nghiệm
để chẩn đoán và theo dõi VTC tốt hơn, nhất là khi bệnh nhân đến muộn.
Tuy nhiên tăng lipase máu cũng không chỉ đặc biệt trong VTC mà còn tăng
trong các bệnh lý khác như thủng ổ loét dạ dày tá tràng, nhồi máu mạc treo
ruột, tắc ruột, suy thận.
- Một số xét nghiệm đánh giá mức độ viêm : Không đặc hiệu và tăng
nhiều trong tình trạng bệnh lý có viêm, chủ yếu đánh giá mức độ nặng nhẹ
của bệnh, qua đó giúp tiên lượng VTC.
+ Một số cytokine IL-6, IL-8 tăng sớm trong những giờ đầu, nhanh
chóng giảm về bình thường sau 2-3 ngày, càng cao VTC càng nặng.
6
+ CRP: Tăng rõ sau 24-28h, giá trị bình thường <1mg/dl mức độ tăng
CRP liên quan mức độ nặng của VTC [9].
+ Calci, magie máu: Các trường hợp VTC hoại tử, sự giảm canxi máu
là hậu quả của canxi kết hợp với axit béo tự do được giải phóng trong quá
trình phân huỷ lipid để tạo ra hình ảnh vệt nến.

trong giai đoạn đầu của bệnh. SA có giá trị trong chẩn đoán VTC với độ nhạy
60-90% và độ đặc hiệu 90% [10].
* Chụp CT
Chụp CT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nhanh và là tiêu chuẩn
vàng trong chẩn đoán VTC và nhất là VTC hoại tử, phát hiện nguyên nhân,
các biến chứng tại chỗ và các tổn thương xung quanh tụy như nang giả tụy,
các ổ dịch quanh tụy, apxe tụy, giúp tiên lượng VTC. Phương pháp này vượt
trội SA do không bị ảnh hưởng bởi hơi ở ruột, độ nhạy của CT trong chẩn
đoán VTC là 92% và độ đặc hiệu là 100% [15]. Chụp CT có thuốc cản quang
cho phép phân biệt tổ chức tụy lành, phù nề hoặc hoại tử. Nếu tổ chức tụy
lành hoặc chỉ bị phù nề, khi tiêm thuốc cản quang sẽ ngấm thuốc làm tăng độ
cản quang, trong khi vùng hoại tử hoặc ổ apxe hoàn toàn không ngấm thuốc.
Tuy nhiên có thể không nhìn thấy hình ảnh tổn thương hoại tử trên CT trong
vòng 2-3 ngày. Vì thế, nếu có thể một số tác giả khuyến cáo nên trì hoãn chụp
CT trong vòng 48-72h [10].
* Chụp MRI
Đây là phương tiện thăm dò hình ảnh không dùng tia X, nó cho thấy
hình ảnh, kích thước, thương tổn ở tụy và ngoài tụy, nhìn rõ tổn thương là có
8
thể xác định được khối dịch đặc hay đủ loãng để chọc hút và dẫn lưu. MRI có
giá trị hơn chụp CT trong phát hiện hoại tử, nhất là trong những trường hợp
bệnh nhân bị dị ứng với thuốc cản quang và suy thận. Tuy nhiên, hiện nay
còn là phương tiện đắt tiền, đòi hỏi trang thiết bị cao hơn, thời gian thực hiện
kéo dài nên thực tế ít được áp dụng trong VTC [10].
* Chụp đường mật tụy ngược dòng nội soi (ERCP)
Điều trị lấy sỏi, cắt polyp, mở rộng bằng xử lý cắt cơ thắt Oddi
trong trường hợp bị chít hẹp, đặt các ống dẫn lưu. Qua ERCP có thể thăm
dò ống Wirsung rất chính xác nguyên nhân VTC. Tuy nhiên trong những
trường hợp cần xác định rõ sỏi hay giun, cần điều trị đến khi tình trạng
bệnh nhân ổn định [11].

