tiểu luận: Phân tích những đặc điểm của dòng vốn FPI vào Việt Nam và đề xuất tăng cường thu hút FPI - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
 Môn: Tài chính quốc tế
ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH
GVHD: ThS. Đinh Thị Thu Hồng
Nhóm thực hiện:
CK2: 1) Doãn Mạnh Linh
2) Nguyễn Mạnh Tuấn
3) Hồ Hoàng Yến
4) Nguyễn Thanh Phương Ánh
CK1: 5) Đặng Thị Ngọc Phượng
Phân tích những đặc điểm của
dòng vốn FPI vào Việt Nam
và đề xuất tăng cường thu hút
FPI
I. Một số khái niệm
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI - Foreign
Portfolio Investment) là hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới. Nó chỉ
các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời. Hình thức
đầu tư này không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và
nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức Đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
Điều 3 Luật Đầu tư của Việt Nam được thông qua năm 2005 và có hiệu lực
từ tháng 7/2006 đã xác định: "Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua
việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua
quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác
mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư".
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign Direct Investment): là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài
đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

-Cho (C.phủ) vay
với mức lãi suất
thấp hoặc không
lãi suất.
-Có quyền kiểm
soát
-Có trách nhiệm
đối với DN nhận
đầu tư
-Ko có quyền kiểm
soát
-Ko có trách nhiệm
đối với các DN
nhận đầu tư
Không có quyền
kiểm soát với số
vốn đã đầu tư
Phải gánh chịu
thuế cho các
doanh thu có được
từ hoạt động đầu
tư.
Phaûi chòu thueá
Không chịu thuế.
Có tính cố định,
nhà đầu tư không
thể đột ngột rút
vốn.
Rất linh hoạt, nhà
đầu tư có thể tăng

gián tiếp nước ngoài để vào Việt Nam theo xu hướng đổi mới và mở cửa thu
hút đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn này, ở vn đó cú 7 Quỹ đầu tư nước
ngoài được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng 400 triệu USD.
 Giai đoạn 2 (1998-2002): Là thời kỳ khủng hoảng và hậu khủng
hoảng tài chính - tiền tệ châu Á khiến cỏc dũng vốn đầu tư trực tiếp và gián
tiếp nước ngoài đổ vào châu Á bị chững lại và Việt Nam cũng chịu ảnh
hưởng chung của xu hướng này với việc giảm sút và thu hẹp đáng kể quy
mô thu hút của cả FDI và FPI. Trong số 7 Quỹ đầu tư kể trên có 5 Quỹ rút
khỏi Việt Nam, 1 Quỹ thu hẹp trên 90% quy mô quỹ, chỉ còn duy nhất Quỹ
Vietnam Enterprise Investment Fund được thành lập 7/1995 với quy mô vốn
35 triệu USD (nhỏ nhất trong số 7 Quỹ) là còn hoạt động cho đến nay.
 Giai đoạn 3 (từ 2003 cho tới nay): Là thời kỳ phục hồi trở lại của
dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam cùng với xu hướng tăng
cường cải thiện môi trường đầu tư, phát triển các định chế thị trường tài
chính. Cụ thể:
1. Thành lập HOSE (7/2000) và HASTC (3/2005): đặc biệt là chủ
trương và quyết tâm của Chính phủ đẩy mạnh cổ phần hoá và nới lỏng tỷ
lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh
nghiệp nhà nước lớn được cổ phần hoá (từ 30% lên 49%). Trong giai
đoạn này dòng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào nước ta tăng khá nhanh. Tính
đến tháng 7 năm 2006, theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, có
khoảng 22 quĩ đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam, với các
tên tuổi như Sumitomo Misui Việt Nam, Fullerton Vietnam Fund, Tong
Yang Việt Nam, Maxford Growth-Vietnam Focus, Vietnam Resource,
Credit Agricole Fund… nâng tổng số vốn đầu tư gián tiếp tại nước ta lên
khoảng trên 2 tỷ USD.
2. Năm 2007 FPI gia tăng đột biến: Theo số liệu báo cáo tổng kết chính
xác của các thành viên lưu ký, giá trị danh mục đầu tư của nhà đầu tư
nước ngoài (NĐTNN) trên thị trường niêm yết năm 2007 đạt 7,6 tỉ USD.
Nếu tính chung cả thị trường không chính thức, con số này đạt gần 20 tỉ

