-1- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trường hiện này vấn đề cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp với nhau ngày càng mạnh mẽ,đặc biệt là trong hệ thống các ngân hàng với
nhau trong việc cạnh tranh giành giật khách hàng và thu hút các nguồn vốn cho đầu
tư.Nếu mà không hoạt động tốt thì không thể nào có thể cạnh tranh được với các
ngân hàng khác do vậy sẽ dẫn tới việc bị thụt lùi và mất vị thế trên thị trường.
Để giải quyết vấn đề này chính là việc mà chúng ta tìm giải pháp để cho
người nhân viên làm việc, sao cho mà nhân viên của chúng ta có năng lực tốt nhất để
có thể có một năng suất lao đông là tốt nhất và hiệu quả công việc làm được cũng là
tốt nhất.Bởi vì khi ta đi làm việc này thì nhân viên của chúng ta sẽ tích cực làm việc
và cố gắng giải quyết việc của mình dù đó là một công việc khó,và họ sẽ nỗ lực học
tập và nâng cao kiến thức để có thể đóng góp tối đa cho tổ chức.Nó không chỉ dừng
lại ở việc là là có hiệu quả công việc cao mà ta còn có được một đội ngũ nhân viên có
trình độ và luôn gắn bó với tổ chức.
Đặc điểm của hệ thống ngân hàng của Techcombank là một hệ thống lớn do
vậy mà công việc đảm trách không phải là nhỏ do vậy mà để có thể đạt được năng
xuất và hiệu quả cáo cho nhân viên trong điều kiện mà có rất nhiều thách thức cho
nhân viên:Như là áp lực công việc lớn và tính chất của công việc thì phức tạp do vậy
mà để tạo động lực cho người lao động ở đây không phải là một điều đơn giản.
Trên cơ sở thực tiễn như vậy tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương-
Techcombank thì em đã đi chọn đề tài:”Hoàn thiện công tác tạo động lực cho
người lao động làm việc tại khối quản trị nhân lực-Ngân hàng thương mại cổ
phần kỹ thương-Techcombank”.
Để hoàn thành tốt đề tài này em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu
của cô Vũ Thị Mai,và các anh chị tại phòng tiền lương và phúc lợi thuộc khối quản
trị nhân lực-Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương-Techcombank.
*Mục đích nghiên cứu:
-Áp dụng các kiến thức được học tập vào thức tế và trong công tác làm sao để
cho nhân viên có thể đạt được năng lực tốt nhất để làm việc.
Kết quả thông qua điều tra khảo sát.
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-3- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
Chương 1:Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động.
1.1.Động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng.
1.1.1.Một số khái niệm về động lực lao động.
*Động cơ ,động cơ lao động:
Động cơ là bộ phận quan trọng quyết định sự chuyển động hay hành động.Vì
thế,động cơ lao động chính là yếu tố bên ngoài quyết định sự hoạt động,hay là làm
việc của người lao động.Mà động cơ này là do các yếu tố bắt nguồn từ bản thân
người lao động hoặc cũng có thể bắt nguồn từ sự thôi thúc của gia đình người lao
động tạo áp lực lên vai người lao động phải làm việc để nuôi sống gia đình họ,mặt
khác nó không chỉ là nhu cầu về thức ăn mà còn cả nhu cầu về giải trí.
*Động cơ của người lao động có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Là nó xuất phát từ bên trong bản thân của người lao động,và chính những
yếu tố bên trong đó biến thành động cơ để người lao động có thể làm việc,nó thúc
đẩy người lao động làm việc là ở chỗ là họ làm việc vì cuộc sống của bản thân
họ,hoặc là do gia đình họ.
Thứ hai: Động cơ của người lao động rất đa dạng,và thường xuyên biến đổi mà
không phải là cố định.Nó luôn biến đổi sao cho phù hợp với cuộc sống của người đó
và nó chịu tác động của ngoại cảnh.Khi mà ngoại cảnh thay đổi thì động cơ cũng thay
đổi theo.
Thứ ba: Không lúc nào động cơ của người lao động cũng có một mục đích cụ
thể,nhiều khi nó hoàn toàn vô thức.Chính vì thế mà khi nhìn vào động cơ của người
lao động thì nhiều lúc là không chính xác,vì thế mà chúng ta phải xem xét kỹ lương
để không bị nhầm lẫn.
