Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 Khoa du lịch và khách sạn
Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài:
Trong xu thế phát triển chung hiện nay, du lịch đã trở thành hiện tượng phổ
biến đối với hâù hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Với
điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên cùng với chính sách
của nhà nước ta về định hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn.Khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều đặc
biệt là sau khi Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC vào tháng 12 năm
2006 và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Khách quốc tế đến Việt
Nam năm 2005 là 3.5 triệu lượt người, đến năm 2007 là gần 4 triệu người.
Chính vì vậy mà hệ thống kinh doanh du lịch cũng phát triển mạnh mẽ nhằm
cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của du khách, mang lại doanh
thu cho doanh nghiệp và quốc gia.
Trong sự phát triển về cơ sở vật chất giành cho du lịch , chúng ta không thể
không kể đến sự đóng góp của hàng loạt các khách sạn ngày càng tốt hơn và
thỏa mãn nhiều hơn nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, tuy nhiên chất
lượng dịch vụ của các khách sạn của chúng ta còn chưa tốt, còn để khách
hàng phải phàn nàn về chất lượng phục vụ mà thành phần quan trọng góp
phần tạo nên chất lượng dịch vụ đó chính là đội ngũ người lao động hoạt động
trong ngành du lịch. Để tạo được đội ngũ lao động có chất lượng cao,nhiệt
tình trong công việc đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò
quyết định.
Nhà khách tổng liên đoàn lao động Việt Nam tuy đã có nhiều biện pháp
nhằm hoàn thiện và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng phục
vụ của nhân viên song công tác này vẫn chưa thực sự có hiệu quả.
Trước yêu cầu mang tính cấp thiết, thường xuyên, lâu dài đó, qua thời gian
thực tập tại nhà khách tổng liên đoàn lao động Việt Nam, em xin chọn đề tài”
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 Khoa du lịch và khách sạn
Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại nhà khách tổng liên
kinh doanh, dịch vụ,…. Thì đều cần các yếu tố về nguồn vốn, cơ sở vật chất
kỹ thuật,nhân lực.
Theo từ điển Hán Việt thì “nhân ở đây có nghĩa là con người, lực tức là sức,
là thể lực và trí lực của con người”. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi
con người về thể lực và trí lực.
“ Thể lực là chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng
sức khoẻ của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ
ngơi,thể lực con nguời phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính.”
“ Trí lực là chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng,
nhân cách… của từng người.” Sức lao động tồn tại gắn liền với bản thân con
người, là sản phẩm của lịch sử hình thành trong quá trình sản xuất. Trong qúa
trình sản xuất kinh doanh truyền thống thì việc tận dụng tối đa các tiềm năng
về thể lực của con ngưòi là không bao giờ thiếu hoặc bị lãng quên và khai
thác gần như cạn kiệt. Nhưng còn tiềm năng về trí lực của con người đó là vô
tận thì mới được khai thác nhưng còn ở mức mới mẻ.
Như vậy nói tới nhân lực có nghĩa là nói tới con người gắn liền với việc sản
xuất ra một hoặc một số sản phẩm nào đó để thoả mãn nhu cầu của xã hội,
nhằm giúp xã hội và bản thân người đó tồn tại và phát triển.
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 Khoa du lịch và khách sạn
Quản trị nguồn nhân lực: là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút, xây
dựng, duy trì, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực nhằm thỏa mãn mục tiêu
của tổ chức.
Thực chất quản trị nguồn nhân lực là công tác quản lý con người trong
phạm vi nội bộ một tổ chức, là sự đối xử của tổ chức đối với người lao động.
Quản trị nhân lực chịu trách nhiệm về việc đưa con người vào tổ chức giúp họ
thực hiện công việc, thù lao cho sức lao động của họ và giải quyết các vấn đề
phát sinh.
Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các
doanh nghiệp và giúp cho doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triẻn trên thị
khả năng thích hợp và làm việc có hiệu quả thì phức tạp và tốn kém hơn
nhiều.
