Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 Khoa du lịch và khách sạn
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Trường Đại Học kinh Tế Quốc Dân
Khoa Du Lịch & Khách Sạn
------------------------
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI NHÀ KHÁCH
TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Hoàng Thị Lan Hương
Sinh viên thực hiện : Lại Thị Trà
Lớp : Du Lịch 46B
Hệ : Chính Quy
Hà Nội 4 - 2007
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 Khoa du lịch và khách sạn
Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài:
Trong xu thế phát triển chung hiện nay, du lịch đã trở thành hiện tượng phổ
biến đối với hâù hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Với
điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên cùng với chính sách
của nhà nước ta về định hướng phát triển ngành du lịch Việt Nam trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn.Khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều đặc
biệt là sau khi Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC vào tháng 12 năm
2006 và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Khách quốc tế đến Việt
Nam năm 2005 là 3.5 triệu lượt người, đến năm 2007 là gần 4 triệu người.
Chính vì vậy mà hệ thống kinh doanh du lịch cũng phát triển mạnh mẽ nhằm
cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của du khách, mang lại doanh
thu cho doanh nghiệp và quốc gia.
Trong sự phát triển về cơ sở vật chất giành cho du lịch , chúng ta không thể
Bản chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngoài phần mở bài và kết luận gồm 3
chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực trong kinh doanh khách sạn
Chương II:Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại nhà khách tổng
liên đoàn lao động Việt Nam.
Chương III:Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân
lực tại nhà khách tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 Khoa du lịch và khách sạn
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực trong
kinh doanh khách sạn.
1.1 Cơ sở lý luận về quản trị nhân lực.
1.1.1 Khái niệm về nhân lực, quản trị nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân
lực trong khách sạn
Khái niệm về nhân lực
Bất cứ một tổ chức, doanh nghiệp nào họat động trong các lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, dịch vụ,…. Thì đều cần các yếu tố về nguồn vốn, cơ sở vật chất
kỹ thuật,nhân lực.
Theo từ điển Hán Việt thì “nhân ở đây có nghĩa là con người, lực tức là sức,
là thể lực và trí lực của con người”. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi
con người về thể lực và trí lực.
“ Thể lực là chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng
sức khoẻ của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ
ngơi,thể lực con nguời phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính.”
“ Trí lực là chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng,
nhân cách… của từng người.” Sức lao động tồn tại gắn liền với bản thân con
người, là sản phẩm của lịch sử hình thành trong quá trình sản xuất. Trong qúa
trình sản xuất kinh doanh truyền thống thì việc tận dụng tối đa các tiềm năng
về thể lực của con ngưòi là không bao giờ thiếu hoặc bị lãng quên và khai
thác gần như cạn kiệt. Nhưng còn tiềm năng về trí lực của con người đó là vô
cho họ có thể đóng góp tốt nhất vào sự thành công của khách sạn”
(TS Nguyễn Văn Mạnh, ThS Hoàng Thị Lan Hương, giáo trình quản trị kinh
doanh khách sạn, NXB lao động, xã hội, 2004, trang101)
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 Khoa du lịch và khách sạn
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong hoạt động kinh doanh.
Nhân lực, chìa khoá của sự thành công
Nhân lực luôn luôn đựơc xem là yếu tố tạo nên sự phát triển và thành công
của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có thể có công nghệ hiện đại, chất lượng
dịch vụ tốt, cơ sở hạ tầng kiên cố nhưng nếu thiếu lực lượng lao động thì
doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại.
Có thể nói chính con nguời tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp.
Nguồn lực con người là nhân tố chính tạo ra vốn và đề xuất những ý tưởng
mới, đồng thời cũng đảm nhận vai trò chọn lựa và ứng dụng các công nghệ
tiên tiến. Trong nhiều trường hợp, vốn và công nghệ có thể huy động và thực
hiện, nhưng để xây dựng đựơc một đội ngũ nhân viên nhiệt tình,tận tâm, có
khả năng thích hợp và làm việc có hiệu quả thì phức tạp và tốn kém hơn
nhiều.