Qua những đặc điểm trên của động cơ của người lao động ta thấy rằng là khó
có thể nhận biết được động cơ nhưng mà việc nhận biết ra nó và đánh giá nó thật
chính xác là một việc rất quan trọng,bởi một lẽ khi mà ta đánh giá động cơ của người
họ
Động lực lao động không phải là yếu tố bẩm sinh mà nó chịu tác động của nhiều
yếu tố và nó thường xuyên biến đổi theo thời gian.Đối với mỗi người lao động có
thể trong thời gian này thì họ có động lực lao động nhưng mà trong thời gian khác
thì lại không có động lực lao động.Nó thường xuyên biến đổi
Động lực lao động làm cho người lao động hăng say làm việc và có hiệu quả cao
hơn,như vậy thì người lao động thông qua việc có động lực làm việc cao thì dẫn
đến việc tăng cao năng suất lao động.Nhưng mà nó cũng không phải là yếu tố
duy nhất dẫn đến tăng năng suất lao động nó chỉ là một phần của việc tăng năng
suất lao động khi mà các yếu tố về điều kiện lao động không đổi.Nếu mà ta coi nó
là yếu tố duy nhất thì thực sự là thấy nó thật sai lầm,vì ngoài ra còn có nhiều yếu
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-5- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
tố khác như:trình độ năng lực,khả năng của người lao động,và các yếu tố khác
nữa…
*Mối quan hệ giữa động cơ ,động cơ lao động và động lực lao động.
Mối quan hệ giữa động cơ và động lực là tại điểm nó đều tạo ra hoạt
động,động cơ lao động là bộ phận của động lực lao động.Tạo động lực là tạo
những cái tác động vào động lực giúp nó hoạt động nhanh hơn và đạt được hiệu
quả hơn.
Động cơ và động cơ lao động là hai khái niệm một cái có một phạm trù rộng
hơn và một cái có phạm trù hẹp hơn,động cơ mang nghĩa rộng.Động cơ lao động
nó chỉ nói về phạm trù lao động.
Động cơ lao động là bộ phận của động lực lao động,nó chỉ là một phần trong
việc tạo động lực cho người lao động.Và động cơ lao động là một bộ phận của
động cơ.
1.1.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực lao động.
Động lực của người lao động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhưng mà ta có
thể thấy được nó gồm ba yếu tố sau:yếu tố thuộc về người lao động,yếu tố thuộc về
phù hợp,người lao động yêu thích thì mới có thể làm cho người lao động nỗ lực hết
mình để có thể hoàn thành được công việc được giao phó,và nó đạt được một kết quả
tốt nhất.Chúng ta thấy rằng khi mà người lao động cảm thấy chán nản với công việc
thì chắc chắn một điều rằng là công việc mà họ đang làm không thể nào có được một
kết quả tốt được.Do đó người quản lý cần phải xem xét xem mức độ phù hợp của
người lao động với công việc và người lao động có hứng thú với công việc này hay
không.
*Yếu tố thuộc về tổ chức: Người lao động nằm bên trong một tổ chức,do đó
khi mà giữa người lao động và tổ chức không có được một sự thống nhất thì họ
không thể nào có thể nỗ lực hết mình được.Vì khi đó nó có xảy ra mâu thuẫn lợi ích
giữa người lao động với tổ chức.Hai là môi trường làm việc bên trong tổ chức có thật
sự tốt và kích thích người lao động làm việc hay không hay là nó có sự kìm hãm ức
chế người lao động làm việc.Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên cũng là một
yếu tố rất quan trọng,nếu mà trong một tổ chức mà người lãnh đạo thân thiện với
người lao động thì ta có thể thấy rằng người lao động thấy được rằng mình được coi
trọng và họ nỗ lực làm việc đây nó chính là sự hưng phấn trong làm việc của người
lao động.Hội tụ của nhiều yếu tố tốt để có thể kích thích người lao động làm việc tốt
nhất.
Điều kiện làm việc nó ảnh hưởng rất lớn đến người lao động khi mà điều kiện
làm việc không đảm bảo về mặt:không khí ,nhiệt độ,tiếng ồn,và mức độ ô nhiễm…
Ảnh hưởng rất lớn đến người lao động.Khi mà điều kiện lao động không đảm bảo thì
nó dẫn đến việc là gây ức chế thần kinh của người lao động làm giảm năng suất và
hiệu quả lao động.Chính vì thế mà các nhà quản lý phải tạo ra một môi trường làm
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-7- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
việc tốt để người lao động có thể hết mình làm việc và có năng suất và hiệu quả là
cao nhất.