có thể thể không tăng [1].
1.4. PHÂN LOẠI VTC
Phân loại cổ điển chia VTC thành 2 thể (GPB) : thể phù nề, và thể
hoại tử.
Phân loại theo chẩn đoán hình ảnh (siêu âm và CLVT) : chia thành 2
thể, thể phù nề (không có hoại tử) và thể hoại tử.
Theo phân loại Atlanta 1992 VTC chia làm 2 thể nặng và nhẹ. Cách
phân loại này đã tạo ra một nền tảng cho các nghiên cứu và quản lý VTC
trên lâm sàng nhưng cũng có những hạn chế ví dụ như các thể trung gian
khó xếp loại.
Thể nhẹ : VTC không có một hoặc nhiều biến chứng quan trọng toàn
thân hoặc tại chỗ gây ra bởi đợt tấn công của VTC.
10
Thể nặng: VTC kèm theo một hoặc nhiều các biến chứng quan trọng
tại chỗ hoặc toàn thân.
Các biến chứng tại chỗ bao gồm:
+ Hoại tử tụy
+ Nang giả tụy
+ Áp xe tụy
Các biến chứng toàn thân gồm :
+ Suy hô hấp: PO
2
< 60 mmHg đòi hỏi liệu pháp oxy quá 24 giờ hoặc
phải thở máy.
+ Suy tuần hoàn: HA tâm thu < 80mmHg kéo dài hơn 15 phút.
+ Suy thận: Creatinin huyết thanh > 2 mg% (177 Mmol/l) sau khi bù
đủ dịch và không có suy thận từ trước.
+ Xuất huyết tiêu hóa: Nôn ra máu, ỉa phân đen, dịch dạ dày qua
sonde có máu [6].
1.5. BIẾN CHỨNG CỦA VTC

< 60mm Hg (khí trời) PaO
2
/FiO
2
≤ 225
Thận Creatinin > 2mg/dl sau khi bồi
phụ dịch
Creatinin > 2,26 mg/dl
Rối loạn đông máu Tiểu cầu < 100.000/mm
3
,
fibrinogen <1g/l, sản phẩm phân
giải fibrin > 800 µg/ml
Tiểu cầu ≤ 80.000mm
3
Thần kinh
Điển Glasgow ≤12
* (PAR = nhịp tim bệnh nhân x CVP (cm H
2
0)/HA ĐM trung bình
Tiến triển theo thời gian của suy đa tạng có thể dự báo tử vong ở bệnh
nhân VTC. Những bệnh nhân có suy đa tạng thoái lui trong tuần đầu thường
tiên lượng tốt, trong khi các bệnh nhân có suy chức năng cơ quan tiến triển
xấu dần thường có tỷ lệ tử vong trên 50% [10]. Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ
SIRS trong các bệnh nhân VTC là 21% ở thời điểm nhập viện và 18% tồn tại
12
SIRS ở thời điểm 48h. Sự tồn tại SIRS thường liên quan với sự phát triển của
MODS và tử vong trong VTC.
* Trụy tim mạch: Do tổn thương nội mạc của thành mạch làm một khối
lượng lớn huyết tương thoát ra khỏi hệ thống tuần hoàn vào vùng gian bào,