thực về giá trị vốn đã rót vào UBCKNN khó có thể nắm bắt được chính xác.
Mặc dù Ủy ban có thể nắm được quy mô các quỹ đầu tư tại Việt Nam,
nhưng mức vốn họ đầu tư cụ thể thì chưa chắc đã tương đương quy mô vốn
của quỹ. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế rằng, đây vẫn chỉ là các con
số ước đoán. Theo thông tin từ UBCK Nhà nước, các báo cáo về giá trị danh
mục được dựa trên số liệu của các thành viên lưu ký, và các con số này là
giá trị danh mục thị trường tại thời điểm báo cáo chứ không phải giá trị vốn
gốc FII vào Việt Nam. Lâu nay, việc thống kê chính xác quy mô luồng vốn
này không hề đơn giản khi có sự giao thoa giữa UBCK Nhà nước và NHNN.
Từ góc độ thị trường, UBCK Nhà nước chỉ có thể kiểm soát được quy mô
danh mục đầu tư trên cơ sở lưu ký chứng khoán trong khi NHNN chỉ kiểm
soát từ góc độ ngoại tệ vào.
 Hiện nay, NHNN yêu cầu nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam phải mở
các tài khoản riêng biệt như tài khoản đầu tư trực tiếp, tài khoản góp vốn
mua cổ phần, mua CK. Tuy nhiên, hiện những tài khoản như vậy lại khụng
búc tỏch được giữa việc mua CP gián tiếp thực sự hay mua góp vốn vào DN.
Ngoài ra, hai cơ quan này cũng chưa xác định chính xác được mức vốn góp
trên thị trường chính thức và thị trường không chính thức.
à
Tình hình thu hút vốn FPI ngày càng khởi sắc, điều này là rất đáng
mừng, nhưng song song đó chúng ta cũng cần phải nhận thức rõ được
tầm quan trọng của nguồn vốn này
- Có nên chăng kiểm soát FPI?
- Sử dụng nó sao cho hợp lý nhằm tối đa hóa những mặt tích cực
và tối thiểu hóa những mặt tiêu cực của nó ?
II.2 Tác động của dòng vốn FPI :

Tác động với nước đi đầu tư:
Tác động tích cực Tác động tiêu cực
-1. Đa dạng hóa cơ cấu đầu tư

doanh nghiệp).
-3. Giúp nhanh chóng hội nhập
vào thị trường vốn quốc tế, nâng
cao sự tín nhiệm trong hoạt động
kinh tế đối với nước ngoài.
-4.Tăng tính thanh khỏan >đầu
tư dài hạn hấp dẫn hơn ->cải
thiện tình hình phân phối vốn và
tăng năng lực sản xuất.
-5. Giúp các DNTN hoạt động
hiệu quả hơn,(Ví dụ:
(VINAMILK )/
-6. Đầy nhanh tốc độ tăng
trưởng. (làm tăng KN thanh toán
và hiệu suất của thị trường vốn
nội địa > nguồn lực đc sử dụng
một cách có hiệu quả -> đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng.)
-7. Tăng hiệu quả quản lý doanh
nghiệp (tính công khai, minh
-1. Tính không ổn định.
-2. FPI quá lớn sẽ làm mất cân
bằng vĩ mô, đặc biệt là khi chính
sách vĩ mô không nhất quán và
hướng tới những mục tiêu mâu
thuẫn. (VD:tỷ giá tăng lên quá
mức ->phá vỡ cân bằng TK vốn
và làm tích tự nợ nước ngoài )
-3. Áp lực lạm phát (vd: khi tỷ
giá cố định đươc duy trì, dòng

chính (như đặt ra các thủ
tục kê khai …)
-Vd:Chuyện « mở room »
cho các nhà đầu tư nước
ngoài là biện pháp kiểm
soát vốn trực tiếp
-Hạn chế biến động của
dòng vốn và những giao
dịch khác thông qua các
biện pháp thị trường, chủ
yếu làm cho các giao dịch
vốn phải tốn kém nhiều chi
phí hơn, từ đó hạn chế
(không phải ngăn cấm) các
giao dịch này.
-Vd:Đánh thuế cao trên các
dòng vốn ngắn hạn, đi liền
với việc miễn thuế đối với
các dòng vốn mang tính dài
hạn
+Yêu cầu các định chế tài
chính muốn đi vay hoặc
phát hành cổ phiếu thì cần
phải được xếp hạng tín
nhiệm…
 Cần hạn chế đến mức thấp nhất biện pháp kiểm soát vốn trực tiếp (mang
tính hành chính) vì đó là biện pháp khá mạnh tay, cản trở trực tiếp vốn FII
chảy vào Việt nam và tốn nhiều chi phí trong việc thiết lập và điều hành.
Các biện pháp dựa trên cơ sở thị trường hiện nay vẫn chưa hiệu quả, cần chú
trọng hơn nữa. Ngoại trừ một số ngành nghề và lĩnh vực nhạy cảm, việc