Qua đây ta thấy động lực của người lao động chịu tác động của hàng loạt các
yếu tố khác nhau do vậy mà khi đi tạo động lực cho người lao động chúng ta cần phải
thẳng
-8- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
bản thân.Và cũng chính từ đây động lực của người lao động được hình thành nó thôi
thúc người lao động làm việc để có thể đáp ứng nhu cầu của bản thân,những động cơ
này biến thành hành động để ngươi lao động làm việc để thỏa mãn nhu cầu của bản
thân rồi những căng thẳng về tâm lý được giảm bớt.
1.2.Các học thuyết về tạo động lực trong lao động.
Có rất nhiều học thuyết về tạo động lực trong lao động,mỗi học thuyết lại đề
cập đến một cách nhìn và cách tác động khác nhau đến người lao động,khai thác trên
một mặt nào đó trong tâm lý của người lao động để đưa ra giải pháp tạo động lực
trong lao động.Và những học thuyết này được áp dụng trong những trường hợp cụ
thể có thể trong trường hợp này thì là phù hợp nhưng mà trường hợp kia lại không
phù hợp do đó mà người quản lý phải lựa chọn xem cách tạo động lực nào phù hợp
với tổ chức của mình.
1.2.1.Học thuyết nhu cầu của Maslow.
Theo học thuyết của Maslow thì con người có rất nhiều nhu cầu khác
nhau,nhưng mà ông sắp xếp chúng thành năm nhóm khác nhau là: nhu cầu sinh lý -
nhu cầu an toàn - nhu cầu xã hội - nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện.
Ta cũng có thể thấy đây cũng chính là những nhu cầu cơ bản của con người và
được sắp xếp từ thấp đến cao.Ở bên dưới là các nhu cầu cơ bản của con người cái
này luôn được giải quyết trước rồi mới đến nhu cầu ở mức độ cao hơn.Do đó mà
người lãnh đạo cần phải xem xét xem người lao động của mình đang ở mức nào để
có thể đưa gia các chính sách khuyến khích hợp lý để có thể tác động đến người lao
động làm việc.Khi mà chính sách khuyến khích đưa ra không phù hợp thì người lao
động không có động lực làm việc,là do cái chính sách đó có tác động đến phần nhu
cầu mà người lao động đã được thỏa mãn.
1.2.2. Học thuyết tăng cường tích cực của B.F.Skinner.
Học thuyết này có quan điểm cho rằng là những hoạt động mà người lao động
được thưởng hay là khen ngợi thì có xu hướng là được lặp lại,và những hành vi mà bị
nghiệp đó là các chính sách về quản trị,chính sách về tiền lương thưởng và chế độ đãi
ngộ mà công ty tạo cho nhân viên của mình,sự giám sát công và coi trọng con
người,và các điều kiện làm việc.Nó có tác dụng duy trì và ngăn ngừa sự không thỏa
mãn trong công việc.Tuy vậy những yếu tố này không đủ để tạo động lực cho người
lao động làm việc được
Do đó mà Herzberg cho rằng nếu chúng ta muốn tạo động lực cho người lao
động trong công việc thì phải nhấn mạnh đến những yếu tố như thành tích, sự
công nhận, bản thân công việc, trách nhiệm và sự thăng tiến. Nó là đặc điểm mà
người lao động cảm thấy có “sự tưởng thưởng” bên trong.
1.2.5. Học thuyết về sự công bằng của Stacy Adams.
Học thuyết này cho rằng mọi người luôn muốn được đối sử công bằng và
luôn so sánh những gì mà mình đóng góp và những thứ mà mình nhận được,và
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-10- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
cũng có xu hướng là so sánh những gì mà mình nhận được với những gì mà người
khác nhận được so với cùng mức công việc được hoàn thành.Ta cũng có thể hiểu
điều này là người lao động so sánh những gì mà mình bỏ vào công việc với những
gì mà mình nhận được từ công việc đó và sau đó đối chiếu đầu vào - đầu ra của
họ với đầu vào - đầu ra của người khác. Nếu mà những gì mà nó là ngang bằng
với những người khác thì họ cho rằng công bằng và ngược lại họ cho là bất công.