* Ổ hoại tử tụy: Có thể ở trong nhu mô tụy, có khi lan toả toàn bộ tụy,
những ổ hoại tử có thể lan ra xung quanh tụy tới rễ mạc treo đại tràng ngang,
hậu cung mạc nối, khoang sau phúc mạc và lan xa theo rãnh thành đại tràng
xuống hố chậu, túi cùng Douglas. Dòng hoại tử của tụy có thể lan tới dạ dày -
tá tràng, lách, đại tràng ngang, lan lên trung thất, khoang màng phổi gây tràn
dịch ổ dịch ứ đọng.
* Apxe tụy: Là ổ mủ khu trú ở tụy hoặc gần tụy, trong có những mảnh
tổ chức hoại tử, thương tổn bắt đầu từ những ổ hoại tử, lúc đầu vô khuẩn sau
đó bội nhiễm và tạo thành ổ apxe, biến chứng này phát triển ở khoảng 3% số
bệnh nhân VTC, hầu hết sau 3-4 tuần kể từ lúc khởi phát bệnh, lúc này bệnh
nhân thường có sốt cao dao động.
* Nang giả tụy cấp tính: Là những ổ chứa dịch bao bọc bởi tổ chức xơ
hoặc tổ chức hạt, được hình thành trong vòng 4 tuần của bệnh, nang này
thường thấy ở tụy, quanh tụy.
1.6. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ VÀ TIÊN LƯỢNG CỦA VTC
Việc sớm nhận biết được các trường hợp VTC nặng có ý nghĩa quan
trọng, quyết định thái độ điều trị thích hợp, dự phòng rối loạn chức năng các
tạng và các biến chứng tại chỗ từ đó giảm tỷ lệ tử vong.
14
Trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ trong điều trị VTC nặng.
Các biện pháp này phải được thiết lập ở giai đoạn rất sớm của bệnh, cơ hội
thành công sẽ giảm đi nhanh chóng theo thời gian. Hơn nữa tất cả các biện
pháp này đều đòi hỏi chi phí rất lớn và không phải là không kèm theo các biến
chứng do điều trị. Lợi ích lớn nhất của việc xác định sớm mức độ của VTC
điều trị này sẽ giúp một số lượng rất lớn các bệnh nhân VTC được xác định
cụ thể nhẹ tránh được gánh nặng rất lớn về tài chính cũng như về thể xác và
tinh thần khi phải theo đuổi các điều trị không cần thiết.
Có rất nhiều phương pháp được đưa ra và áp dụng để đánh giá mức độ
nặng nhẹ và tiên lượng của VTC, nhưng cho đến nay chưa có phương pháp
nào tỏ ra tối ưu và đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Có thể chia các phương

TNF-α là một cytokine có nguồn gốc chủ yếu từ các đại thực bào và có
vai trò quan trọng trong cơ chế đáp ứng của cơ quan trong cơ thể với các tổn
thương và nhiễm trùng. TNF-α có thời gian bán huỷ rất ngắn (khoảng 14-18
phút), do đó việc xác định nồng độ TNF-α rất khó và không phản ánh đúng
tình trạng viêm thực sự của bệnh nhân. Một số nghiên cứu cho thấy, chỉ có
khoảng 29,3 - 36% các bệnh nhân VTC có tăng nồng độ TNF-α. Có sự khác
biệt về TNF-α ở nhóm VTC nhẹ so với nhóm VTC nặng.
 Interleukin - 6(IL-6)
IL-6 là một cytokine được giải phóng bởi nhiều loại tế bào, nó đóng vai
trò chất trung gian chủ chốt của quá trình tổng hợp các protein giai đoạn cấp
trong đó có CRP, fibrinogen. Trong những năm gần đây, có rất nhiều nghiên
cứu tập trung vào xác định vai trò của IL-6 trong đánh giá mức độ và tiên
lượng của VTC. Kết quả các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng nồng độ IL-
16
6 liên quan chặt chẽ với mức độ của VTC trên lâm sàng. Ở hầu hết các trường
hợp VTC cấp nhẹ, nồng độ IL-6 trong huyết thanh có mức không thể phát
hiện được, sự tăng cao nồng độ IL-6 là dấu hiệu dự báo sự phát triển các biến
chứng tại chỗ hoặc biến chững suy tạng ở bệnh nhân VTC. Các nghiên cứu
lâm sàng cho thấy, xét nghiệm IL-6 là một trong những phương pháp tốt nhất
có thể giúp phân biệt các trường hợp VTC nặng với thể nhẹ ngay từ ngày đầu
của bệnh với độ nhạy 83-100%, độ đặc hiệu 71-91% và tỷ lệ chẩn đoán chính
xác đạt 80-94% [2]. Vấn đề hiện nay là việc định lượng IL-6 vẫn chưa thể làm
bằng máy tự động hoàn toàn, mặc dù có thể định lượng IL-6 bằng phương
pháp bán tự động nhưng KIT xét nghiệm IL-6 vẫn chưa sẵn có tại các phòng
xét nghiệm lâm sàng.
 Interleuin -8
Các nghiên cứu về VTC ở người cho thấy, cùng với các cytokine khác,
nồng độ IL-8 tăng cao trong những ngày đầu của bệnh. Mức độ tăng IL-8 tăng
liên quan có ý nghĩa với mức độ của VTC, các nghiên cứu cũng cho thấy, IL-8
có khả năng tiên lượng VTC biến chứng tốt hơn so với CRP . Tuy nhiên, trong