Vì thế bất cứ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ thì đều cần phải tập trung
tăng cường và phát huy khả năng của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Như chúng ta đã biết gía trị của hàng hoá đựơc cấu thành bởi hai bộ phận
chủ yếu là giá trị chuyển dịch của các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất
ra sản phẩm. Trong qúa trình tạo thành giá trị của sản phẩm thì giá trị của
những yếu tố này không làm gia tăng thêm mà chỉ chuyển hóa gía trị vốn của
nó vào sản phẩm mới. Do đó bộ phận gía trị này không tạo ra lợi nhuận. Bộ
phận thứ hai đó là giá trị gia tăng. Đó là bộ phận chênh lệch giữa giá trị của
sản phẩm với gía trị chuyển dịch. Phần gía trị này về cơ bản là do lao động
sáng tạo ra. Đó chính là nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược
muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hướng
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 Khoa du lịch và khách sạn
tinh giảm, gọn nhẹ, trong đó con người mang tính quyết định. Con người với
kỹ năng,trình độ của mình sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng
lao động để tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Quá trình này cũng được tổ
chức và điều khiển bởi con người nhằm quản trị nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp .
Sản phẩm mà doanh nghiệp tạo ra là nhằm hướng tới khách hàng. Bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng đều mong muốn thu hút dược nhiều khách hàng đến
tiêu dùng sản phẩm của mình. Do đó, khách hàng là yếu tố sống còn của một
doanh nghiệp. Khác với các loại hình kinh doanh khác, đối với hoạt động
kinh doanh khách sạn thì yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo ra sản phẩm khách
sạn chính là con người. Chất lượng của đội ngũ lao động quyết định tới chất
lượng của dịch vụ mà khách sạn cung cấp cho khách hàng và nó cũng quyết
định sự thành công của khách sạn trên thị trường. Chính vì vậy mà phải làm
cho nhân viên hiểu rằng khách hàng là tối quan trọng, không có khách có
nghĩa là không còn khách sạn và họ sẽ không có cơ hội được làm việc nữa. Vì
vậy, nếu tổ chức tốt công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ làm tăng hiệu quả
kinh doanh, mang lại lợi nhuận cho khách sạn. Khách sạn chỉ có thể tồn tại
và phát triển bằng cách thu hút, đào tạo, động viên, những người có năng lực
công việc, thực hiện tốt chức năng quản trị nguồn nhân lực.
Trong thời đại mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì việc ứng
dụng công nghệ thông tin vào một số khâu của hoạt động kinh doanh khách
sạn nhằm giảm bớt lao động thủ công, nâng cao năng suất lao động, tạo ra
hiệu quả trong kinh doanh là yêu cầu cấp thiết. Điểu này đòi hỏi cần có đội
ngũ nhân viên có trình độ và tay nghề để đáp ứng yêu câù của công việc. Từ
đó nảy sinh yêu cầu về đào tạo và đào tạo lại nhân viên của khách sạn theo
kịp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đồng thời cũng cần
phải tuyển dụng thêm những nhân viên mới có trình độ, kỹ năng làm việc, có
Trong quá trình phát triển,khách sạn luôn có sự thay đổi cả về số lượng và
chất lượng.Song song với các khách sạn lớn thì một hệ thống các khách sạn
nhỏ với cơ sở vật chất, trang thiết bị khiêm tốn cũng hình thành. Do vậy mà
đã tạo ra sự khác nhau trong cách phục vụ và mức độ cung cấp dịch vụ trong
các khách sạn. Đây là một trong những nguyên nhân mà hiện nay vẫn tồn tại
rất nhiều định nghĩa về khách sạn .
