Khái niệm tri thức bản địa bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Dĩ nhiên, không phải đợi
đến thời điểm này, người ta mới phát hiện ra tri thức bản địa, mà thực tế, giờ đây, sau nhiều thế kỷ sử dụng khoa học phương
Tây để chinh phục thiên nhiên và coi nhẹ những kinh nghiệm sống hàng ngày của người dân ở nhiều nơi trên thế giới, các
nhà khoa học mới nhận ra tầm quan trọng của các tri thức bản địa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá…
Việc tái phát hiện này xuất phát từ nhiều lý do như sự nổi lên của các nước thuộc thế giới thứ 3 trên trường quốc tế cả trong
lĩnh vực chính trị, kinh tế và khoa học, sự phổ biến của lý thuyết hậu hiện đại hay ngành học nhân học - những lý thuyết đề
cao vai trò của người trong cuộc, và cả những bế tắc hiện tại của khoa học kỹ thuật phương Tây hiện tại.
Trước đây, vì nhiều lý do, con người luôn cho rằng nhiệm vụ cao cả của mình là cải tạo và chinh phục tự nhiên. Khoa học
phương Tây được coi là chuẩn mực và khuôn mẫu cho cả thế giới noi theo trong suốt một thời gian dài. Khoa học tự nhiên và
xã hội phương Tây luôn cố gắng tìm cách cải biến tự nhiên, tìm hiểu các quy luật một cách khách quan, có thể đo đếm và dự
báo được, để phục vụ cho lợi ích của bản thân loài người. Trên thực tế, loài người đã làm được rất nhiều điều để thực hiện
nhiệm vụ này của mình. Đời sống của con người trở nên thuận tiện hơn từ những phát minh, sáng chế khoa học; các quy luật
tự nhiên – xã hội dần lộ diện, khiến con người không gặp quá nhiều bất ngờ trước những hiện tượng thay đổi trong tự nhiên
cũng như đời sống xã hội. Có quá nhiều những thành tựu mà con người đạt được trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội của
mình.
Nhưng các giới hạn bắt đầu xuất hiện, đặc biệt khi nhiều chương trình phát triển, những áp dụng mô hình khoa học phương
Tây đã bắt đầu gặp khó khăn trong khi triển khai ở các xã hội ngoài phương Tây. Bắt đầu từ đấy, người ta xuất phát nhu cầu
tìm kiếm giải pháp khác. Cùng với những nguyên nhân khách quan khác, khai thác tri thức bản địa trở thành một trào lưu
được ưa thích trên toàn cầu, đặc biệt cho các dự án phát triển tại các nước đang phát triển.
1. Sự phát triển khái niệm tri thức bản địa
Khi nói đến tri thức bản địa, đầu tiên, chúng ta cần thiết phải xác định khái niệm về dân tộc bản địa. Trên thực tế, đây là một
khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa và mang tính tương đối. Công ước 169 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO
Convention 169) định nghĩa về người dân và bộ tộc bản địa là “là những người có các điều kiện xã hội, văn hoá và kinh tế
phân biệt họ với các bộ phận khác của một cộng đồng quốc gia, và địa vị của họ được quy định toàn bộ hoặc một phần bởi
phong tục hay truyền thống, hoặc bởi những luật lệ đặc biệt hay quy định của riêng họ”. Tuy nhiên cũng có những cách hiểu
khác, ví dụ, trong một quốc gia, nhiều khi những tộc người thiểu số được gọi là bản địa. Trên phạm vi toàn cầu, đôi khi người
ta gọi những dân tộc có lịch sử sinh sống lâu đời trên một vùng đất là dân tộc bản địa. Như vậy, người Việt có thể được coi là
dân bản địa ở phương diện thế giới, những không được coi là dân tộc bản địa trong phạm vi quốc gia. Bên cạnh đó, khi nghĩ
về người bản địa, nhiều khi chúng ta nghĩ rằng họ là hiện thân của những giá trị văn hoá truyền thống, hoặc đôi khi, không ít
trong chúng ta cũng quan niệm họ là những người lạc hậu, hay là những cộng đồng chậm tiến hoặc cản trở sự phát triển của
cả một quốc gia.Chúng ta dễ dàng đồng ý với nhau rằng, khi nói đến người bản địa hay tri thức bản địa, chúng ta ngụ ý đến
thế đang lên của tri thức bản địa mà chúng ta phủ nhận hoàn toàn những nỗ lực và thành tựu của khoa học phương Tây từ
trước tới nay. Hai dạng tri thức này có thể bổ sung cho nhau, vì lợi ích con người.
Theo chúng tôi, sự nổi lên của tri thức bản địa trên bản đồ khoa học thế giới bởi 4 lý do chính như sau:
1. Sự nổi lên của thế giới thứ ba: Rõ ràng, với quá trình giành độc lập cho các quốc gia từ sau thế chiến lần 2, các
nước ngoài phương Tây đã ngày càng có vai trò lớn hơn trên bản đồ kinh tế, chính trị và cả khoa học quốc tế. Từ vai trò bị lệ
thuộc vào thế giớ phương Tây trên mọi lĩnh vực, giờ đây, tiếng nói của các nước nhỏ ngày càng có trọng lượng hơn và được
thế giới phương Tây lắng nghe nhiều hơn. Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và rất nhiều các nước khác đã trở thành những cán
cân quyền lực mới buộc các nước phương Tây phải thay đổi cách quan niệm về cách tư duy ngoài phương Tây. Bên cạnh đó,
sự lớn mạnh của đội ngũ các nhà khoa học ngoài phương Tây với sự độc lập tương đối của nó đã khiến cho những tri thức
khác phương Tây giờ không bị coi là phi khoa học hay bị coi thường nữa.