 Elastase bạch cầu đa nhân trung tính (PMN elastase)
Trong VTC nặng, bạch cầu trung tính tập trung nhiều ở tụy và sản xuất
men elastase, là một yếu tố chính tham gia quá trình hoại tử tụy. Các nghiên
cứu nhận thấy, PMN elastase có khả năng tương tự CRP trong đánh giá tiên
lượng của VTC, nhưng có ưu thế là nồng độ đỉnh của PMN elastase xuất hiện
sớm hơn, ngay trong ngày đầu của bệnh.
 Procalcitonin
PCT được coi là một marker sớm của nhiễm trùng nặng và hội chứng
đáp ứng viêm hệ thống. Đã có rất nhiều nghiên về vai trò của PCT trong
18
VTC. Kết quả một số nghiên cứu cứu nhận thấy PCT là một marker hữu ích
giúp phát hiện sớm các bệnh nhân VTC nặng [12].
1.6.3. Các sản phẩm được giải phòng bởi tụy
 Amylase và lipase
Mặc dù Amylase và lipase có vai trò quan trọng trong chẩn đoán xác định
VTC, nhưng chúng đều rất ít liên quan với mức độ và tiên lượng của VTC.
 Peptide hoạt hoá trypsinogen (TAP)
TAP là một peptide được giải phóng trong quá trình hoạt hoá
trysinogen thành trypsin. Trong VTC, sự hoạt hoá không thích hợp của
trysinogen xảy ra ngay bên trong tụy dẫn đến sự giải phóng của TAP vào
máu, nước tiểu. Vì thế, TAP dường như như là marker tốt nhất và sớm của
VTC. Vì TAP nhanh chóng được tiết vào trong nước tiểu, phát hiện TAP
trong nước tiểu dễ hơn trong huyết thanh, nên xét nghiệm này hiện đã sẵn có
và dễ dàng áp dụng vào lâm sàng [13].
Tuy nhiên các nghiên cứu lâm sàng lại thu được kết quả trái ngược
nhau. Một số nghiên cứu nhận thấy xét TAP niệu đã tiên lượng khá chính xác
mức độ của VTC ngay trong ngày đầu tiên của bệnh. Trong khi đó, nghiên
cứu mới đây của Saez, nồng độ TAP niệu của nhóm bệnh nhân VTC và các
bệnh nhân đau bụng cấp không do tụy không có sự khác biệt, và các tác giả
kết luận không thể dùng TAP làm xét nghiệm sàng lọc trong chẩn đoán bệnh

< 60mmHg -
Giảm HCO
3

> 4mmol/L (4mEq/L) > 5mmol/L (5mEq/L)
Dịch ứ đọng > 6000mL > 4000 mL
Đánh giá: < 3 yếu tố → viêm tụy cấp nhẹ.
3 - 5 yếu tố → viêm tụy cấp nặng.
>5 yếu tố → viêm tụy cấp rất nặng.
Năm 1984, Imrie là một phẫu thuật viên ở Glasgow (Anh) đã đưa ra một
bảng yếu tố tiên lượng bao gồm 8 yếu tố, đánh giá sau 48 giờ (bảng 1.3). Bảng
điểm này có ưu điểm so với bảng điểm Ranson là đơn giản hơn mà lại có
thể áp dụng như nhau đối với tất cả các trường hợp VTC.
20
Bảng yếu tố tiên lượng Ranson và Imrie (Glasgow) đều có hạn chế là
chỉ đánh giá được tiên lượng ở thời điểm 48 giờ mà không có tác dụng đánh
giá tiên lượng trong những ngày sau, trong khi đây là thời điểm phát triển các
ổ dịch quanh tụy, ổ hoại tử, apxe tụy, nang giả tụy. Hơn nữa, trên thực tế
thường rất khó thu thập đủ các thông tin cần thiết và bị ảnh hưởng bởi điều
trị. Các nghiên cứu lâm sàng ghi nhận, các bảng điểm tiên lượng này có độ
nhạy và độ đặc hiệu hoảng 70-80% trong tiên lượng các trường hợp VTC
nặng, tương đương với bảng APACHE II được cho là phức tạp hơn nhiều.
Cũng có những ý kiến cho rằng, các bảng tiên lượng Ranson và Imrie
(Glasgow) có khả năng tiên lượng rất kém, chỉ tương đương với khám lâm
sàng do có độ nhạy chỉ khoảng 30%. Tuy nhiên, do đơn giản và dễ áp dụng
nên cho đến nay các bảng điểm này đang vẫn được sử dụng rộng rãi nhất.
Bảng 1.3: Bảng yếu tố tiên lượng của Imrie (Glasgow)[16]
Tuổi > 55
Số lượng bạch cầu > 150.000/mL
Glucose máu lúc đói > 10 mmol/L ( > 180 mg/dL)