Vì thế bất cứ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ thì đều cần phải tập trung
tăng cường và phát huy khả năng của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết gía trị của hàng hoá đựơc cấu thành bởi hai bộ phận
chủ yếu là giá trị chuyển dịch của các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất
ra sản phẩm. Trong qúa trình tạo thành giá trị của sản phẩm thì giá trị của
những yếu tố này không làm gia tăng thêm mà chỉ chuyển hóa gía trị vốn của
nó vào sản phẩm mới. Do đó bộ phận gía trị này không tạo ra lợi nhuận. Bộ
phận thứ hai đó là giá trị gia tăng. Đó là bộ phận chênh lệch giữa giá trị của
sản phẩm với gía trị chuyển dịch. Phần gía trị này về cơ bản là do lao động
sáng tạo ra. Đó chính là nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược
Sự tồn tại và phát triển bền vững của một doanh nghiêp phụ thuộc vào nguồn
nhân lực của doanh nghiệp đó. Cùng với sự hình thành của kinh tế tri thức, sự
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 Khoa du lịch và khách sạn
phát triển của nền kinh tế xã hội đã khiến cho vai trò của nguồn thể lực của
con người bị giảm sút và vai trò trí lực của người lao động tăng lên. Do đó
nguồn nhân lực có hiểu biết, tri thức khoa học công nghệ, kỹ thuật trở thành
nguồn lực quan trọng, có ý nghĩa quan trọng trong xã hội ngày nay.
Tiềm năng của trí tuệ
Có thể nói các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong
khi đó nguồn lực con người mà cái cốt lõi là trí tuệ lại có tiềm năng vô tận.
Tiềm năng vô tận của trí tuệ con người thể hiện ở chỗ nó có khả năng tự sản
sinh, đổi mới và phát triển không ngừng nếu biết chăm lo bồi dưỡng và khai
thác hợp lý.
Lịch sử xã hội loài ngưòi là lịch sử lao động sản xuất, do đó tiềm năng vô
tận của trí tuệ cũng được thể hiện ở lịch sử lao động sản xuất. Trong quá trình
cho nhân viên hiểu rằng khách hàng là tối quan trọng, không có khách có
nghĩa là không còn khách sạn và họ sẽ không có cơ hội được làm việc nữa. Vì
vậy, nếu tổ chức tốt công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ làm tăng hiệu quả
kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho khách sạn. Khách sạn chỉ có thể tồn tại
và phát triển bằng cách thu hút, đào tạo, động viên, những người có năng lực
công việc, thực hiện tốt chức năng quản trị nguồn nhân lực.
Trong thời đại mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì việc ứng
dụng công nghệ thông tin vào một số khâu của hoạt động kinh doanh khách
sạn nhằm giảm bớt lao động thủ công, nâng cao năng suất lao động, tạo ra
hiệu quả trong kinh doanh là yêu cầu cấp thiết. Điểu này đòi hỏi cần có đội
ngũ nhân viên có trình độ và tay nghề để đáp ứng yêu câù của công việc. Từ
đó nảy sinh yêu cầu về đào tạo và đào tạo lại nhân viên của khách sạn theo
kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đồng thời cũng cần
phải tuyển dụng thêm những nhân viên mới có trình độ, kỹ năng làm việc, có
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 Khoa du lịch và khách sạn
tác phong nhanh nhẹn và sự sáng tạo trong lao động sản xuất. Đó là những
công việc đòi hỏi sự tổ chức tốt trong công tác quản trị nguồn nhân lực.
Tóm lại không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu
quản trị nguồn nhân lực. Quản trị nguồn nhân lực là một trong bốn nhánh của
quản trị đó là quản trị marketing, tài chính, tác nghiệp, nhân lực do đó mà
quản trị nhân lực không thể thiếu của quản trị kinh doanh. Quản trị nhân lực
thường là thành công hay thất bại trong các hoạt động kinh doanh. Mặt khác
quản lý các nguồn lực khác sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý
tốt nguồn nhân lực, bởi vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện
bởi con người.
1.2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh khách sạn
1.2.1 Khái niệm về khách sạn, hoạt động kinh doanh khách sạn.
* Khái niệm về khách sạn.
Có thể nói ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế, xã hội phổ
Khách sạn là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác
phục vụ khách lưu trú, khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”
*Khái niệm về hoạt động kinh doanh khách sạn.
Ban đầu hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ là nhằm phục vụ chỗ ngủ qua
đêm cho khách có tiền để trả. Dần dần nhu cầu của khách nâng lên, họ đến
khách sạn không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu về nghỉ ngơi nữa mà còn muốn
đáp ứng các nhu cầu về ăn uống.
Nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là đời sống của nhân dân ngày
càng nâng cao, nhu cầu về nghỉ ngơi, thư giãn, đi du lịch ngày một tăng. Cùng
với sự phát triển của ngành du lịch, sự cạnh tranh gay gắt giữa các khách sạn
diễn ra nhằm thu hút khách, nhất là khách có khả năng chi trả cao. Vì vậy mà
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10 Khoa du lịch và khách sạn
các khách sạn đã mở rộng thêm các dịch vụ ngoài ăn uống, nghỉ ngơi còn có
các dịch vụ thể thao, giải trí, làm đẹp…
Kinh doanh khách sạn không chỉ cung cấp các dịch vụ tự mình có thể đảm
nhiệm mà còn bán các sản phẩm thuộc những ngành và lĩnh vực khác trong
nền kinh tế như công nghiệp nhẹ, dịch vụ ngân hàng,dịch vụ bưu chính viễn
thông…. Như vậy hoạt động kinh doanh khách sạn đã cung cấp cho khách
những dịch vụ của mình đồng thời còn là trung gian tiêu thụ sản phẩm khác
trong nền kinh tế quốc dân.