Theo nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách” Welcome to
Hospitalỉy” xuất bản năm 1995 thì:”Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể
trả tiền để thuê buồng ngủ qua đêm ở đó. Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong
phải có ít nhất hai phòng nhỏ( phòng ngủ và phòng tắm). Mỗi buồng khách
đều có giường, điện thoại và vô tuyến. Ngoài dịch vụ buồng ngủ có thể có
thêm các dịch vụ khác như:dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương
mại( với thiết bị photocopy), nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí.
Khách sạn có thể được xây dựng ở gần hoặc bên trong các khu thương mại,
khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay”.
Theo luật du lịch nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội,2006 thì”
Khách sạn là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác
phục vụ khách lưu trú, khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”
*Khái niệm về hoạt động kinh doanh khách sạn.
Ban đầu hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ là nhằm phục vụ chỗ ngủ qua
đêm cho khách có tiền để trả. Dần dần nhu cầu của khách nâng lên, họ đến
khách sạn không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu về nghỉ ngơi nữa mà còn muốn
đáp ứng các nhu cầu về ăn uống.
Nền kinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là đời sống của nhân dân ngày
càng nâng cao, nhu cầu về nghỉ ngơi, thư giãn, đi du lịch ngày một tăng. Cùng
với sự phát triển của ngành du lịch, sự cạnh tranh gay gắt giữa các khách sạn
diễn ra nhằm thu hút khách, nhất là khách có khả năng chi trả cao. Vì vậy mà
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11 Khoa du lịch và khách sạn
các khách sạn đã mở rộng thêm các dịch vụ ngoài ăn uống, nghỉ ngơi còn có
đó quy mô của khách sạn ở nơi đó càng lớn và như vậy là tài nguyên du lịch
đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh khách sạn. Giá trị và sức hấp dẫn của
tài nguyên du lịch có tác dụng tới thứ hạng của khách sạn.Tài nguyên du lịch
ở mỗi địa điểm, vùng có một, một số đặc điểm riêng đó là tài nguyên du lịch
thiên nhiên biển,leo núi…tài nguyên du lịch nhân văn. Mỗi loại tài nguyên du
lịch sẽ chỉ hấp dẫn , thu hút một số đối tượng khách nhất định hay còn gọi là
thị trường khách. Vì vậy khi đầu tư vào hoạt động kinh doanh khách sạn đòi
hỏi phải tìm hiểu , nghiên cứu kỹ tài nguyên du lịch cũng như các nhóm
khách hàng mà chúng ta định hướng tới.
Thứ hai là kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn.
Nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp mang tính tổng hợp đòi hỏi phải được
thỏa mãn một cách đồng bộ của con người.Vẫn là các nhu cầu về ăn,ở , ngủ,
nghỉ nhưng khi đi du lịch thi những nhu cầu này đòi hỏi về chất lượng cao,
trang thiết bị phòng ngủ phải tiện nghi, hiện đại… Chính vì vậy để tạo ra sản
phẩm khách sạn với các đặc điểm trên thì đòi hỏi cần phải đầu tư một lượng
vốn ban đầu tương đối lớn.
Chất lượng sản phẩm khách sạn đòi hỏi luôn luôn phải cao, nhu cầu của con
người ngày càng tăng lên , sức ép về sự cạnh tranh trên thi trường ngày càng
gay gắt. Điểu đó đòi hỏi các khách sạn phải thường xuyên đổi mới cơ sở vật
chất kỹ thuật, trang thiết bị tiện nghi, hiện đại. Do đó mà quá trình đầu tư cho
việc nâng cấp, sửa sang, thay mới các trang thiết bị cũng diễn ra một cách liên
tục. Điều này cũng cần tới vốn đầu tư cao.
Mặt khác các khách sạn thường được xây dựng ở những nơi có vị thế đẹp,
gần các trục đường giao thông lớn, nơi có nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn…
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13 Khoa du lịch và khách sạn
Vì vậy lượng vốn cho việc mua đất đai, chi phí ban đầu cho xây dựng cơ sở
hạ tầng của khách sạn cũng rất lớn.