2. Sự bế tắc của khoa học phương Tây: Ngoài lý do của sự nổi lên của các nước, sự bế tắc thực sự của khoa học
phương Tây trong nhiều trường hợp đã khiến nền khoa học này đi tìm những cách lý giải khác với nó. Từ chủ nghĩa duy vật,
chủ nghĩa duy tâm tới các chủ nghĩa thực chứng, phản thực chứng đã bế tắc trong nhiều câu hỏi liên quan đến lý thuyết và
thực tế, đặc biệt là những thực tế ngoài Âu châu. Ví dụ, sự tranh cãi về vật chất và ý thức trở nên không có lời giải và vô bổ
giống như câu chuyện về con gà và quả trứng, hay y học phương Tây, chủ yếu nhấn mạnh đến phương pháp đau đâu chữa
đấy, ban đầu đã không thể hiểu được cách chữa bệnh của Đông Y. Kết quả là, người ta bắt đầu đặt câu hỏi về những mô hình
khoa học phương Tây áp dụng cho phương Đông liệu có còn thích hợp nữa hay không. Đi kèm với nó, việc áp dụng những
kinh nghiệm thực tế ở các địa phương khác nhau đã tìm ra những câu trả lời thực tế cho những bế tắc này. Tất cả những điều
này dẫn đến việc khoa học phương Tây tự nhìn lại mình và tìm đến các tri thức bản địa như một dạng tri thức so sánh và
kiểm nghiệm tính đúng đắn trong các xác nhận khoa học của mình.
3. Việc phổ biến của tri thức nhân học: Nhân học là một ngành khoa học còn tương đối mới mẻ so với các ngành
khoa học khác. Một trong những hạt nhân tư duy của ngành học này là xem xét sự vật như nó vốn có, từ con mắt của chủ thể,
người trong cuộc, chứ không tìm cách áp đặt những đánh giá “khách quan” của các nhà khoa học. Nhân học thực sự phát
triển vào nửa sau của thế kỷ 20 và đóng góp một phần quan trọng, không chỉ trong khoa học, mà trong cách quan niệm của xã
hội về mọi sự vật, hiện tượng. Mọi người, hiện tượng hay sự kiện xã hội được trao quyền và tiếng nói để nói lên tâm tư,
nguyện vọng của mình. Đó chính là một trong những lý do căn bản để người dân tộc thiểu số, các nhóm nhỏ trong xã hội
được lên tiếng và xã hội toàn thể lắng nghe họ. Tri thức bản địa cũng là một trong những lĩnh vực được lợi từ những quan
điểm nhân học này.
4. Lý thuyết hậu hiện đại: cũng giống như nhân học, một trong những trọng tâm lý thuyết của lý thuyết hậu hiện đại
khẳng định cái tôi, bản sắc của các chủ thể sáng tạo. Thay vì áp dụng những mô hình có sẵn cho toàn bộ, lý thuyết hậu hiện
nhân loại, tri thức bản địa cũng trở thành một giải pháp để các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu tìm cách cải thiện
điều kiện môi trường tốt hơn bằng những biện pháp ít tốn kém và có khả năng thích nghi tốt với điều kiện địa phương.
Như vậy, tri thức bản địa mang tính đặc thù cho mỗi khu vực, mỗi cộng đồng nhất định. Nó dựa trên những kinh nghiệm
được tích lũy, thừa kế từ người này qua người khác, đời này qua đời khác. Kiến thức được lưu truyền trực tiếp từ người này
sang người khác. Tri thức bản địa được phản ánh trong những bài dân ca, câu chuyện, truyền thuyết, và những thực hành văn
hoá của người bản địa. Đôi khi nó được bảo tồn dưới dạng trí nhớ, nghi thức, lễ thức hay điệu múa. Đôi khi nó được lưu giữ
dưới dạng những vật dụng được lưu truyền từ đời cha sang đời con, hay từ mẹ cho con gái. Trong các hệ thống tri thức bản
địa, thường không có sự cách biệt giữa kiến thức tôn giáo, thế tục và thực hành – chúng chỉ là một và giống nhau.
Tri thức bản địa là những kinh nghiệm đã được thử thách, tôi luyện qua nhiều năm sử dụng. Những yếu điểm dần được cải
thiện cùng với thời gian, những tinh túy dần được chắt lọc và cuối cùng là hoàn thiện và phổ cập. Tri thức bản địa là những
kinh nghiệm, nhưng nó lại phải phù hợp với môi trường, văn hóa từng vùng, từng cộng đồng và từng tộc người. Và, tri thức
bản địa tuy là những kinh nghiệm sống, nhưng lại động và thay đổi phù hợp với những điều kiện mới, cơ cấu xã hội mới.