Dựa vào kinh nghiệm trên thế giới (1997-1998)
Malaysia-sự KS thông
minh
Thái Lan-sự kiểm soát bồng
bột.
Malaysia kiên quyết khước
từ "liệu pháp IMF", thực thi
một chế độ kiểm soát gắt
gao việc chảy máu ngoại tệ.
Cuối chiều T3.18/12, NHTW
yêu cầu các nhà băng tư nhân:
Từ 19/12 phong tỏa tối thiểu
30% trị giá các TK tiền gửi
Một Uỷ ban đặc biệt với sự
chủ trì trực tiếp của Thủ
tướng đã được thành lập và
làm việc ngày đêm theo kiểu
thời chiến để đối phó với
khủng hoảng.
Kết quả thật bất ngờ,
Malaysia vững vàng vượt
qua được sóng gió không
cần đến bất cứ viện trợ nào
của các tổ chức tiền tệ quốc
tế.
ngoại tệ được lập để
ĐTTChính, kéo dài trong
vòng một năm. Nếu NĐT
muốn rút trước hạn quy định,
chỉ được giải ngân tối đa 2/3

Hiện nay có rất nhiều quan điểm về vấn đề nên hay không nên kiểm
soát vốn, các quan điểm “đối đầu nhau” kịch liệt.
Đại diện nhóm lợi ích
NĐTNN.
Đại diện quan điểm
của CP
Lấy lý do đã gia nhập
WTO, phải theo thông
lệ chung của thế giới
( phải tự do hóa dòng
vốn, phải để thị trường
tự điều tiết,) bất cứ sự
can thiệp nào từ phía
nhà nước cũng là
không tốt.
Nhóm này tiêu biểu
cho quan điểm ủng hộ
tự do hóa vốn.
Phải kiểm soát vốn để
nhằm:
-ổn định thị trường, đưa
thị trường phát triển
lành mạnh.
-Tránh những cú sốc từ
các nhà đầu tư nước
ngoài rút vốn ồ ạt, gây
náo loạn thị trường, gây
khủng hoảng nền kinh
tế.
Những nghiên cứu mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (tháng 8-

 Chính sách tỷ giá nếu không thật sự linh hoạt hơn nữa và cứ để
cho đồng nội tệ liên tục được định giá cao sẽ dẫn đến tình trạng các
doanh nghiệp và ngân hàng trong nước có thói quen nghiện ngoại tệ
với giá rẻ để ngày càng tích lũy các tài sản nợ chồng chất bằng đồng
đô la. Tình trạng gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam nhưng lại đi vay
bằng đồng đô la đang là “xu hướng” hiện nay ở nước ta, đến khi đồng
đô la tăng giá thì thảm họa sẽ xuất hiện.
 Mức độ mở cửa thương mại hiện nay cũng vẫn còn quá khiêm
tốn, nền kinh tế khó có thể hấp thụ hết ngay một lúc dòng vốn FPI cho
các chiến lược tăng trưởng. Hệ quả sẽ là: khi vốn FPI chảy vào khu
vực tài chính quá mức, sẽ chuyển hướng sang các lĩnh vực khác
không có lợi cho nền kinh tế, có thể làm cho thị trường chứng khoán
nóng lên hoặc làm cho đồng Việt Nam được định giá quá cao.
 Điều hành kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều bất cập -> dễ dẫn đến
những sai lầm trong việc hướng luồng vốn vào những nơi nó không
cần đến. (Trường hợp thị trường bất động sản lúc nóng lên lúc lại
đóng băng như hiện nay chắc có không ít nguyên nhân từ những bất
cập như thế.)
 Tốc độ cổ phần hóa chậm chạp cũng là một thách thức không nhỏ
cho việc tiếp nhận vốn FPI từ các quỹ đầu tư nước ngoài.
 Dựa vào tình hình hiện nay ở Việt Nam, trong năm yếu tố đề cập ở trên
chúng em có nhận xét sau:
1 Khía cạnh vi mô: đó là trình độ quản trị công ty, yếu tố này cần phải
có thời gian để thực hiện, để các doanh nghiệp Việt Nam có đủ nội lực để
phát triển chính mình, qua đó bảo đảm an toàn hệ thống tài chính nói chung,
tránh tác động xấu đến thị trường chứng khoán, gây hiệu ứng domino đến
các thị trường tài chính tiền tệ.
1 Khía cạnh vĩ mô: bao gồm chính sách tỷ giá, mức độ mở cửa hội
nhập, việc điều hành chính sách vĩ mô, tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước, có thể việc điều hành chính sách vĩ mô đóng vai trò quan trọng