Người lao động cảm nhận được sự công bằng khi:
Các quyền lợi của cá nhân = Các quyền lợi của những người khác
Sự đóng góp của cá nhân = Sự đóng góp của những người khác
Có một sự bằng nhau giữa việc đóng góp của người lao động và với I những
gì mà họ nhận được như vậy mới có tác dụng là kích thích người lao động,nếu mà
trọng thái cân bằng không được đảm bảo thì người lao động lâu dần sẽ sinh ra bất
mãn cho người lao động,lúc này năng suất và hiệu quả không được đảm bảo,do
họ thấy những gì mình bỏ ra không được nhận lại thích đáng lên có tâm lý là
không muốn phấn đấu.
công việc người lao động sẽ biết được như thế nào là hoàn thành được công việc và
có một mục tiêu mà người lao động hướng tới để có thể hoàn thành được công việc
được giao một cách tốt nhất.Và thông qua hoạt động này lại có thêm một tác dụng
kích thích người lao độnglàm việc ,do có một tiêu chuẩn rõ ràng thì người lao động
hoàn thành tốt công việc, nên họ sẽ được khem thưởng từ tổ chức nên người lao động
sẽ thấy hưng phấn để nỗ lực làm việc cho tổ chức
1.3.1.3.Đánh giá về mức độ hoàn thành công việc của người lao động một cách
thường xuyên và đảm bảo công bằng.
Việc đánh giá người lao động một cách thường xuyên còn có tác dụng làm
cho nhà quản lý biết được tình trạng thực hiện công việc của người lao động một các
thường xuyên để có biện pháp điều chỉnh cho người lao động một cách hợp lý.
Mặt khác thì hoạt động đánh giá mức độ hoàn thành công việc một cách
thường xuyên còn làm cho nhà quản lý có thể thực hiện việc khen thưởng người lao
động một cách kịp thời để mà họ có thể hiểu được tác dụng của công việc mình làm
và nỗ lực hơn nữa.
Đánh giá công việc một các thường xuyên có tác dụng rất quan trọng trong
việc tạo động lực cho người lao động,nó khích lệ tình thần làm việc của nhân viên
trong trong tổ chức.
1.3.2.Tạo điều kiện để cho người lao động thực hiện công việc.
Vấn đề này cũng là một vấn đề quan trong để khích lệ người lao động lamg
việc,người lao động có được một điều kiện làm việc thuận lợi thì mới có thể làm cho
người lao động hoàn thành tốt được công việc không những thế mà họ còn có thể
thoải mái tư tưởng để làm việc.
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-12- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
1.3.2.1.Tạo môi trường làm việc thuận lợi.
Môi trường làm việc là rất quan trọng vì môi trường làm việc bên trong tổ
chức có ảnh hưởng tới người lao động,nó bao gồm các yếu tố như là:
Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên.
-13- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
Đây cũng là một công việc quan trọng mà nhà quản lý cần phải làm vì khi mà
không đánh giá đúng năng lực của nhân viên,thì người lao động được xắp xếp vào
một công việc phù hợp với mình hoặc chí ít là cao hơn năng lực của họ một chút để
có thể người lao động cố gắng làm việc và thấy được sức hấp dẫn mà công việc đó
mang lại cho bản thân người lao động.
Nếu mà công việc được giao phó cao hơn khả năng của người lao động nhiều
thì người lao động không thể đảm trách được công việc được giao,như thế sẽ dẫn đến
việc mà họ bị trách phạt do không đảm bảo được yêu cầu của công việc.Điều này
sinh ra sự chán nản trong tâm lý của người lao động.
1.3.3.Kích thích người lao động làm việc.
Chúng ta cần phải dùng các biện pháp kích thích để tao động lực cho người
lao động làm việc,bằng việc sử dụng các chính sách và xây dựng các công cụ để
khuyến khích làm việc của người lao động.
1.3.3.1.Sử dụng các công cụ về tiền lương.
Chính sách lương là một chính sách quan trọng trong công tác tạo động lực
cho người lao động.Vì vấn đề này nó liên quan đến thu nhập của người lao động,khi
mà họ đi làm mà nguồn thu nhập không đủ để mà có thể nuôi sống gia đình của họ
thì thử hỏi xem như vậy thì họ có thể yên tâm làm viêc được không.