Frederico Mayor nhấn mạnh
Tri thức bản địa là tri thức địa phương, đặc thù đối với một nền văn hoá hay một xã hội. Tri thức bản địa được biết dưới dạng
tri thức địa phương, tri thức dân gian, tri thức của người dân, trí tuệ dân gian hoặc khoa học truyền thống. Loại tri thức này
được trao truyền từ thế hệ này cho thế hệ kia, thường qua truyền miệng và các lễ thức văn hoá, và là nền tảng cho nông
nghiệp, chuẩn bị thức ăn, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, bảo quản và rất nhiều dạng hoạt động khác để duy trì xã hội và môi
trường ở những vùng đất khác nhau trên thế giới từ nhiều thế kỷ qua.
Nguồn: trích từ Alan, R. Emery and Associates (1997) Guidelines for Environmental Assessments and Traditional
Knowledge. Dự thảoBáo cáo của Trung tâm Kiến thức bản địa của Hội đồng dân tộc bản địa thế giới, Ottawa, tr. 3-5.
2. Mối quan hệ giữa tri thức bản địa và khoa học
Tri thức bản địa chỉ được hiểu một cách rõ ràng nhất khi chúng ta đem nó so sánh với kiến thức khoa học mà chúng ta quen
thuộc. Chúng ta có thể có một so sánh tham khảo như sau:
Các lĩnh vực
tri thức
Tri thức bản địa Kiến thức “khoa học”
1. Phạm vi
• Linh thiêng và thế tục cùng đồng hành; bao
gồm cả siêu nhiên
• Suy đoán ngắn hạn
• Trừu tượng; trải qua kiểm tra
• Có khả năng dự báo tốt trong điều kiện tự
nhiên (có giá trị về duy lý)
• Yếu trong việc sử dụng kiến thức địa phương
4. Cách dạy và
học
• Lĩnh hội mất nhiều thời gian ('kiến thức
chậm’)
• Học thông qua cách sống, trải nghiệm và làm
• Dạy thông qua ví dụ, làm mẫu, tôn giáo và kể
• Lĩnh hội nhanh (''kiến thức nhanh’)
• Học thông qua giáo dục chínhthức
• Dạy thông qua sách giáo khoa
chuyện
• Được kiểm nghiệm thông qua các tình huống
thực tế
· Được kiểm nghiệm giả tạo trong các kiểm tra
Nguồn: trích từ Alan, R. Emery and Associates (1997) Guidelines for Environmental Assessments and Traditional
Knowledge. Dự thảoBáo cáo của Trung tâm Kiến thức bản địa của Hội đồng dân tộc bản địa thế giới, Ottawa, tr. 4-5.
Như vậy, chúng ta có thể có một vài nhận xét về mối quan hệ giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học như sau:
Đầu tiên, kiến thức khoa học được sinh ra bởi các nhà khoa học chuyên nghiệp thông qua những thí nghiệm và nghiên cứu
khoa học một cách hệ thống trong khi tri thức bản địa được sinh ra bởi kinh nghiệm hàng ngày của họ khi chung sống với tự
nhiên và xã hội. Người dân địa phương cũng thực hiện những thí nghiệm và nghiên cứu nhưng khác với các nhà khoa học
chuyên nghiệp, họ nghiên cứu như một phần của nỗ lực để tồn tại trong khi làm việc để kiếm sống. Các nhà khoa học, mặt
khác, thực hiện nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hay những cánh đồng thử nghiệm trong những điều kiện giả định, nhân
tạo, trong khi người dân địa phương thực hiện nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên ở nơi nào đó mà họ thường làm việc.
ở trong các cộng đồng nhất định và trong một bối cảnh mới. Những tri thức ấy cũng đáng quý như những tri thức trước đây
được sản sinh bởi cha ông người dân tộc bản địa. Thông qua sự kết hợp với khoa học hiện đại, những tri thức bản địa ấy sẽ
ngày càng trở nên có giá trị hơn.
Khái niệm tri thức bản địa hiện đã không còn xa lạ đối với rất nhiều nhà nghiên cứu nhân học, văn hoá, dân tộc học và đặc
biệt đối với các chuyên gia phát triển.
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), một trong những thể chế kinh tế quyền lực nhất trên thế giới hiện nay thì Tri thức
bản địa là tri thức địa phương, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh
vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và trong
các hoạt động xã hội và cộng đồng. Tri thức bản địa còn có cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho
cộng đồng dân cư địa phương (World Bank, 1998)
Định nghĩa này chính thức được đưa ra trong một chương trình “Tri thức bản địa cho sự phát triển” tại châu Phi của World
Bank vào năm 1998, coi tri thức bản địa như là một nguồn quan trọng trong việc làm tăng tính hiệu quả, năng lực và tính bền
vững cho các chương trình phát triển (Gorjestani, 2000)
Ta sẽ tạm chưa xem xét đến tính hiệu quả của việc World Bank sử dụng tri thức bản địa của các tộc người trên thế giới trong
các chương trình phát triển của nó mà chỉ mới quan tâm đến việc rõ ràng là vai trò và giá trị của tri thức bản địa là không thể
phủ nhận và ngày càng được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Cùng với vị trí ngày càng cao của tri thức bản địa là sự tôn
trọng được mang đến nhiều hơn cho cộng đồng các tộc người, chủ sở hữu của các tri thức này.