Có thể nói hoạt động kinh doanh khách sạn ngày càng được mở rộng và
phong phú đa dạng về thể loại. Do vậy mà ngày nay người ta vẫn thừa nhận
khái niệm kinh doanh khách sạn theo cả nghĩa rộng và hẹp. Tuy nhiên trên
phương diện chung nhất có thể định nghĩa về kinh doanh khách sạn như sau
“ Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các
nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí cho họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi.”
< TS Nguyễn Văn Mạnh, ThS Hoàng Thị Lan Hương, Quản trị kinh doanh
khách sạn, NXB Lao động Xã hội, 2004, trang15>
Chất lượng sản phẩm khách sạn đòi hỏi luôn luôn phải cao, nhu cầu của con
người ngày càng tăng lên , sức ép về sự cạnh tranh trên thi trường ngày càng
gay gắt. Điểu đó đòi hỏi các khách sạn phải thường xuyên đổi mới cơ sở vật
chất kỹ thuật, trang thiết bị tiện nghi, hiện đại. Do đó mà quá trình đầu tư cho
việc nâng cấp, sửa sang, thay mới các trang thiết bị cũng diễn ra một cách liên
tục. Điều này cũng cần tới vốn đầu tư cao.
Mặt khác các khách sạn thường được xây dựng ở những nơi có vị thế đẹp,
gần các trục đường giao thông lớn, nơi có nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn…
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12 Khoa du lịch và khách sạn
Vì vậy lượng vốn cho việc mua đất đai, chi phí ban đầu cho xây dựng cơ sở
hạ tầng của khách sạn cũng rất lớn.
Đây là những nguyên nhân dẫn tới kinh doanh khách sạn đòi hỏi chi phí đầu
tư ban đầu lớn và liên tục.Nghành khách sạn phải làm cho cái áo luôn hợp
mốt trong mọi trường hợp.
Thứ ba là kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương
đối lớn.
Ngành kinh doanh khách sạn là một ngành dịch vụ, sản phẩm của hoạt động
kinh doanh khách sạn chủ yếu là dịch vụ và nó chiếm tới 80-90% giá trị của
sản phẩm.Do vậy mà hoạt động kinh doanh này chủ yếu sử dụng lực lượng
lao động sống là con người.
Nhu cầu của du khách về các dịch vụ của khách sạn ngày càng cao hơn về
số lượng và chất lượng. Yêu cầu này đòi hỏi các nhà kinh doanh khách sạn
phải không ngừng nâng cao sản phẩm của mình, đặc biệt là nâng cao thái độ
phục vụ của nhân viên. Để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch thì cần có sự
chuyên môn hóa trong phân công lao động dẫn đến đòi hỏi nhiều lao động
trực tiếp hơn. Thời gian hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào thời gian tiêu
dùng của khách, do đó lao động phải 24/24 giờ một ngày tạo thành những ca
kíp làm việc.
Sản phẩm của khách sạn không mang tính dập khuôn do đó không thể dùng
đich của con người . Lao động là một hành động diễn ra giữa người với giới
tự nhiên. Lao động là sự vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của con
người, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy
những vật chất trong tự nhiên, làm biến đổi vật chất đó và làm cho chúng
thích ứng để thỏa mãn nhu cầu của mình. Chính vì thế lao động là điều kiện
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14 Khoa du lịch và khách sạn
không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh viễn, là
kẻ môi giới trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên và con người. Lao động
chính là việc sử dụng sức lao động . Theo nghĩa đó lao động là sự thống nhất
giữa con người và kinh tế, cá nhân và xã hội, con người và hoàn cảnh. Vì vầy
mà Cac Mac cho rằng”Khi nói đến lao động thì người ta trực tiếp bàn đến bản
thân con người”< TS Trần Thị Minh Hòa- Giáo trình kinh tế du lịch NXB Lao
động xã hội>.