Đây là những nguyên nhân dẫn tới kinh doanh khách sạn đòi hỏi chi phí đầu
tư ban đầu lớn và liên tục.Nghành khách sạn phải làm cho cái áo luôn hợp
quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý con người là rất lớn.
Sự phụ thuộc vào tài nguyên du lịch mà đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên .
Với những biến động được lặp đi lặp lại của thời tiết khí hậu trong năm, nó
luôn tạo ra các thay đổi theo những quy luật nhất định trong giá trị và sức hấp
dẫn của tài nguyên đối với khách du lịch, từ đó tạo ra sự biến động theo mùa
của lượng cầu du lịch đến các điểm du lịch.Do đó tạo ra sự thay đổi theo mùa
trong kinh doanh của khách sạn. vd Các khách sạn nghỉ dưỡng ở các điểm du
lịch biển thì hoạt động chủ yếu vào mùa hè do khi đó nhiệt độ của nước là
phù hợp vời các đối tượng khách du lịch.
Quy luật về tâm sinh lý của con người như ăn ngủ nghỉ ngơi, quy luật kinh
tế xã hội cũng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh khách sạn. Nắm
được điều này, các nhà quản lý phải tính tới tác động của quy luật để có thể
phân bổ lao động hợp lý, tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả của hoạt động kinh
doanh.
1.3. Đặc điểm của lao động trong kinh doanh khách sạn.
Trước tiên ta hiểu về bản chất của lao động? Lao động là hoạt động có mục
đich của con người . Lao động là một hành động diễn ra giữa người với giới
tự nhiên. Lao động là sự vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của con
người, sử dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy
những vật chất trong tự nhiên, làm biến đổi vật chất đó và làm cho chúng
thích ứng để thỏa mãn nhu cầu của mình. Chính vì thế lao động là điều kiện
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15 Khoa du lịch và khách sạn
không thể thiếu được của đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh viễn, là
kẻ môi giới trong sự trao đổi vật chất giữa tự nhiên và con người. Lao động
chính là việc sử dụng sức lao động . Theo nghĩa đó lao động là sự thống nhất
giữa con người và kinh tế, cá nhân và xã hội, con người và hoàn cảnh. Vì vầy
mà Cac Mac cho rằng”Khi nói đến lao động thì người ta trực tiếp bàn đến bản
thân con người”< TS Trần Thị Minh Hòa- Giáo trình kinh tế du lịch NXB Lao
động xã hội>.
vùng miền, dân tộc khác nhau do đó mà tính cách, đặc trưng dân tộc, phong
tục tập quán…. Là rất khác nhau. Nó đòi hỏi phong cách phục vụ cũng như
nội dung phục vụ phải rất khác nhau. Để làm thỏa mãn nhu cầu của du khách
trong quá trình khách tiêu dùng sản phẩm của khách sạn thì các nhân viên
phải luôn luôn niềm nở, khéo léo linh hoạt ngay cả khi tâm trạng của người
đó không vui vẻ , thoải mái.
Quá trình lao động trong kinh doanh khách sạn không có ngày lễ, ngày nghỉ.
Bởi vì khách sạn dường như làm việc 365 ngày trên năm, 24 giờ trên ngày và
không có thời gian đóng cửa. Càng vào các ngày lễ, ngày nghỉ là ngày đi du
lịch của công nhân viên các ngành khác thì đó lại là những ngày bận rộn nhất
đối với những người làm trong lĩnh vực kinh doanh khách sạn. Điều đó đã
ảnh hưởng lớn tới công tác sử dụng nguồn nhân lực và công tác quản trị
nguồn nhân lực. Nhà quản trị không nên dùng các biện pháp như khiển trách
nhân viên trước mặt khách, kỷ luật đối với lao động trực tiếp mà nên có các
chế độ khen thưởng, khuyến khích.
1.3.3. Lao động trong kinh doanh khách sạn bao gồm cả lao động trong lĩnh
vực sản xuất hàng hóa và lao động trong lĩnh vực dịch vụ.