Do đó mà ta cần phải xây dựng một chính sách lương đảm bảo cho người lao
động có thể có một cuộc sống ổn định,và cần phải thường xuyên theo sát xem tình
hình lạm phát và giá cả trên thị trường xem như thế nào?Ta cần phải thường xuyên
điều chỉnh cho nó phù hợp với thị trường khi mà giá cả thị trường lên thì cũng cẩn
phải tăng lương cho người lao động để mà họ có thể đảm bảo cuộc sống.
Các nhà quản lý phải sự dụng được hết sức mạnh của công cụ tiền lương trong
việc tạo động lực cho người lao động làm việc.
1.3.3.2.Có chế độ khen thưởng công bằng và minh bạch.
Vấn đề về khen thưởng là vấn đề mà mọi tổ chức doanh nghiệp đêu cần phải
giải quyết nó một cách hợp lý sao cho có thể đảm bảo công bằng cho người lao
vì nếu mà khối này hoạt động hiệu quả thì nhân viễn của toàn bộ hệ thống cũng hoạt
động hiệu quả.Bởi một lẽ rằng là khối quản trị nhân sự này đảm trách rất nhiều vấn
đề trong việc tạo động lực cho người lao động nó liên quan đến vấn đề về:
Các chính sách lương thưởng.
Các chính sách phúc lợi.
Các chính sách về đào tạo cán bộ công nhân viên.
Các chính sách về BHYT & BHXH.
Hoạt động đánh giá về thực hiện công việc cho nhân viên.
Tuyển dụng và tổ chức làm việc cho nhân viên.
Do tầm quan trọng của khối này nó liên quan gần như là hầu hết các mặt của
hoạt động tạo động lực cho người lao động do đó mà cần phải chăm chút cho khối
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-15- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
này thật tốt vì nó là động lực và tạo đà cho các tổ chức các khối khác làm việc.Khi
mà khối này hoạt động tốt và đưa ra những chính sách tốt giúp cho người lao động có
thể nỗ lực hết minh để làm việc.Thì kết quả của nó đạt được thì chúng ta thật là
không thể tưởng tượng được với sự phát triển của công ty.Do tất cả anh em trong
toàn bộ hệ thống làm việc và hoạt động hết mình vì ngân hàng.Vi sự phát triển ngày
càng mạnh mẽ của ngân hàng.
Nếu mà người lao động ở khối không được tao động lực làm việc thì nó sẽ
dẫn đến việc là ùn đọng rất nhiều cho người lao đông ở phía sau.Họ không an tâm
làm việc được hơn nữa muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh thì cần phải tạo động lực
làm việc rất lớn cho người lao động.
Tóm lại, ta thấy tạo động lực lao động chính là việc tạo ra các yếu tố cho
người lao động có khả năng nâng cao hiệu quả làm việc.Có rất nhiều học thuyết liên
quan đến vấn đề này nhưng mà mỗi học thuyết có một cách nhìn nhận riêng của
mình và mỗi cái đều có nhược điểm riêng do vậy mà khi sử dụng ta cần sử dụng tổng
hợp các học thuyết để mà có thể đem lại hiệu quả tốt nhất.Tránh những khuyết điểm
mà học thuyết đó mang lại.
Ta có thể thấy giai đoạn này sự phát triển của Techcombank rất chậm chạp nó
vừa là do hoàn cảnh đất nước lúc này,nền kinh tế của nước ta lúc bấy giờ.Cũng như là
việc mới ra nhập vào nền kinh tế của Techcombank.
*Giai đoạn từ năm 2001-2005:
Giai đoạn này đánh dấu một bước phát triển nhanh chóng của Techcombank tăng
nhanh cả về số lượng phòng giao dịch và vốn điều lệ được tăng thêm nó là do ảnh
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-17- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
hưởng của việc thay đổi của nền kinh tế cũng như việc thâm nhập vào thị trường của
các ngân hàng thương mại cổ phần cũng được một thời gian và đã bước đầu tạo được
lòng tin,và do sự phát triển của kinh tế thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động
tín dụng để đáp ứng cho nó.
Với số vốn điều lệ năm 2001 là 102,345 tỷ đồng tăng lên 555 tỷ đồng và
28/10/2005 ta có thể nhận thấy một bước tiến mới trong huy động vốn trong thời gian
5 năm đã huy động thêm đươc hơn 400 tỷ so với khoảng thời gian hơn 6 năm của giai
đoạn từ năm 1993-2000 chỉ huy động thêm được thêm có hơn 60 tỷ.Khi mới thành
lập thì có rất nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn và việc thành lập các chi
nhánh,phòng giao dịch.Nhưng với những nỗ lực của cán bộ công nhân viên của
Techcombank đã làm cho doanh nghiệp có một sự phát triển vượt bậc và nhiều thành
tựu.