Từ những đặc điểm về lao động ở trên thì trong hoạt động kinh doanh khách
sạn lao động còn có những đặc điểm sau:
1.3.1. Lao động trong khách sạn mang tính chuyên môn hóa cao.
Sản phẩm của khách sạn được tạo ra theo một quy trình mang tính tổng
hợp cao và rất đa dạng. Quá trình tiêu dùng sản phẩm khách sạn của khách
du lịch đó là một quá trình và được chia thành từng giai đoạn có liên quan
chặt chẽ với nhau. Sự gia tăng của giá trị sản phẩm khách sạn tạo ra ở mỗi
giai đoạn phụ thuộc vào tính chuyên môn hóa theo bộ phận. Trong khách sạn
có nhiều bộ phận và ỏ mỗi một bộ phận thì có các chức năng, nhiệm vụ khác
nhau. Lao động thuộc bộ phận lễ tân đòi hỏi người lao động phải có khả năng
giao tiếp với khách và kỹ năng bán hàng. Lao động thuộc bộ phân buồng đòi
hỏi phải cẩn thận, nắm vững các nghiệp vụ buồng… Điều này đòi hỏi khi
tuyển dụng cần phải theo chuyên ngành và được đào tạo chuyên sâu, nó gây
ra sự khó khăn trong việc bố trí, thay thế lẫn nhau của nhân viên giữa các bộ
phận.
Do mỗi người chỉ làm một công việc nhất định trong một giai đoạn. Điều
vực sản xuất hàng hóa và lao động trong lĩnh vực dịch vụ.
Xuất phát từ đặc điểm “sản phẩm của khách sạn là tất cả những dịch vụ
và hàng hóa mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng kể
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16 Khoa du lịch và khách sạn
từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới khi tiêu
dùng xong và rời khỏi khách sạn”.< TS Nguyễn Văn Mạnh, Ths Hoàng Thị
Lan Hương, Giáo trình quản trị kinh doanh khách sạn NXB Lao động xã
hội,2004 > do đó lao động trong khách sạn bao gồm cả lao động sản xuất vật
chất và lao động sản xuất phi vật chất .
Sản phẩm của hoạt động kinh doanh khách sạn chủ yếu là dịch vụ bao gồm
dịch vụ buồng ngủ, dịch vụ ăn uống nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của
khách khi họ lưu lại tại khách sạn và các dịch vụ bổ sung: giặt là, điện thoại,
internet… , lao động sản xuất ra hàng hóa là rất ít do vậy mà lao động sản
xuất phi vật chất chiếm tỷ trọng nhiều hơn. Khu vực sản xuất phi vật chất
được đánh giá qua sự cảm nhận của du khách do đó mà rất khó khăn trong
việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công việc của nhân viên cũng như việc
phân phối thu nhập giữa các bộ phận, khó có sự công bằng và không thể tuyệt
đối được.
1.3.4. Quá trình lao động trong khách sạn khó áp dụng cơ giới hóa và tự
động hóa.
Xuất phát từ đặc điểm sản phẩm của khách sạn chủ yếu là dịch vụ, mà dịch
vụ khách sạn lại do chính con người tạo ra nên bao giờ sản phẩm của khách
sạn cũng phải có yếu tố con người hay nói cách khác nếu thiếu con người thì
sẽ không có những dịch vụ đó. Vì vậy mà nhân tố quyết định tới chất lượng
sản phẩm của khách sạn chính là yếu tố con người. Hơn thế nữa sản phẩm
dịch vụ của khách sạn mang tính vô hình, do sản phẩm khách sạn không tồn
tại dưới dạng vật chất, không cân, đong, đo, đếm, sờ, nếm…. việc đánh giá
chất lượng sản phẩm là phụ thuộc vào cảm nhận của khách du lịch, nó không
có sự giập khuôn cho các sản phẩm. Do đó đòi hỏi nhân viên phải khéo léo,
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18 Khoa du lịch và khách sạn
1.4 Quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.
1.4.1 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì công tác quản trị nguồn nhân lực
cũng có các mục tiêu cơ bản sau:
+Sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được các mục
tiêu của tổ chức như tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh.
+Quản trị nguồn nhân lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và
chất lượng lao động cần thiết cho khách sạn để đạt được mục tiêu đặt ra.
+Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho họ
phát huy tối đa năng lực,các cá nhân được khuyến khích động viên tại nơi làm
việc và trung thành với khách sạn.
+Xây dựng đội ngũ người lao động có chất lượng cao đáp ứng được
mục tiêu quản lý và phát triển của doanh nghiệp.
+Quản trị nguồn nhân lực giúp tìm kiếm và phát triển những hình thức,
phương pháp tốt nhất để người lao động có thể đóng góp sức lực cho việc đạt
được các mục tiêu của khách sạn, tạo điều kiện cho phát triển không ngừng
bản thân người lao động.