Xuất phát từ đặc điểm “sản phẩm của khách sạn là tất cả những dịch vụ
và hàng hóa mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng kể
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17 Khoa du lịch và khách sạn
từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho tới khi tiêu
dùng xong và rời khỏi khách sạn”.< TS Nguyễn Văn Mạnh, Ths Hoàng Thị
Lan Hương, Giáo trình quản trị kinh doanh khách sạn NXB Lao động xã
hội,2004 > do đó lao động trong khách sạn bao gồm cả lao động sản xuất vật
chất và lao động sản xuất phi vật chất .
Sản phẩm của hoạt động kinh doanh khách sạn chủ yếu là dịch vụ bao gồm
dịch vụ buồng ngủ, dịch vụ ăn uống nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của
khách khi họ lưu lại tại khách sạn và các dịch vụ bổ sung: giặt là, điện thoại,
internet… , lao động sản xuất ra hàng hóa là rất ít do vậy mà lao động sản
khách sạn. Ngoài mùa vụ thì lao động lại nhàn rỗi hơn và công việc không
đều. Vì vậy gây khó khăn trong việc tổ chức quản lý lao động. Nhà quản lý
phải biết cách giải quyết hài hoà giữa tính mùa vụ với sắp xếp bố trí lao động
một cách hợp lý.
Như vậy có thể nói lao động trong khách sạn có đặc điểm khác so với các
lĩnh vực khác. Các nhà quản trị phải nắm vững được các đặc điểm đó để từ đó
có cách tổ chức quản lý nguồn lực trong khách sạn một cách phù hợp, mang
lại hiệu quả cao, đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
Đặc điểm của lao động trong khách sạn đòi hỏi công tác quản trị nguồn nhân
lực phải :
+Vừa tiết kiệm lao động vừa bảo đảm chất lượng lao động trong khi lao
động trong khách sạn có hệ số luân chuyển cao, có xu hướng tăng và lớn hơn
so với các lĩnh vực khác.
+Định mức lao động, xác định nhiệm vụ cụ thể chính xác cho từng
chức danh, bảo đảm tính hợp lý , công bằng trong phân phối lợi ích cả về vật
chất lẫn tinh thần.
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 19 Khoa du lịch và khách sạn
1.4 Quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.
1.4.1 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì công tác quản trị nguồn nhân lực
cũng có các mục tiêu cơ bản sau:
+Sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được các mục
tiêu của tổ chức như tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh.
+Quản trị nguồn nhân lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và
chất lượng lao động cần thiết cho khách sạn để đạt được mục tiêu đặt ra.
+Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho họ
phát huy tối đa năng lực,các cá nhân được khuyến khích động viên tại nơi làm
việc và trung thành với khách sạn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 21 Khoa du lịch và khách sạn
trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi vì người ta thường
nói”người hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.Vì vậy kế hoạch hóa nguồn
nhân lực có vai trò quan trọng như kế hoạch hóa về vốn và các nguồn tài
chính của tổ chức.
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và đứng vững trong cạnh tranh cần
thiết phải tiến hành kế hoạch hóa chiến lược nguồn nhân lực.
Kế hoạch hóa nguồn nhân lực là cơ sở cho các hoạt động biên chế nguồn
nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nó điều hòa các hoạt động
nguồn nhân lực.
Kế hoạch hóa nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ tới kế hoạch hóa chiến
lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô và cơ cấu lực lượng lao
động phải được xác định dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp đó. Do đó để đạt được mục tiêu của tổ chức thì kế hoạch hóa nguồn
nhân lực phải xuất phát từ kế hoạch sản xuất kinh doanh, phục vụ kế hoạch
sản xuất kinh doanh của tổ chức.