A. Các biến số
Mức bất thường cao
0
Mức bất thường cao
+4 +3 +2 +1 +1 +2 +3 +4
nhiệt độ(
0
c) ≥ 41 39-40,9 38,5-38,9 36-38,4 34-35,9 32-33,9 30-31,9 ≤ 29,9
HATB (Mm Hg) ≥ 160 130-159 110-129 70-109 50-69 ≤ 49
Nhịp tim ≥ 180 140-179 110-139 70-109 55-69 40-54 ≤ 39
Nhịp thở ≥ 50 35-49 25-34 12-24 10-11 6-9 ≤ 5
PaO
2
(Mm Hg) >70 61-70 55-60 ≤ 54
pH máu động mạch ≥ 7,7 7,6-7,69 7,5-7,59 7,33-7,49 7,25-7,32 7,15-7,24 < 7,15`
Na
+
máu (mmod/l)
≥ 180 160-179 155-159 150-154 130-149 120-129 111-119 ≤ 110
K
+
máu (mmol/L)
≥7 6-6,9 5-5,9 3,5-5,4 3-3,4 2,5-2,9 ≤ 2,5
Creatinin (mg/dL)
*
≥3,5 2-3,4 1,5-1,9 0,6-1,4 <0,6
Hematocrit (%)
≥60 50-59,9 46-49,9 30-45,9 20-29,9 <20
Bạch cầu (10
3

Theo tiêu chuẩn này, chụp cắt lớp vi tính có thể chẩn đoán VTC hoại tử với
độ chính xác >90%. Để chẩn đoán nhiễm trùng vùng hoại tử này, người ta
tiến hành chọc hút dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính.
Bất lợi chủ yếu của phương pháp này là chi phí còn cao và chưa được
trang bị rộng rãi, đây chính là khó khăn đối với hầu hết các bệnh nhân Việt
Nam. Thêm vào đó, có một số bằng chứng cho thấy, có một sự gia tăng tỷ lệ
biến chứng, (tại chỗ hệ thống ) hoặc kéo dài thời gian nằm viện ở các bệnh
23
nhân VTC có chụp cắt lớp vi tính với nhóm chứng. Điều này gợi ý, thuốc cản
quang có thể có các tác động độc hại đối với các bệnh nhân VTC.
Để đánh giá mức độ của VTC, trên thế giới hiện nay thường sử dụng
bảng tính chỉ số mức độ nặng trên chụp cắt lớp vi tính của Balthazar gọi là bảng
CTSI (CT Severity Index). Theo đó, việc phân VTC cấp dựa trên kết hợp với 2
dấu hiệu tiên lượng chính là ổ dịch và hoại tử. Cách tính cụ thể như sau.
Bảng 1.5: Bảng tính chỉ số mức độ nặng trên chụp cắt lớp vi tính (CTSI)
Mức độ viêm Điểm
A.Tụy bình thường 1
B. Tụy to khu trú hay to toàn bộ 1
C. Viêm lan ra xung quanh tụy 2
D. Có một ổ dịch quanh tụy 3
E. Có ≥ 2 ổ dịch quan tụy 4
Mức độ hoại tử
A. Không hoại tử 0
B. Hoại tử đến 30% tụy 2
C. Hoại tử 30-50% tụy 4
D. Hoại tử ≥ 50% tụy 6
Đánh giá: Điểm CTSI = Mức độ viêm + Mức độ hoại tử
1 - 2 điểm: không có biến chứng nặng.
3-6 điểm: Biến chứng
7-10 điểm: Viêm tụy cấp nặng, tỷ lệ tử vong cao

Trích đoạn Các phương pháp khác [2], [6], [9] ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU Nguyên nhân gây VTC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status