Việt Nam. Mọi giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp
phải thực hiện thông qua tài khoản này. Khi chuyển vốn ra nước
ngoài, nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng đồng Việt Nam trên tài
khoản vốn đầu tư gián tiếp này để mua ngoại tệ chuyển ra nước ngoài.
Quy định này đã gây ra nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài
bởi họ phải chịu thiệt hại khi chuyển đổi từ ngoại tệ ra VND và ngựoc
lại, đồng thời họ cũng phải đối mặt với rủi ro tỷ giá khi tỷ giá ngoại tệ
trên thị trường biến động mạnh.
3) Cần sớm ban hành và thực thi Chính sách mở cửa thu hút đầu tư gián
tiếp, xem xét nới lỏng phạm vi ngành nghề hoạt động và tỷ lệ nắm giữ cổ
phần đối với các nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với sự phát triển và
năng lực hệ thống tài chính Việt Nam. Cần mở Room cho nhà đầu tư
nước ngoài, tuy nhiên phải theo lộ trình để trỏnh cỏc “cỳ sốc” đối với
TTCK.
Theo Nghị định 69 của CP ban hành ngày 20/4/2007, tổng mức sở
hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 30%
vốn điều lệ của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Nhưng thực
tế hiện nay, hầu hết các ngân hàng cổ phần đều muốn ưu tiên tỷ lệ
"room" tối đa 30% cho các nhà đầu tư chiến lược. Vì thế, các quỹ đầu
tư nước ngoài, cá nhân đầu tư nước ngoài rất khó có điều kiện và cơ
hội đầu tư vào các ngân hàng cổ phần. Hiệp hội các nhà đầu tư tài
chính VN đã đề xuất giải pháp nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các
NĐTNN từ mức 30% như hiện nay lên 35 - 37%. Việc tăng "room"
này không chỉ làm tăng tỷ lệ huy động vốn của NĐTNN vào lĩnh vực
ngân hàng mà còn tăng quy mô đầu tư của các quỹ nước ngoài vào
TTCK và làm cho thị trường vốn của nước ta trở nên hấp dẫn hơn,
đồng thời làm cải thiện đáng kể tính tổ chức và tính ổn định trong cơ
cấu cổ đông của ngân hàng Việt Nam.
4) Thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn

hành chính sách nhằm giảm bớt các tin đồn không có lợi; ngăn chặn các giao
dịch nội gián; tăng cường công tác thống kê và công bố các số liệu thống kê,
đặc biệt các số liệu thống kê về tình hình đầu tư của các nhà đầu tư nước
ngoài.
 Kết luận
Vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên quan trọng đối
với Việt Nam trong thời buổi cạnh tranh gay gắt hiện nay. Đầu tư nước
ngoài, đặt biệt là nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có vai trò to lớn
trong việc kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao
hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện
cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao
chất lượng quản trị doanh nghiệp v.v… Tất cả đều phục vụ đắc lực cho công
cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, cạnh tranh
gay gắt ở khắp nơi như hiện nay.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng,
do đó, đối với đầu tư nước ngoài không còn con đường nào khác là phải
nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư để thu hút các nguồn vốn và sử
dụng các nguồn vốn này sao cho có hiệu quả nhất. Nhà nước cần nâng cao
năng lực và vai trò quản lý của mình ở tầm vĩ mô hơn là can thiệp vào các
công việc kinh tế cụ thể, phải tích cực cải cách hành chính, thi hành chặt chẽ
và hiệu quả các điều luật, minh bạch nền kinh tế; từng bước hoàn thiện kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, v.v… Thu hút các nguồn vốn đầu tư đó khú,
nhưng làm sao tận dụng thật hiệu quả các nguồn vốn đó để phát triển nền
kinh tế nước nhà cũn khú hơn. Để có được một nên kinh tế phát triển nhanh
và thật bền vững, phía trước vẫn là cả một con đường dài với muôn vàn khó
khăn thử thách chúng ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status