Sơ đồ 1.2: Quá trình kế hoạch hóa nguồn nhân lực
+Dự đoán cầu nhân lực
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Cầu sản phẩm Năng suất lao động
Thị trường lao
động bên trong
Thị trường lao
động bên ngoài
Cầu lao động
Cung lao động
Những điều kiện và các giải pháp lựa chọn
N
h
ữ
Cung nhân lực là số lượng người ở trong và ngoài khách sạn sẵn sàng làm
việc cho khách sạn.
Cung nhân lực cho khách sạn bao gồm cung từ bên trong và bên ngoài
khách sạn.
+Cân đối cung và cầu về nhân lực, các giải pháp khắc phục sự mất cân
đối cung cầu.
Sau khi khách sạn đã dự đoán được số lượng cung cầu nhân lực cho từng bộ
phận của mình, nếu:
Cung lớn hơn cầu nhân lực, điều này có thể do nhu cầu về sản phẩm,
dịch vụ của khách sạn bị giảm sút dẫn đến dư thừa lao động, hoặc cũng có
thể do hoạt động kinh doanh của khách sạn bị thua lỗ nên cần phải giảm bớt
lao động.
Cung về nhân lực nhỏ hơn cầu về nhân lực. Trường hợp này nhu cầu
về lao động cho hoạt động kinh doanh của khách sạn đòi hỏi lớn hơn số lượng
lao động có khả năng đáp ứng. Vì vậy khách sạn cần có các biện pháp để khai
thác và huy động lực lượng lao động bên trong và ngoài khách sạn.
Cầu nhân lực bằng cung nhân lực.
Trong trường hợp này là lý tưởng đối với khách sạn khi mà nhu cầu về nhân
lực cần thiết để hoàn thành công việc, số lượng sản phẩm dịch vụ bằng với số
lượng lao động hiện có của khách sạn. Vì vậy khách sạn cần phải đảm bảo để
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
N
h
ữ
n
g
đi
ều
ki
ện
người lao động và làm cho họ hiểu được các kỳ vọng đó. Nhờ đó người lao
động hiểu được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong công việc. Đồng thời
phân tích công việc là điều kiện để có thể thực hiện được các hoạt động quản
trị nguồn nhân lực có hiệu quả.
Là công cụ quan trọng của quản trị nguồn nhân lực, là một phần không
thể thiếu của quản trị nguồn nhân lực trong khách sạn.
+ Mô tả công việc
Bản mô tả công việc là một văn bản viết nhằm giải thích các nhiệm vụ trách
nhiệm, điều kiện làm việc. Nó xác định phải làm gì, làm ở đâu và mô tả công
việc một cách ngắn gọn là làm như thế nào, …
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24 Khoa du lịch và khách sạn
Cấu trúc bản mô tả công việc
-Chức danh
-Bộ phận
-Người lãnh đạo trực tiếp
-Các nhiệm vụ chính
-Các nhiệm vụ phụ
-Các mối quan hệ
- Quyền hạn
-Thời gian và điều kiện làm việc
Như vậy bản mô tả công việc như là cơ sở pháp lý để quản lý người lao động,
là một trong những công cụ có thể sử dụng để đo lường việc thực hiện bổn
phận của người lao động theo từng chức danh mà họ đảm nhiệm.
+Yêu cầu công việc đồi với người thực hiện
Bản yêu cầu công việc đối với người thực hiện là bản liệt kê các đòi hỏi của
công việc với người thực hiện. Nó là tài liệu trình bày các yêu cầu về kiến
thức, kỹ năng và thái độ mà một cá nhân cần phải có để có thể hoàn thành tốt
công việc của mình .
- Bếp trưởng và những người phụ việc phải đảm nhận được200 khách hàng ăn
trở lên trong một ngày.”
1.4.2.3 Hoạt động tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải luôn đảm bảo có những nhân
viên có đủ năng lực, trình độ để đảm nhận những công việc cụ thể tại những
vị trí cần thiết, vào những thời điểm thích hợp nhằm hoàn thành được các
mục tiêu đặt ra. Để đạt đươc các mục tiêu thì khách sạn phải lựa chọn được
Lại Thị Trà Lớp: Du lịch 46B