CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Điện năng được sản xuất, truyền tải, phân phối rộng khắp với nhiều
cấp điện áp từ cấp hạ áp, trung áp, cao áp, siêu cao áp và cực siêu cao áp với
số lượng thiết bị rất lớn. Sự phát triển một hệ thống thông tin trong hệ thống
điện là rất cần thiết. Những việc mà trước đây muốn thực hiện thì phải rất
phức tạp và mất nhiều công sức, cần đến sự làm việc của nhiều người thì với
sự phát triển của công nghệ thông tin nói chung và truyền thông trong hệ
thống điện nói riêng đã làm cho vấn đề được trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Các thiết bị ở cấp dưới (chấp hành) được kết nối với cấp trên như máy tính
điều khiển, thiết bị quan sát, máy tính điều khiển giám sát và các máy tính
cấp điều hành xí nghiệp, quản lý công ty. Chuẩn truyền thông là qui ước
chung cho việc ghép nối các thiết bị với nhau giúp cho việc giao tiếp được
trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn.
Ngoài các chuẩn thường dùng như RS-232, RS-485 thì trong hệ thống
điện còn dùng các chuẩn khác như IEC 60870, 61850….
Đề tài này nghiên cứu các chuẩn truyền thông công nghiệp trong điều khiển
giám sát hệ thống điện, mục đích là làm rõ khả năng ứng dụng của các chuẩn
truyền thông quốc tế, sự phù hợp và các ưu nhược điểm của chúng trong các
hệ điều khiển và giám sát hệ thống điện. Làm rõ thực trạng của các giải pháp
truyền thông trong hệ thống điện Việt Nam.
class="bi x0 y0 w1 h1"
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU NHU CẦU TRUYỀN
THÔNG TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN
2.1 Mạng thông tin trong HTĐ
Sự phát triển hệ thống điện năng hiện đại nằm trong xu thế chung của
sự phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế, nhằm thỏa mãn đòi hỏi ngày càng
tăng của xã hội phản ánh những bước tiến vượt bậc của khoa học kỹ thuật,
đáp ứng nhiều nhu cầu đa dạng của cuộc sống.
Hệ thống điện Việt Nam cũng như của nhiều nước đang phát triển trên thế
giới đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Có lợi thế là được áp dụng
những thành tựu công nghệ mới, tiên tiến nhất để xây dựng cũng như vận
phạm vi hẹp như mạng điện thoại cục bộ của ngành, thực hiện chức năng
bảo vệ, điều khiển, cần sử dụng kênh thông tin cũng khá ít: bảo vệ cao tần,
bảo vệ cắt liên động, và bảo vệ so lệch dọc đường dây….
Những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin cuối thế kỷ 20, cộng
với những đòi hỏi ứng dụng ngày càng cao của người sử dụng làm cho nhu
cầu truyền thông trong HTĐ ngày càng mở rộng và đa dạng. Các đường điện
thoại viễn thông, cáp quang, kênh cao tần PLC, mạng sóng vô tuyến FM.
Những thành tựu đạt được (thông tin trong trạm, từ cấp trạm đến cấp điều độ
miền, trên cơ sở khai thác các ứng dụng SCADA, EMS, DSM, hoặc các ứng
dụng văn phòng như truy nhập lấy số liệu từ INTERNET,… phụ thuộc khả
năng khai thác của người dùng. Đã mở rộng phạm vi về không gian, và
phạm vi quản lý khi có ngày càng nhiều đối tượng tham gia vào mạng lưới
thông tin. Do vậy, một trong các yêu cầu chính đặt ra là phải có một cách
giao tiếp chung cho tất cả các đối tượng tham gia thông tin. Đó là phải có
một hệ thống thông tin chuẩn hóa và thống nhất.
IEC (international electrotechnical committee) và TC57 (technical
committee) đã được thành lập năm 1964 do đòi hỏi phải có một tiêu chuẩn
quốc tế trong lĩnh vực thông tin giữa các thiết bị và hệ thống trong lĩnh vực
thông tin điện lực: Telecontrol- điều khiển từ xa, Teleprotection- bảo vệ từ
xa, và các úng dụng của công nghệ thông tin trong hệ thống điện như giám
sát, điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA), quản lý hệ thống năng
lượng(EMS), quản lý nhu cầu điện năng(DSM), tự động hệ thống phân
phối(DA),….