Tuy nhiên, trước khi tri thức bản địa đạt được vị trí trung tâm của các mối quan tâm như hiện nay nó cũng đã phải trải qua
nhiều giai đoạn, được ủng hộ hoặc bị bác bỏ, được bao hàm hoặc được lề hoá ra khỏi các chương trình phát triển tại nhiều nơi
trên thế giới. Nhưng thăng trầm đã và đang xảy ra đối với tri thức bản địa luôn được đặt trong mối tương quan với hệ thống
tri thức khoa học của phương Tây và những tiêu chí được dùng để làm công việc phân biệt giữa hai loại hệ thống kiến thức
này chính là vai trò và sự trao đổi của hai hệ thống tri thức này trong các chương trình phát triển trên toàn thế giới. 1. Tri thức bản địa và những đặc điểm chung
Dù sử dụng tên gọi như: tri thức bản địa, tri thức kỹ thuật bản địa, sinh thái dân tộc học, tri thức địa phương, tri thức dân
gian, tri thức truyền thống, tri thức truyền thống về môi trường, khoa học của dân hay tri thức của người nông thôn, thì đối
tượng mà người ta muốn nhắc đến là một hệ thống các tri thức đặc trưng của các cộng đồng người địa phương liên quan đến
cái cách cộng đồng này quan hệ với môi trường tự nhiên xung quanh. Các cách gọi này cũng thể hiện rõ ràng cách những
người sử dụng tiếp cận vấn đề và đặt các vấn đề liên quan đến nó.
8. Việc coi tri thức bản địa mang tính chỉnh thể hợp nhất trong khuôn khổ của các truyền thống văn hoá rộng lớn hơn,
tách rời những vấn đề kỹ thuật với cái không mang tính kỹ thuật, lý tính với cái không lý tính là cần được xem xét lại. (Ellen,
R, 2003: 4-5)2. Tri thức bản địa và những bước thăng trầm
2.1. Tri thức bản địa bị lãng quên
Như trên đã đề cập, hầu hết mọi người đều thừa nhận vai trò của tri thức bản địa như là một nhân tố then chốt trong mọi
chương trình phát triển đã và đang được tiến hành, đặc biệt đối với những chương trình phát triển có mục tiêu là đạt tới sự
bền vững. (Arun Agrawal. 2004)
Tuy nhiên, ngược trở lại bối cảnh thế giới giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm “phát triển” theo từng giai đoạn
biến đổi của nền kinh tế thế giới được bồi đắp dần lên với các nghĩa mới bổ sung. Bắt đầu từ giai đoạn phát triển tập trung
chủ yếu vào việc khôi phục nền kinh tế thế giới sau cuộc chiến, tiếp theo sau giai đoạn này là sự tăng trưởng đồng đều trên
mọi lĩnh vực của cuộc sống nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người và dần nâng cao chất lượng cuộc sống cho loài
người. Chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn này như là một đại chủ nghĩa, siêu lý thuyết phủ bóng lên toàn thế giới. Các nhà
phát triển đến từ các nước phương Tây, được trang bị bằng hệ thống khoa học và kiến thức của phương Tây đến các nước thứ
ba nhằm “phát triển” các nước này và mở rộng công cuộc truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học. Trong công cuộc này, họ
coi các nguồn kiến thức địa phương như là những trở ngại cần phải được vượt qua để có thể đạt tới mục tiêu của các công
cuộc phát triển. Các nhà làm công tác phát triển coi truyền thống và các giá trị truyền thống của các tộc người trên thế giới
như những gì yếu kém, lạc hậu, cần được huỷ bỏ hơn là được động viên để sử dụng. Tính hợp pháp của tri thức truyền thống
bị nghi ngờ. Đặc biệt đối với những những chương trình phát triển theo mô hình “trên - dưới”[1]. Vấn đề của mô hình này là
quá quan tâm đến các mục tiêu cụ thể, đến sự thành hay bại của chương trình hoặc chính sách dựa trên được đánh giá so với
mục tiêu được đặt ra từ trên xuống lúc ban đầu và không bao giờ nhận ra hoặc cố tình lảng tránh vai trò của các nền tảng kinh
tế, văn hoá, chính trị, xã hội của địa phương, nơi mà họ đang tiến hành áp dụng các mô hình phát triển của họ vào đó. Trong
suốt một thời gian dài mấy chục năm đầu của thế kỷ 20, các mô hình phát triển được mang đi áp dụng thực hiện ở các nước
thứ ba hoàn toàn dựa trên những kiến thức, những nghiên cứu được kiểm chứng qua các phòng thí nghiệm, các đơn vị nghiên
cứu hoặc các trường đại học. Trong mô hình phát triển này, hạn chế lớn của nó đã được thừa nhận sau này là giả định về một
mô hình hoàn hảo thích hợp cho mọi địa phương mà nó được tiến hành và bỏ qua vấn đề liên quan đến bối cảnh xã hội cụ thể
của từng cộng đồng mô hình đang hướng tới. Những kinh nghiệm, hiểu biết của các tộc ngưòi bản địa ở các địa phương bị bỏ