*Năm 2006:
- Nhận giải thưởng về thanh toán quốc tế từ the Bank of NewYorks, Citibank,
Wachovia.
- Tháng 5/2006: Nhận cúp vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững”
- Tháng 2/2006: Phát hành chứng chỉ tiền gửi Lộc Xuân.
- Tháng 6/2006: Call Center và đường dây nóng 04.9427444 chính thức đi vào hoạt
động 24/7.
- Tháng 8/2006: Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới đã công bố xếp
hạng tín nhiệm của Techcombank, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam được xếp
dựa trên nền tảng công nghệ cao như F@st i-bank, sản phẩm Quản lý tài khoản tiền
của nhà đầu tư chứng khoán F@st S-Bank và Cổng thanh toán điện tử cung cấp giải
pháp thanh toán trực tuyến cho các trang web thương mại điện tử F@stVietpay.
Nhận giải thưởng “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services 2007” - giải
thưởng dành cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vực Thương
mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO do Bộ Công thương
trao tặng. .
(Báo cáo của Techcombank)
*Năm 2008:
- 02/2008: Nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do độc giả của
báo Sài Gòn Tiếp thị bình chọn
- 03/2008: Ra mắt thẻ tín dụng Techcombank Visa Credit
- 05/2008: Triển khai máy gửi tiền tự động ADM
- Triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa công nghệ như: nâng cấp hệ thống phần
mềm ngân hàng lõi lên phiên bản T24.R7, là thành viên của cả hai liên minh thẻ lớn
nhất Smartlink và BankNet, kết nối hệ thống ATM với đối tác chiến lược HSBC,
triển khai số Dịch vụ khách hàng miễn phí (hỗ trợ 24/7) 1800 588 822, …
- 06/2008: Tài trợ cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn 2008
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-19- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
- 08/08/2008: Ra mắt Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Techcombank AMC
- 09/2008: Nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2008 do Hội Doanh nghiệp trẻ trao
tặng
- 09/2008: Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20% và tăng
vốn điều lệ lên 3.165 tỷ đồng
- 09/2008: Ra mắt thẻ đồng thương hiệu Techcombank – Vietnam Airlines – Visa
- 19/10/2008: Nhận giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” và “Công ty cổ
phần hàng đầu Việt Nam” do UBCK trao tặng .
(Báo cáo của Techcombank)
Trung tâm dich vụ và hỗ trợ mạng lưới bán lẻ.
Trung tâm phát triển sản phẩm và huy động dân cư.
Cung cấp cho khách hàng nhiều kênh tiếp cận nhanh chóng ,dễ dàng và an
toàn:Biến các trung tâm thành người bạn tin cậy,chuyên cung cấp các thông tin và
tiến hành tư vấn giải đáp thắc mắc cho khách hàng 24/7.Tận tâm phục vụ cho nhu cầu
của các khách hàng.Với năng lực phục vụ lên tới 50 khách hàng một lúc.Ngoài ra các
thông tin mới cũng kịp thời được thông báo trên webside của ngân hàng một cách
nhanh chóng và kịp thời đáp ứng nhu cầu thông tin của khách hàng về hoạt động tín
dụng của ngân hàng các chương trình,chính sách ưu đãi của ngân hàng trong thời
gian này đều được cập nhật liên tục và tin cậy cho khách hàng.
Các sản phẩm tiết kiệm đa dạng,phù hợp với nhu cầu đầu tư và tích lỹ của dân
cư:dựa trên nhu cầu của khách hàng trên khắp mọi miền Techcombank có nhiều các
sản phẩm dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng trên toàn quốc,và giữa các nhóm
khách hàng với nhau.Luôn theo sát thị hiếu của người tiêu dùng,và có những chính
sách ưu đãi phù hợp.Không những khẳng định mình là một ngân hàng an toàn và hiệu
quả,Techcombank còn tiếp tục nỗ lực mở rộng cơ sở khách hàng và duy trì một
nguồn vốn ổn định.Chính vì vậy mà nó đã thu được một kết quả kinh doanh tốt thanh
khoản ở mức cao.Điến cuối năm 2008 đạt 29.779 tỷ đồng tăng 110,91% so với thời
điểm cuối năm 2007 chiếm 71,97%vốn huy động của Techcombank.