Các nhà chuyên môn của 22 nước thành viên đã thừa nhận rằng tính
cạnh tranh càng cao với số lượng các nhà sản xuất thiết bị ngày càng tăng.
Việc nối ghép giữa các thiết bị điều khiển để tích hợp thành hệ thống đòi hỏi
thiết bị và hệ thống phải có khả năng kết hợp với nhau, các ghép nối, các
giao thức và định dạng dữ liệu cần thiết phải tương thích để đáp ứng các
mục tiêu trên.
Viện công nghệ thông tin Bắc Mỹ (UCA
như những thế hệ Rơ Le, đồng hồ đo lường, điều khiển, giao tiếp với người
sử dụng và các hệ IEDs khác nhau có thể liên kết thông tin khi sử dụng
mạng LAN cho tất cả các hoạt động điều khiển.
Với sự liên tục hỗ trợ của EPRI, đã có một bảng danh sách dài của
Relay, Metter, IEDs của các nhà sản xuất tuân thủ theo tiêu chuẩn sản phẩm
UCA. Cũng nhắc lại rằng các nhà sản xuất đã nhận thức ra tầm quan trọng
của việc liên kết và thống nhất trong thông tin, nhưng sản phẩm và thiết kế
của từng nhà sản xuất vẫn mang đặc thù riêng, đó chính là cốt lõi của tính
cạnh tranh.
Đề cập lại tiêu chuẩn IEC 61870-5 do yêu cầu của người dùng những
năm 80, IEC của Châu Âu đã tạo ra bộ chuẩn thông tin IEC 60870-5
Năm 1995, IEC đưa ra một dự án mới, dùng 61850 để xác định thế hệ tương
lai của thông tin trong bảo vệ và điều khiển trạm tốc độ cao. Mục tiêu chính
cũng giống như EPRI là sẽ có nhiều nhà cấp hàng và cùng các tiện ích trong
ứng dụng để xác định một cơ sở hạ tầng thông tin trong điều khiển và giám
sát trạm điện. Thế hệ chuẩn này sẽ đảm bảo tính mở khi kết hợp được nhiều
thế hệ IEDs của nhiều nhà sản xuất, tránh xây dựng những hệ thống đóng
trọn gói không tương thích. Tổ chức dự án IEC với nhiệm vụ tạo ra bộ chuẩn
thông tin, tập trung dưới TC57, Teleprotection và Power System Control.
Các tổ công tác của nó bao gồm (WG- Working Group) 10,11,12 đã được
trao từng phần nhiệm vụ của IEC 61850 như:
WG10 – Trong lĩnh vực chức năng, cấu trúc thông tin và các yêu cầu chung.
WG11 – Trong lĩnh vực thông tin trong và giữa các khối (Unit) và mức trạm
(Substation Levels).
WG12 – Trong lĩnh vực thông tin trong và giữa Xử lý (Process) và các mức
khối (Unit Levels).
Đến năm 1996, cả hai nhóm EPRI UCA2.0 và IEC61850 đều làm việc trên
các chuẩn của mình để đánh địa chỉ và kết nối IEDs trong ứng dụng tự động
điều khiển trạm.
Tháng 10/1997, Edinburgh TC 57 WG10-12 đã nhóm họp lại đưa ra
Topology – cấu trúc liên kết của mạng, nói cách khác chính là tổng hợp các
liên kết. Topology có thể hiểu là cách sắp xếp, tổ chức về mặt vật lý của
mạng, nhưng cũng có thể là cách sắp xếp logic của các nút mạng, và mối
liên kết giữa các nút mạng. Cấu trúc mạng thông tin trong hệ thống điện có
thể được chia ra 3 loại cơ bản:
- Star Topology – mạng liên kết hình sao
- Bus Topology – mạng liên kết BUS
- Ring Topology – mạng liên kết vòng
Mạng cấu trúc liên kết hình sao: Được thiết kế trợ giúp cho những hệ
thống có nhiều loại IEDs. Những rơle có khả năng thông tin tốc độ chậm lắp
đặt cùng với những rơle hiện đại có tốc độ nhanh hơn. Trong mạng hình sao,
thiết bị có xuất xứ từ nhiều nhà sản xuất với các protocol khác nhau có thể
cùng nối trực tiếp tới bộ xử lý trung tâm. Tính mở ở đây được thể hiện khi
mạng có khả năng giao tiếp giữa phần cứng và phầm mềm của nhiều hãng
sản xuất với nhiều giao thức (protocols), nhiều tỉ số truyền (baud rate), và
nhiều hình thức giao tiếp mạng. Thế hệ rơ le số có cổng giao tiếp đơn giản
thường được dùng là loại cổng nối tiếp EIA -232.