1.4.2 Nội dung của quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.
Quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn là một trong những hoạt động quản
trị quan trọng nhất của khách sạn. Nó được xem là một công việc khó khăn.
Nội dung của quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn bao gồm các nội dung
chính sau:
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 19 Khoa du lịch và khách sạn
Sơ đồ 1.1 :Quá trình quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn
1.4.2.1 Kế hoạch hóa nguồn nhân lực.
Sơ đồ 1.2: Quá trình kế hoạch hóa nguồn nhân lực
+Dự đoán cầu nhân lực
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Cầu sản phẩm Năng suất lao động
Thị trường lao
động bên trong
Thị trường lao
động bên ngoài
Cầu lao động
Cung lao động
Những điều kiện và các giải pháp lựa chọn
N
h
ữ
n
g
đi
ều
ki
ện
và
cá
c
gi
ải
p
há
p
lự
a
Cầu nhân lực bằng cung nhân lực.
Trong trường hợp này là lý tưởng đối với khách sạn khi mà nhu cầu về nhân
lực cần thiết để hoàn thành công việc, số lượng sản phẩm dịch vụ bằng với số
lượng lao động hiện có của khách sạn. Vì vậy khách sạn cần phải đảm bảo để
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
N
h
ữ
n
g
đi
ều
ki
ện
và
cá
c
gi
ải
p
há
p
lự
a
ch
ọ
n
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22 Khoa du lịch và khách sạn
nguồn nhân lực hoạt động có hiệu quả, nâng cao năng suất của đội ngũ lao
động của khách sạn.
-Người lãnh đạo trực tiếp
-Các nhiệm vụ chính
-Các nhiệm vụ phụ
-Các mối quan hệ
- Quyền hạn
-Thời gian và điều kiện làm việc
Như vậy bản mô tả công việc như là cơ sở pháp lý để quản lý người lao động,
là một trong những công cụ có thể sử dụng để đo lường việc thực hiện bổn
phận của người lao động theo từng chức danh mà họ đảm nhiệm.
+Yêu cầu công việc đồi với người thực hiện
Bản yêu cầu công việc đối với người thực hiện là bản liệt kê các đòi hỏi của
công việc với người thực hiện. Nó là tài liệu trình bày các yêu cầu về kiến
thức, kỹ năng và thái độ mà một cá nhân cần phải có để có thể hoàn thành tốt
công việc của mình .
Cấu trúc bản yêu cầu của công việc
-Chức danh
-Bộ phận
-Người lãnh đạo trực tiếp
-Yêu cầu về kiến thức
-Yêu cầu về kỹ năng
-Yêu cầu về giáo dục
-Yêu cầu về kinh nghiệm
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24 Khoa du lịch và khách sạn
Bản yêu cầu công việc đối với người thực hiện chỉ nên gồm các yêu cầu về
chuyên môn liên quan tới công việc của người thực hiện, không nên có những
yêu cầu quá cao không cần thiết.
Bản yêu cầu công việc đối với người thực hiện giúp chúng ta hiểu được
khách sạn cần loại nhân lực như thế nào để thực hiện tốt nhất công việc được
giao.
-Lựa chọn về hình thức, phương tiện và nội dung của quảng cáo
-Quy định về thời gian, hình thức và thủ tục tiếp nhận hồ sơ
* Quy trình tuyển mộ nhân lực trong khách sạn
B1: Lập kế hoạch tuyển mộ
Trong hoạt động tuyển mộ thì khách sạn phải xác định được số lượng người
cần tuyển mộ cho từng vị trí công việc. Số lượng người tuyển mộ thông
thường là luôn lớn hơn số lượng người cần tuyển chọn để phục vụ nhu cầu
của công việc. Trong việc lập kế hoạch tuyển mộ đối với từng bộ phận khác
nhau trong khách sạn thì chúng ta phải xác định được tỷ lệ sàng lọc một cách
hợp lý và chính xác.
B2: Xác định nguồn và phương pháp tuyển mộ
Nhằm tuyển mộ được đủ chất lượng và số lượng người lao động mà khách
sạn cần thì khách sạn phải căn cứ vào từng vị trí công việc để lấy người ở
trong nội bộ khách sạn hay ngoài khách sạn
* Khi tuyển mộ trong nội bộ khách sạn thì có thể sử dụng các phương pháp
sau
+ Sử dụng bảng “niêm yết công việc” nó là bảng tuyển người công khai tới
mọi nhân viên trong khách sạn.Thông báo này bao gồm các thông tin về
nhiệm vụ thuộc công việc và các yêu cầu về trình độ cần tuyển mộ.
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B