phải đối mặt với các nguy cơ này. Dần dần, các chuyên gia phát triển, những người hoạt động trong lĩnh vực môi trường, các
tổ chức phi chính phủ nhận ra rằng những tri thức truyền thống, thế giới quan và văn hoá của các tộc người bản địa ẩn chứa
mối quan hệ hài hoà thân thiện với môi trường. Các tộc người bản địa lúc này được xem như những nhà sinh thái học thực sự
với những hiểu biết sâu sắc về môi trường, những quan niệm, niềm tin và cả các cách họ bảo vệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
Trường hợp người Aru sống trên quần đảo Aru ở khu vực Đông Indonesia là một ví dụ tiêu biểu. Nguồn sống chủ yếu của tộc
người này chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên tự nhiên xung quanh. Các hoạt động kinh tế của tộc người này chủ yếu phụ
thuộc vào 2 loại gió mùa Đông và gió mùa Tây. Trong giai đoạn gió mùa Đông từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, người Aru
chỉ tiến hành thu thập hải sâm ở các bãi thuỷ triều, bãi cát, đánh bắt cá hoặc làm việc và săn bắn trên đất liền. Đến đợt gió
mùa Tây kéo dài từ tháng 11 đến tháng Tư hàng năm, người Aru tập trung vào việc thu hoạch hải sâm tại các dải đá ngầm,
vụng nước sâu, lặn mò ngọc trai và thậm chí là săn bắt cá mập. Người Aru hiểu biết rất rõ về giá trị kinh tế và y học của hải
sâm, nắm được các loại và đặc điểm của nhiều loại hải sâm khác nhau, thời điểm thích hợp và địa điểm thích hợp để đánh bắt
các loại hải sâm này trong một năm. Họ biết rằng, yếu tố mùa và thuỷ triều là hai nhân tố then chốt quyết định số lượng hải
sâm người Aru có thể thu hoạch được trong mỗi lần đi. Người Aru lưu giữ cho mình những hiểu biết sâu sắc về hải sâm và
các cách thức để thu hoạch hải sâm được hiệu quả nhất.
Cả nam và nữ người Aru đều tham gia vào công việc thu lượm hải sâm. Đàn ông thì lặn lúc mùa gió mùa Tây, thu lượm hải
sâm bằng cách đi bộ và lội trong suốt mùa gió mùa Đông. Phụ nữ thì đi tìm trên các bãi thuỷ triều và các dãy san hô vào ban
ngày mùa gió mùa Tây, vào buổi tối mùa gió mùa Đông. Đôi khi phụ nữ cũng đi cùng với đàn ông, sử dụng đèn điện và đèn
chạy bằng ga. Kiến thức về các loại hải sâm và địa điểm khác nhau theo giới tính và kinh nghiệm có liên quan. Phụ nữ
thường chỉ tìm kiếm ở các bãi thuỷ triều và chỉ tìm 4 loại: sem putih và matahui vào mùa gió Đông lúc buổi tối còn vào mùa
gió Tây thì họ thu lượm hải sâm đen và đỏ các loại, sem hitam và sem merah. Thợ lặn nam thì tìm 3 loại còn lại trong năm
cùng với một số loại khác thường chỉ có ở vùng nước sâu. Mỗi loại hải sâm khác nhau thường chỉ xuất hiện ở từng vùng khác
nhau phụ thuộc vào từng vùng biển. (Osseweijer, 2003: 64-65)
Người Aru còn có một hình thức nhằm hạn chế việc thu hoạch thái quá tài nguyên biển truyền thống, gọi là sir hoặc sasi. Đây
là một nghi lễ mang tính cấm đoán và được thực hành bởi một làng hoặc các nhóm làng chung nhau trong cùng tộc người.
Khi sir/sasi được tiến hành có nghĩa là trong vòng ba đến năm năm, không ai được quyền khai thác tài nguyên biển trên một
vùng biển quy định nhất định. Sau khi kết thúc quãng thời gian này, các bãi và vụng biển được mở cửa trở lại và mọi người
lại có thể tiếp tục khai thác. Từ xa xưa trong lịch sử tộc người Aru, nghi lễ này chính là một hình thức quản lý tài nguyên
biển hiệu quả.
Nhưng đồng thời, trong rất nhiều trường hợp, những thực hành và quan niệm truyền thống của họ về môi trường lại chính là
Chúng ta cần thiết phải học hỏi từ các cộng đồng địa phương để có thể thúc đẩy quá trình phát triển” (Gorjestani, 2000:1).
Chương trình này được tiến hành tập trung tại các nước châu Phi nhằm mục đích giảm tỉ lệ đói nghèo và hướng tới các mục
tiêu phát triển Thiên niên kỷ do Ngân hàng Thế giới đề ra.
Tuy nhiên, dù muốn dù không, chúng ta cũng phải thừa nhận vai trò của Ngân hàng Thế giới trong việc truyền bá sự tồn tại
và giá trị của các tri thức bản địa đi toàn thế giới. Còn phê phán, bình luận về cách sử dụng và đánh giá tri thức bản địa của tổ
chức này lại nằm trong phạm vi của vấn đề thảo luận khác.
(4). Những thay đổi về nhận thức luận và phương pháp luận trong một số ngành nghiên cứu cũng được tính là một trong
những nhân tố làm thay đổi vị thế của tri thức bản địa trên toàn thế giới.