Mạng cấu trúc liên kết nhiều điểm: Đây là mạng liên kết BUS và vòng
với nhiều điểm, trong đó các thiết bị được nối theo luật truyền và nhận thống
nhất, như minh họa các hình vẽ ở dưới đây. Đặc điểm của hai liên kết này là
trong một khoảng thời gian nào đó chỉ có một thết bị liên lạc. Trong mạng
cấu trúc này mỗi trạm, mỗi thiết bị, hoặc rơle trong mạng phải được đánh địa
chỉ và sẽ sử dụng cổng song song EIA - 485. Ngoài cổng EIA-232 cũng có
thể biến đổi sang EIA-485 khi được sử dụng cho một số mạng liên kết nhiều
điểm đặc biệt.
Mạng cấu trúc BUS:
Hình 2.1: Mạng cấu trúc BUS
Tất cả các thiết bị trong mạng đều được nối trực tiếp với một đường
dẫn chung. Như vậy, đặc điểm cơ bản của cấu trúc này là việc sử dụng
chung một đường dây duy nhất cho tất cả các thiết bị trong trạm (hoặc
.Sử dụng được từ hầu hết các công cụ phần mềm SCADA thông dụng, hoặc
bằng một ngôn ngữ bậc cao(C++, Visual Basic, Delpdhi….)
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU HỆ THỐNG SCADA VÀ
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Nội dung chính của chương là làm rõ chức năng và tính năng của hệ
thống điều khiển, giám sát và thu thập dữ liệu trong hệ thống điện, việc giao
tiếp giữa các thiết bị thu thập thông tin với trung tâm điều khiển. Giới thiệu
các hệ thống cấp cao hơn như EMS, DMS, BMS.
3.1 Tổng quan
Phát triển hệ thống điện gồm có 4 giai đoạn chính: SCADA, EMS,
DMS, BMS.
SCADA: (Supervisory control and data acquisition) thu thập và hiển thị các
dữ liệu.
SCADA được phát triển từ thế hệ điện cơ đến điện tử tương tự rồi kỹ
thuật số. Thông tin dữ liệu từ các phần tử được thu thập qua RTU rồi thông
qua mạng thông tin đến trung tâm điều độ hệ thống điện.
Theo mức độ chi tiết thông tin có thể khác nhau:
- Dữ liệu vận hành: Điện áp các nút chính; dòng điện trên các phần tử
chính, công suất tác dụng, phản kháng, tần số.
- Trạng thái thiết bị: Máy cắt, dao cách ly, tiếp địa, đường dây, thiết bị
điều chỉnh và điều khiển.
- Lý lịch của từng thiết bị trong hệ thống điện: Ngày đưa vào vận hành,
lịch đại tu, sửa chữa, lần sửa chữa cuối cùng…
Nhân viên điều hành: Trực tiếp theo dõi và đưa ra các dữ liệu cần xử lý
vào hệ thống máy tính và từ đó theo kết quả nhận được nhân viên điều hành
trực tiếp ra lệnh điều khiển.
Thế giới: Từ năm 1960 phát triển hệ thống SCADA kỹ thuật số
Việt Nam: Từ năm 1980.
MONITOR
KEYBOARD
10
ITE
11
ITE
12
ITE
13
ITE
14
ITE
15
MODEMS
RTU
1
RTU
2
RTU
3
RTU
15
UGESL MIMIC
BOARD
PROCETT1
HP486
HPRC33
MONITOR
KEYBOARD
MOUSE
P.PRINTER
LAN LAN
lượng.