Tích cực hỗ trợ tiêu dùng và đầu tư cá nhân:với những sản phẩm của
Techcombank như là cho vay mua nhà -cho vay tiêu dùng lên tục tăng,trong khi các
hoạt động cho vay khác như thấu chi tài khoản,cho vay kinh doanh vàng,kinh doanh
chứng khoán,cho vay du học,cầm cố các giấy tờ có giá…………đều đạt hiệu quả
tốt.Đặc biệt khách hàng có thể vay thấu chi tài khoản với số tiền là 10 tháng thu nhập
mà không cần tài sản thế chấp.
Cho vay tiêu dùng với số dư năm 2008 là 3.386 tỷ đồng tăng 124,83% so với
năm 2007,trong khi đó cho vay mua nhà vẫn ở mức cao 3.521 tỷ đồng.Trung bình
mỗi khoản vay là 500 triệu đồng.
Dịch vụ thẻ và thanh toán điện tử liên tục phát triển:nếu như năm 2005
Techcombak và Vietcombank là hai ngân hàng phát hành thẻ đầu tiên,thì năm 2008
thanh toán F@st invest với lãi xuất cao hơn giúp doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn
nhàn rỗi của mình một cách hiệu quả nhất.Nhờ vậy mà số dư huy động tính đến cuối
năm 2008 đạt mức 11.312 tỷ đồng tăng 12,48% so với cùng kỳ năm 2007,và tiền gửi
có kỳ hạn tăng 54,59%,tiền gửi bằng ngoại tệ chiểm 16,76% tổng số tiền huy động.
Hỗ trợ kịp thời và linh hoạt: Techcombank luôn hỗ trợ khách hàng doanh
nghiệp và cùng chung vai sát cánh với đối tượng khách hàng này.Năm 2008 với nhiều
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-22- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
khó khăn thì Techcombank với nhiều chủ trương chính sách để chia sẻ khó khăn đối
với các doanh nghiệp.Với việc hạ mức lãi xuất cho vay trước hạn đối với các doanh
nghiệp có tình hình hoạt động kinh doanh tốt.Với 3.000 tỷ đồng hỗ trợ cho các doanh
nghiệp thuộc các ngành kinh tế trọng điểm.
Đến 31/12/2008 dư nợ đối với khách hàng doanh nghiệp đạt 18.388 tỷ đồng
tăng 47,36% so với năm 2007
Hỗ trợ vốn lưu động,kinh doanh,đầu tư phát triển:Đối với các doạnh nghiệp
nhỏ Techcombank chú trọng các sản phẩm nhằm tối ưu hóa vòng quay của vốn.
Đối với các doanh nghiêp lớn: thì Techcombank ưu tiên thu hút vốn đầu tư
theo các dự án
-Hỗ trợ thánh toán và đầu tư thương mại:với mạng lưới rộng khắp trên 100 quốc gia
trên toàn thế giới. Techcombank tiếp tục khẳng định vị thế là ngân hàng cung cấp các
dịch vụ thanh toán quốc tế và tại trợ thương mại mạnh nhất trong các ngân hàng
thương mại cổ phần ở nước ta.
Phát hành bảo lãnh:Tổng thu phí đạt 56 tỷ đồng chiểm 10% thu phí dịch vụ
của ngân hàng . Techcombank là ngân hàng bảo lãnh uy tín và cung cấp các dịch vụ
bảo lãnh như:
Bảo lãnh dự thầu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh hoàn tạm ứng.
Bảo lãnh bảo hàng.
vốn điều lệ 40 tỷ đồng bắt đầu hoạt động từ 11/2008.
Đối với hoạt động quản trị rủi ro:Thì Techcombank nhận thức răng hoạt động
kinh doanh rủi ro và quản trị rủi ro là yếu tố quan trọng trong thời buổi kinh tế có
nhiều bất ổn như hiện nay.Mặt khác môi trường kinh doanh của nước ta hiện nay có
rất nhiều bất ổn,cạnh tranh khốc liệt do sự tham gia thêm của rất nhiều các tổ chức tài
chính và phi tài chính trong nước và quốc tế.Cũng như việc ngày càng có nhiều sản
phẩm,dịch vụ tài chính phức tạp tiềm ẩn nhiều rủi ro.Chính vì vậy mà Techcombank
xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế.