Trong nghiên cứu phát triển, mô hình mới cho sự phát triển như “từ dưới lên” hay “nông dân là đầu tiên”, “phát triển tham
dự” thay thế cho mô hình “trên-dưới” đã đang chứng tỏ được tính hiệu quả của nó trong các chương trình phát triển áp dụng
ở các nước nghèo và đang phát triển. Những mô hình nghiên cứu mới này đòi hỏi phải có những hiểu biết thấu đáo về bối
cảnh của nơi tiến hành các chương trình/dự án phát triển, đặc biệt là hệ tri thức truyền thống, văn hoá tộc người, thực hành
phong tục truyền thống của các cộng đồng địa phương. Đòi hỏi này thúc đẩy một loạt các nghiên cứu về tri thức bản địa được
tiến hành kỹ lưỡng nhằm phục vụ cho mục đích phát triển của các chương trình phát triển. Hay như trong nghiên cứu nhân
học, sự phổ biến của thuyết vạn vật hữu linh với hạt nhân là tính liên chủ thể, trong đó, mọi vật trên thế giới này đều có linh
hồn và được đối xử ngang nhau: con người, ngọn cỏ, hòn đá, cái cây, (Bùi Quang Thắng, 2007). Lý thuyết này đặc biệt thu
hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhân học, đặc biệt là các nhà nhân học sinh thái. Tri thức bản địa của các tộc người
bản địa trở thành những vấn đề nghiên cứu hấp dẫn trong lĩnh vực này.
2.3. Tri thức bản địa - những vấn đề nghiên cứu hiện nay
Trong giai đoạn thống trị của chủ nghĩa phát triển, hệ thống khoa học kỹ thuật phương Tây được coi là kim chỉ nam, là
phương tiện duy nhất có thể giúp các nước thứ ba đạt tới sự phát triển. Tri thức khoa học phương Tây được coi là siêu việt và
cần được truyền bá trên toàn cầu. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, sự thất bại của chủ nghĩa này ở nhiều trường hợp đã khiến
nhiều người nghi ngờ về quyền năng của hệ tri thức này như nó đã từng được thừa nhận trong giai đoạn hoàng kim.
Khoa học phương Tây cũng chỉ nên được xem như một loại tri thức bản địa hoặc địa phương, loại tri thức được này sinh
trong môi trường thiết chế phương Tây và đã được lan truyền rộng rãi khắp thế giới nhờ vào sự thiết lập của các mối quan hệ
quyền lực mang tính thực dân và thực dân mới. Vì vậy sự thống trị của tri thức phương Tây không phải là do nó đạt gần tới
một sự thật tối cao nào, mà vì một loạt các điều kiện địa-lịch sử gắn với yếu tố địa-chính trị của quyền lực (Escobar, 1995)
(John Briggs, 2004: 3)
đố kị trong quá trình thu thập hải sâm (Osseweijer, 2003: 68)
Người Aru có những giải thích của riêng họ cho việc không gặp may mắn trong việc đánh bắt hải sâm. Đấy là do họ bị tổ tiên
phạt vì đã không biết cách cư xử hoặc vi phạm vào các phép tắc được cho là do tổ tiên/các vị thần biển đặt ra.
Đồng thời cùng lúc với thế giới quan này, người Aru cũng hiểu khá rõ một thực tế là họ đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên
biển, đặc biệt là hải sâm do thu hoạch thái quá. Tuy nhiên, một lần nữa, các thực hành đánh bắt hải sâm của người Aru lại bị
chi phối bởi một niềm tin tuyệt đối rằng nguồn tài nguyên (hải sâm) này không bao giờ biến mất mà chỉ đơn giản là được di
chuyển đi nơi khác bởi các vị thần biển/thần bảo hộ/tổ tiên của họ. Lý do của việc di dời này là do con người không biết cách
cư xử cho đúng lễ nghi. Một khi họ làm được điều này, tài nguyên biển sẽ trở lại.
Tổ tiên của biển là những người canh giữ các nguồn lợi biển, vì thế họ có quyền quyết định tạm thời chuyển nguồn hải sâm
đi nơi khác như trong trường hợp kiện tụng với vùng láng giềng Karey. Nếu tổ tiên không muốn cho anh hải sâm, điều này có
nghĩa là anh không gặp may. Hải sâm đang dần ít đi vì tổ tiên chúng ta đã quá thất vọng về cách hành xử của chúng ta
(Osseweijer, 2003: 73)
Hơn thế nữa, cái cách Ngân hàng thế giới tìm hiểu, thu thập và sử dụng các tri thức bản địa vẫn nằm trong phạm vi so sánh và
đối chiếu điểm mạnh yếu của nó với khoa học chính thống phương Tây.
Cần thiết phải ghi nhớ rằng không phải tất cả các tri thức bản địa là có lợi cho sự phát triển bền vững của một cộng đồng địa
phương; và cũng không phải là tất cả các loại tri thức bản địa được cho rằng có ưu thế trong việc cung cấp giải pháp thích
hợp cho một vấn đề. Một ví dụ khá tiêu biểu là việc đốt nương làm rẫy trong nông nghiệp hoặc thực hành cắt âm vật của phụ
nữ. Vì thế, trước khi áp dụng và gắn liền tri thức bản địa vào các chương trình phát triển hoặc thậm chí cả việc truyền bá
chúng cần xem xét đến tính thích hơp của chúng giống như các loại khoa học kỹ thuật khác. Ngoài các xác nhận về mặt khoa
học, những nền tảng về văn hoá-xã hội, các bằng chứng địa phương trong đó các thực hành được gắn kết cũng cần phải được
xem xét trong một quá trình kiểm chứng. (World Bank, 1998:6)
Ngân hàng Thế giới cũng khuyên rằng, các cộng đồng địa phương có thể thay đổi các thực hành mang tính bản địa tạo ra các
ngáng trở đối với chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.