Các thông tin thu thập được truyền trực tiếp vào hệ thống máy tính điều
khiển. Hệ thống máy tính được trang bị các chu trình chuyên dùng để giải
quyết hai bài toán chính: Bài toán giải tích lưới điện và bài toán tối ưu hóa
các chế độ làm việc.
3.1.1 Bài toán giải tích lưới điện
Tính phân bố ( trào lưu ) công suất trên lưới → điện áp các nút, tổn thất
công suất tác dụng, phản kháng, tổn thất điện năng…….
Tính toán ngắn mạch → cập nhật trong quá trình phát triển và thay đổi cấu
hình hệ thống điện.
Tính dòng và áp trên các phần tử, nút chủ yếu của hệ thống điện và kiểm tra
khả năng chịu được dòng ngắn mạch của thiết bị và các phần tử trong hệ
thống điện → đề xuất nhu cầu thay thế.
Tính ổn định của hệ thống điện: Xác định giới hạn → độ dự trữ về ổn định
→ đề xuất các giải pháp để năng cao ổn định cho hệ thống điện.
3.1.2 Tối ưu hóa chế độ vận hành
- Chế độ phát và phân bố công suất giữa các tổ máy (NMĐ) trong hệ thống
điện → phương thức huy động nguồn.
Dự báo phụ tải (Ngắn hạn, trung hạn)
. Ngắn hạn: 15 phút, giờ, ngày, tuần → phục vụ điều hành trong thời gian
thực.
. Trung hạn: Tháng, quý, năm → phục vụ cho các kế hoạch chuẩn bị nhiên
liệu, kế hoạch sửa chữa đại tu thiết bị → dự báo kết hợp thông tin về thời tiết
khí hậu, thị trường
- V/h tối ưu lưới điện. Min (Loss)
Tổn thất công suất tác dụng nhỏ nhất, tổn thất điện năng nhỏ nhất
Min(cost) → Độ tin cậy: Thiết hụt điện năng do lưới điện kém tin cậy
- Chỉ tiêu chất lượng điện năng
Thế giới → cuối thế kỷ 20 hoàn tất EMS
EMS bao gồm: Thu nhận thông tin, tính toán, ra quyết định → trực tiếp điều
các thiết bị điện tại trạm. Chương trình trong RTU sẽ được lưu vĩnh cửu
trong bộ nhớ Flash-RAM. Các chương trình này không đòi hỏi phải nạp lại
do sự cố mất điện. Có khả năng thay đổi firmware khi nâng cấp hoặc thay
đổi giao thức bằng cách nạp giao thức mới hoặc sửa lại firmware. Để cho
phép cấu hình đường truyền mở rộng trong tương lai, RTU phải có địa chỉ
phần cứng có thể chọn lựa trong dải từ 1 đến 255. RTU được thiết kế theo
các tiêu chuẩn IEC, nếu không thì sẽ được chỉ ra trong đặc tính kỹ thuật.
Ngoài tiêu chuẩn IEC, thiết bị RTU sẽ phải đáp ứng các tiêu chuẩn khác như
IEEE, ANSI, NEMA. Các đầu vào và đầu ra RTU bao gồm các đường thông
tin và đường cấp nguồn sẽ được cung cấp với sự bảo vệ đáp ứng được hoặc
vượt quá các yêu cầu kiểm tra thí nghiệm đã được xác định đối với thiết bị
loại II và B, như đã đưa ra trong tiêu chuẩn IEC-255-4. RTU sẽ được trang
bị một hệ thống cấp nguồn. Hệ thống này lấy nguồn từ ắc qui 48VDC tại
trạm cung cấp chung cho thiết bị thông tin và SCADA.
3.2 Thiết bị xử lý
RTU sẽ dựa trên cơ sở thiết bị xử lý. Bộ xử lý của RTU nhận các lệnh
nhận được từ trạm chủ, thực hiện công việc nhận diện địa chỉ, chuẩn bị các
thông điệp trả lời đúng với các thông điệp lệnh đã nhận được và gửi các
thông điệp này đến trạm chủ. Bộ xử lý thực hiện việc thu thập dữ liệu và tiến
hành thực hiện các yêu cầu điều khiển.