Quản trị rủi ro giúp cho việc kinh doanh được an toàn và nâng cao được hoạt
động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng:Rủi ro tín dụng là nguy cơ tiềm tàng gắn liền với việc cấp tín
dụng cho khách hàng.Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp khi khách hàng
không trả đủ các khoản vay cả gốc và lãi của khoản vay hay là thanh toán nợ gốc và
lãi không đúng so với hợp đồng đã ký kết giữa ngân hàng và bên đi vay.Khi mà
khách hàng không có khả năng chi trả các khoản vay của mình thì khi đó khoản vay
này tiền ẩn nhiều rủi ro.Do người đi vay không có khả năng chi trả khoản vay của
mình.
Vũ Văn Dương Lớp:Kinh tế lao động 48
-24- Báo cáo thực tập chuyên đề.
Ngân hàng TMCP kỹ thương-Techcombank.
Rủi ro thị trường: là nguy cơ trong đó giá trị tài sản hay lợi nhuận của ngân
hàng bị ảnh hưởng xấu do những biến động cảu thị trường.Rủi ro thị trường bao gồm
rủi ro lãi xuất,rủi ro thanh khoản và rủi ro giá.Rủi ro thị trường do tính bất câ xứng
giữa cơ cấu tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng(Báo cáo thường niên 2008-
Techcombank).
Techcombank là ngân hàng đầu tiên tiến hành thành công hoạt động quản trị
rủi ro từ năm 2003,đến năm 2008 các mô hình này tiếp tục được tiến hành thưc hiện
và cải cách nhiều mặt giúp cho nó ngày càng hoàn thiện hơn,các khoản rủi ro mà
Techcombank chú trọng như là :mua bán ngoại tệ(FX),đầu tư tiền gủi có kỳ hạn trên
thị trường liên ngân hàng (MM),kinh doanh chứng khoán và giấy tờ có
6 Lợi nhuận sau thuế 76,13 206,15 256,91
7 Lợi nhuận/tổng tài
sản có(ROA)%
1,70 2,60 1,89
8 ROE (%) 31,71 45,19 26,76
Nguồn báo cáo thường niên- Techcombank
Qua bảng số liệu về tình hình hoạt động sảm xuất kinh doanh của Ngân hàng
Techcombank ta nhận thấy từ năm 2004 tới năm 2006 thì về tổng doanh thu đã tăng
lên gần 3 lần như vậy mức độ tăng tốc về doanh thu là tương đối nhanh.Mức độ tăng
về tổng tài sản cũng ở cùng mức như vậy.Ta nhận thấy tất cả các mục như 1,2,3,4,5,6
thì từ năm 2004 tới năm 2006 thì tốc độ tăng lên của chúng là gần 3 lần.Và ta có thể
thấy được rằng tốc độ tặng như vậy của nó cũng tương đối là cao qua các năm.Và
thông qua các chỉ số như vậy ta thấy được mức độ phát triển kinh doanh của
Techcombank và cũng như là việc ổn định trong phát triển.Gần như là năm nào cũng
có được sự lớn mạnh thêm,và làm ăn phát đạt hơn lên.
Chỉ số ROA cho ta thấy mức độ sinh lời của công ty so với tài sản của nó thì ta
thấy được mức độ sinh lời của năm 2005(2,60) lớn hơn mức độ sinh lời của năm
2006(1,89).
Chỉ số ROE phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay
trên tài sản ròng hữu hình) ta thấy năm 2006 chỉ số này thấp nhất trong 3 năm,năm
2005 là cao nhất.Ta thấy năm 2006 có mức độ sinh lời,hay là hiệu quả sử dụng vốn là
thấp.Năm 2006 này cũng là năm mà tổng số vốn của Techcombank đạt 1 tỷ USD,và
khai trương hội sở mới tại 70-72 Bà Triệu-Hà Nội.
STT Chỉ tiêu 2007 2008
1 Tổng doanh thu 2.653,29 8.382
2 Tổng tài sản 39.542,50 59.360
3 Vốn điều lệ 2.521,31 3.642
4 Lợi nhuận trước DP 3.573,42
5 Lợi nhuận sau DP (sau thuế) 709,74 1.600
6 Lợi nhuận sau thuế 510,38 1.173