John Briggs và Joanne Sharp cho rằng, thực ra mà nói thì Ngân hàng Thế giới vẫn đang nhìn nhận tri thức bản địa dưới con
mắt suy xét của người tin rằng, khoa học chính thống phương Tây có quyền thế trong việc quyết định các tri thức khác tri
thức phương Tây có thể được sử dụng hay không sử dụng. Đây là một sự trao đổi đơn tuyến. Tri thức bản địa và tộc người
bản địa được trao quyền để nói và tham gia, nhưng với điều kiện được sự kiểm chứng và xác nhận của các nhà khoa học
phương Tây. Tri thức bản địa sẽ được sử dụng chỉ khi nào nó được chứng minh một cách rõ ràng là phù hợp với mục tiêu
phát triển của các chương trình của Ngân hàng thế giới. Như vậy thì có hay không có sự thừa nhận khách quan và chân thực
về vai trò thực sự của tri thức bản địa trong cách đánh giá của Ngân hàng thế giới hướng tới mục tiêu của sự phát triển bền
của các quốc gia trên thế giới vẫn đang bất lực trong việc đạt tới mục tiêu phát triển ổn định và cân bằng tiến tới bền vững
cần được tìm hiểu
Vai trò của tri thức địa phương trong phát triển bền vững vùng cao
Lê Trọng Cúc
Đại học quốc gia Hà Nội
Tri thức địa phương là nguồn tài nguyên quí giá, là cơ sở của sự hiểu biết về các lĩnh vực :
Nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, giáo dục, quản lý tài nguyên và là chủ thể của các hoạt
động khác trong phát triển bền vững các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái vùng cao.
Những kiến thức này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà khoa học, các nhà lập kế
hoạch. Nó cần được xem xét và so sánh với kiến thức hiện đại để từ đó xác định những
khía cạnh bổ ích hoặc có thể cải tiến thông qua công nghệ mới.
Việt Nam có 14 tỉnh vùng cao và 23 tỉnh có một số huyện và xã vùng cao, với diện tích
khoảng 23 triệu hecta, chiếm 3/4 diện tích tự nhiên của cả nước. Nằm trong vùng có điều kiện
nhiệt đới gió mùa, địa hình phức tạp, núi cao, suối sâu, độ dốc lớn, làm phân hóa môi trường
thiên nhiên và có nguồn tài nguyên đa dạng. Vùng cao là nơi cư trú của hơn 50 nhóm dân tộc
ít người, có nhiều phong tục tập quán khác nhau, gắn bó với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa
dạng ấy làm thành một hệ thống, trong mối tương tác xã hội-tự nhiên vô cùng phong phú và
phức tạp.
1. Hiện trạng môi trường và quản lý tài nguyên
Vùng cao nước ta đang có những áp lực nặng nề. Các hệ sinh thái tự nhiên đang bị phá
vỡ, tài nguyên đất , rừng, nước đang bị suy thoái trầm trọng, xói mòn và các tai họa tự
nhiên ngày càng gia tăng, năng suất thấp kém. Hạ tầng cơ sở: Hệ thống thông tin, giao
thông nghèo nàn, mật độ dân số ngày càng gia tăng, phân bố dân cư không đều, trình
độ học vấn thấp, tình trạng di cư, chuyển cư tự do ngày càng nhiều, truyền thống văn
hóa bị mai một. Nguồn sống chủ yếu của đồng bào vùng cao vẫn dựa vào rừng, đốt
nương làm rẫy. Nương rẫy vẫn là nguồn sống quan trọng của tất cả các dân tộc vùng
cao. Năng suất trung bình lúa nương chỉ đạt từ 8 đến 10 tạ trên 1 hecta.
Hơn thế nữa, để phân bố lại lực lượng lao động, từ năm 1960, Nhà nước đã có chương
trình phân bố lại dân cư, cũng như phong trào di dân tự do những năm gần đây, hàng
triệu người đã chuyển từ vùng đồng bằng lên miền núi hoặc từ miền núi này tới vùng
2. Những nghiên cứu phát triển bền vững vùng cao trên cơ sở tư duy hệ thống.
Như đã trình bày ở trên, vùng cao nước ta là một vùng có điều kiện sinh thái phức tạp, văn
hóa truyền thống phong phú, tài nguyên thiên nhiên đa dạng. Mặc dù chúng ta đã có rất nhiều
nghiên cứu phát triển vùng cao, nhưng chưa có những công trình khoa học tầm cỡ, đánh giá
một cách đầy đủ các khía cạnh để có cơ sở đề xuất một chiến lược phát triển bền vững.
Trong phân tích hệ sinh thái nông nghiệp thì bền vững được xem là khả năng duy trì được
năng suất của hệ thống kể cả khi bị sức ép nặng nề hay các cú sốc.Khi phân tích tính bền vững
của các hệ sinh thái thường đề cập tới sự tương hợp giữa ba khối nhân tố: Sinh thái, kinh tế và
xã hội. Ba khối nhân tố này tương tác với nhau trong một hệ thống hoàn thiện và được thể
hiện qua các đặc tính: Năng suất, bền vững, ổn định, công bằng, tự trị, hợp tác và thích nghi.