Bộ xử lý sẽ đồng thời gửi thông tin chuẩn đoán trong cấu trúc thông
điệp, máy tính tại trạm chủ sẽ giám sát cấu trúc thông điệp này. Khi RTU
thực hiện thao tác khởi động vì bất kỳ lý do gì kể cả hỏng hóc về nguồn điện
thì một cờ hiệu sẽ được đặt ra.
Việc tắt RTU để bảo dưỡng sẽ được xem như là mất điện.
Tất cả dữ liệu cấu hình của RTU có thể tải xuống từ trạm chủ. Mọi dữ liệu
cần thiết đối với RTU sẽ được đưa vào cơ sở dữ liệu của trạm chủ thông qua
các công cụ công nghệ dữ liệu thông thường.
3.3 Giao diện kết nối
Việc kết nối giữa các thiết bị thu thập dữ liệu với trung tâm điều khiển,
chỉ bằng cách đơn thuần bổ sung các card và các đầu cuối.
Các phương tiện xử lý vào/ ra chứa trong RTU sẽ bao gồm:
1. Đầu vào analog
2. Đầu vào số- trạng thái
3. Đầu vào số- Bộ tích lũy xung
4. Đầu vào số- SOE
5. Đầu vào số - điều khiển thiết bị trạng thái
6. Đầu vào số - jog control
7. Chuyển mạch tại chỗ/ từ xa
8. Các cổng vào/ ra nối tiếp
9. RTU bao gồm các thiết bị chuyển đổi từ tương tự sang số cần thiết để
đáp ứng tốc độ chuyển đổi tương tự cần thiết thỏa mãn các yêu cầu quét của
trạm chủ.
10.Bộ chuyển đổi tương tự - số phải có độ phân giải tín hiệu số tối thiểu
+11 bit cộng dấu. Dải dòng điện đầu vào là ± 20mA, mức mở rộng là 5%
dung lượng dải. Độ chính xác sẽ là 0,1% trên toàn dải. Đầu vào đối với hệ
thống chuyển từ analog sang số có các đặc tính loại trừ tạp âm ở chế độ bình
thường tối thiểu 100dB từ 0 đến 50Hz. Sự loại trừ tạp âm ở chế độ bình
thường tối thiểu là 60dB ở tần số 50Hz. Toàn bộ các đặc tính loại trừ và
dung sai độ chính xác sẽ bao gồm tất cả những ảnh hưởng của các bộ biến
trở, bộ khuếch đại, và các thiết bị chuyển đổi tín hiệu được sử dụng giữa giá
trị tại các đầu cuối đầu vào và giá trị được chuyển đổi cuối cùng.
11. Các kỹ thuật chuyển đổi dữ liệu và thiết bị biến đổi được sử dụng sẽ
không làm giảm sự chính xác và các đặc tính miễn giảm tạp âm. Bộ khuếch
đại đầu vào của thiết bị chuyển đổi tương tự - số sẽ được bảo vệ để chống lại
những thay đổi liên tục của sự tăng vọt điện cảm biến. Sự miễn giảm tạp âm
về điện phải đáp ứng hoặc vượt quá các yêu cầu sau:
- Sự chịu đựng ứng suất về điện ( theo tiêu chuẩn IEC 255-4): Tối đa
5kV, 1.2/50s
- Điện áp quá độ( theo tiêu chuẩn IEC 801-4): 2kV
4. Cắt, đóng – cắt – đóng
Đầu vào số trạng thái hai bít
Các đầu vào trạng thái hai bít sẽ được sử dụng để giám sát trạng thái thiết
bị. Các đầu vào trạng thái sẽ được lọc một cách phù hợp để việc chỉ báo hiện
tại thực luôn được truy xuất theo yêu cầu. Trạng thái của những thiết bị đó
sẽ sẵn sàng hữu dụng thông qua việc sử dụng một cặp công tắc dưới dạng
của một công tắc a và b. Các công tắc này hoạt động như sau:
Trạng thái aa” bb”
Đóng Mở Đóng
Mở Đóng Mở
Đang di chuyển Mở Mở
Lỗi Đóng Đóng
Đối với các thiết bị di chuyển nhanh, có hai công tắc mở trong một
khoảng thời gian ngắn thể hiện có sự hỏng hóc về thiết bị. Đối với thiết bị di
chuyển chậm, trạng thái đang di chuyển là trạng thái có giá trị. Trạm chủ sẽ
phân biệt sự khác nhau giữa hai loại thiết bị này.