Nghiên cứu sinh thái nhân văn có thể là một triển vọng cho sự hiểu biết một cách sâu sắc hơn
về tài nguyên và con người, trong mối quan hệ hệ thống giữa hệ xã hội và hệ tự nhiên. Vậy hệ
thống là gì ? Hệ thống là một tập hợp những mối tương tác giữa các bộ phận theo thời gian.
Trong hệ sinh thái tự nhiên thì khí quyển, đất, nước là những nguyên liệu sơ cấp, còn động
vật, thực vật, vi sinh vật là những tác nhân vận chuyển, là những bộ máy trao đổi vật chất và
năng lượng. Chúng được đặc trưng bằng mối quan hệ năng lượng giữa sinh vật tự dưỡng và
sinh vật dị dưỡng, thông qua xích thức ăn và mạng lưới thức ăn. Hệ xã hội bao gồm các mối
tương tác giữa các yếu tố : Dân số, khoa học - kỹ thuật, phong tục tập quán, chuẩn mực đạo
đức, thể chế và cơ cấu xã hội. Các yếu tố của hệ tự nhiên và hệ xã hội luôn luôn tương tác với
nhau thông qua các dòng năng lượng, vật chất và thông tin. Như vậy, bản thân hệ thống
không phải là con số cộng của các bộ phận, mà các bộ phận cùng hoạt động tương tác với
nhau để sản xuất ra những kết quả nhất định. Mục tiêu của việc nghiên cứu hệ thống là để
hiểu được xu thế phát triển bền vững của hệ thống, để tác động làm thay đổi đầu ra của hệ
thống bằng một cách nào đó trên cơ sở của các thông tin phản hồi.
3. Vai trò của tri thức địa phương trong tư duy hệ thống
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi muốn tập trung vào một nhân tố đó là tri thức địa
phương (văn hoá - truyền thống) nằm trong các mối tương tác tư duy hệ thống, đóng vai trò
quan trọng trong việc phát triển bền vững vùng cao. Tri thức địa phương được tích luỹ qua
kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc trong quá trình
trong sự thích ứng với môi trường sinh - vật lý và môi trường xã hội trong đó chúng tồn tại.
Văn hóa của loài người bao gồm nhiều mức độ khác nhau về kỹ thuật, tiếng nói, tín ngưỡng
và tổ chức xã hội. Khái niệm xã hội là bao gồm tất cả các sản phẩm của văn hóa con người ở
mức độ quần thể. Đó là các sản phẩm của lao động, đó là tổ chức xã hội và các hoạt động xã
hội. Khái niệm xã hội cũng bao gồm các sản phẩm văn hóa như tri thức, kỹ thuật, tín ngưỡng,
giá trị và nguyện vọng xã hội. Việc tìm hiểu văn hóa của các dân tộc đang phát triển hiện nay
và tri thức tích lũy được trong cuộc sống hàng ngày, chính là những biểu hiện của các mối
tương tác có tính hệ thống và là những khái niệm sinh thái nhân văn đơn giản nhất, từ đó đi
đến những hiểu biết phức tạp hơn củng cố cho những nhận thức về thiên nhiên.
Rõ ràng tri thức địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các vấn đề, các hạn
chế ảnh hưởng đến việc quản lý hệ sinh thái. Nó cũng có giá trị như một nguồn thông tin có
xu hướng lâu dài và những sự cố bất thường mà có thể chúng không xảy ra trong khoảng thời
gian các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu ở địa phương đó.
Tuy nhiên, sự hiểu biết nhân quả của người nông dân thường khó mà so sánh được với các
khái niệm khoa học. Ví dụ, các nguyên nhân siêu tự nhiên, chẳng hạn như ma quỷ thường
được viện ra để giải thích cho một tai họa. Nhiều dân tộc quan niệm rằng lúa trên nương cũng
có hồn. Hồn lúa quyết định cho lúa tốt hay xấu. Hồn lúa không thể nhìn tận mắt, sờ tận tay
được, nhưng nó nhập vào bà chủ của nương rẫy. Người Khơ mú cho rằng khoai sọ và các cây
có củ là "bạn trăm năm" của lúa. Người Thái cũng có tục chọn một loài hoa để làm "cây tình"
cho lúa. Tín ngưỡng này biểu hiện cuộc sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên, từ kinh
nghiệm đưa lên mức thần bí, thích nghi tiến bộ trong việc trồng xen nhiều loài cây, hỗ trợ cho
nhau, nâng cao năng suất cây trồng.
Người nông dân thấy nhiều khía cạnh của sinh thái học khó hiểu vì họ không có kỹ thuật thích
hợp cũng như tri thức khoa học để lĩnh hội chúng. Hầu như người nông dân không biết gì về
sinh vật và nấm bệnh bởi lẽ họ không có kiến thức về vi sinh vật học và kỹ thuật kính hiển vi.
Nhưng họ vẫn có thể nhận biết được rằng các cây họ đậu có khả năng cải tạo độ mầu mỡ của
đất mà họ không cần biết vì sao điều đó lại xảy ra. Nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là tìm
hiểu và học hỏi tri thức địa phương, sử dụng nó như một nguồn ý tưởng và giả thuyết, và
kiểm tra các giả thuyết đó bằng khoa học hiện đại.
*