Đầu vào số - trạng thai 1 bít
Các đầu vào trạng thái một bít sẽ được sử dụng để giám sát trạng thái
của các thiết bị khác và những cảnh báo. Tuy nhiên, chỉ có một công tắc
được sử dụng đối với đầu vào trạng thái.
Đầu vào số - các yêu cầu tích lũy xung
Xung từ các công tắc của đồng hồ sản lượng sẽ được xử lý để lưu trữ
dưới dạng số các xung đã được tích lũy giữa các giai đoạn thu thập tiêu
chuẩn. Đầu vào các bộ tích lũy sẽ được đóng một cách có chọn lựa, công tắc
2 dây hoặc 3 dây đi ra từ thiết bị của chủ đầu tư – một vòng 2 nhịp.
Các bộ tích lũy sẽ được cung cấp với dung lượng đăng ký 16 bit. Vận tốc tối
đa xung đầu vào sẽ là 10 nhịp trên giây. Các kỹ thuật lọc và các kỹ thuật
khác sẽ được thực hiện để tránh các nhịp sai do nhảy công tắc đầu vào.
RTU sẽ hồi đáp lệnh đóng băng từ trạm chủ. Khi nhận lệnh này, các bộ tích
lũy sẽ chuyển nội dung vào trong thanh ghi và tiếp tục tích lũy các xung đo
Phương pháp chọn lựa trước khi thao tác được sử dụng. Thời gian tối đa
RTU chờ đợi giữa nhận một lệnh chọn lựa điều khiển và lệnh kích hoạt sẽ là
0,1 và 5 giây trong sự gia tăng 0,1 giây. Nếu lệnh kích hoạt không nhận
được trong khoảng thời gian cài đặt sẵn, thì thao tác sẽ phải kết thúc. Việc
cài đặt tại xưởng sẽ là 1 giây.
RTU sẽ cung cấp nguồn để vận hành các rơ le đầu ra có công suất
thấp; các rơ le đầu ra được sử dụng để vận hành các rơ le trung gian bên
ngoài do chủ đầu tư cung cấp, các rơ le này được cấp điện từ nguồn 48
VDC. Sự an toàn cho đầu ra số sẽ đáp ứng các yêu cầu như đã nêu trong
thông số.
Rơ le đầu ra điều khiển được yêu cầu cho mỗi hướng điều khiển đối
với một thiết bị. Mỗi rơ le đầu ra như vậy sẽ cung cấp công tắc cho một chu
kỳ có thể cấu hình. Thời gian đóng sẽ là từ 0,1 đế 5 giây gia tăng mỗi lần 0,1
giây, có thể cài đặt bởi tham số phần mềm được tải xuống từ trạm chủ.
Mỗi Rơ le đầu ra có tối thiểu 2 dạng công tắc a và hai dạng công tắc b hoặc
tối thiểu hai dạng công tắc.
Đầu ra số- jog control
Đầu ra jog control sẽ được cung cấp để điều khiển vị trí nấc phân áp
máy biến áp và các thiết bị tương tự khác. Đầu ra Jog-control sẽ cung cấp
các đầu ra công tắc cao và thấp hơn đối với mỗi điểm đã được điều khiển và
sẽ có các công tắc có thể điều chỉnh một cách riêng lẻ. Thời gian đóng có thể
điều chỉnh từ 0,1 và 5 giây với mức gia tăng 0,1 giây. Các công tắc sẽ được
phân loại như đã xác định cho các đầu ra số hai trạng thái.
Đầu ra số- chuyển mạch tại chỗ/từ xa
Một khóa chuyển mạch tại chỗ/ từ xa sẽ được cung cấp trong RTU. Khi
chuyển mạch ở vị trí từ xa, trạm chủ phải có sự điều khiển của các đầu ra
điều khiển số. Khi chuyển mạch ở vị trí tại chỗ, các đầu ra điều khiển số
không thể xảy ra. Chuyển mạch sẽ gián đoạn điện áp thanh cái ở đầu cao
nguồn điện để tránh cuộn rơ le khỏi bắt điện. Công tắc đầu vào trạng thái sẽ
sẵn sàng hữu dụng để giám sát vị trí chuyển mạch này.