THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ATM CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Khoa Kế Toán – Kiểm Toán
o0o
TIỂU LUẬN MARKETING NGÂN HÀNG
Đề tài 5:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG ATM CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT
NAM HIỆN NAY.
Năm học 2011-2012
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
Khoa Kinh tế và Quản lý
o0o
TIỂU LUẬN MARKETING NGÂN HÀNG
Đề tài 5:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG ATM CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT
NAM HIỆN NAY.
Nhóm 11:
01. Nguyễn Thị Bích Ngọc MSSV: 070506090038 Lớp: B206KT01
02. Phạm Thị Ngọc Yến MSSV: 070506090057 Lớp: B206KT01
03. Đàm Thanh Quốc MSSV: 070506090043 Lớp: B206KT01
04. Võ Tuấn Quốc MSSV: 070506090053 Lớp: B206KT01
05. Cao thị Liên Trà MSSV: 070506090052 Lớp: B206KT01
06. Vũ Thị Thường MSSV: 070506090045 Lớp: B206KT01
07. Nguyễn T Thùy Dương MSSV: 070506090029 Lớp: B206KT01
Năm học 2011-2012
2
LỜI NGÕ
Ngày nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư
vào Việt Nam về lĩnh vực ngân hàng, sự cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cũng ngày

2.2 Đối với ngân hàng 8
2.3 Đối với nền kinh tế 8
Chương III Thực trạng phát hành thẻ ATM của các ngân hàng tại Việt Nam thời gian qua
3.1 Quy Mô Số Lượng Phát Hành Và Tốc Độ Tăng Trưởng 10
3.2 Chiến Lược Và Biện Pháp Mở Rộng Thị Trường 16
3.3 Liên Minh Thanh Toán Thẻ 18
Chương IV Thực trạng sư dụng máy ATM 18
4.1 Sử dụng ATM chưa thật sự an toàn 19
4.2 Dịch vụ ATM còn yếu 20
4.3 Hệ thống máy ATM thường xuyên bị quá tải 21
Chương V Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng máy ATM tại Việt Nam 23
5.1 Phát triển dịch vụ 23
5.2 Mở rộng mạng lưới 23
5.3 Cải tiến công nghệ 23
5.4 Đảm bảo quyền giao dịch cho khách hàng 24
5.5 Đảm bảo an toàn cho người sử dụng 24
Tài liệu tham khảo 26
4
NỘI DUNG
Chương I SƠ LƯỢC VỀ MÁY ATM
1.1. Khái niệm.
Máy rút tiền tự động hay máy giao dịch tự động (còn được gọi là ATM, viết tắt
của Automatic Teller Machine trong tiếng anh) là một thiết bị ngân hang giao dịch tự
động vớikhách hàng, thực hiện việc nhận dạng khách hàng thông qua thẻ (thẻ ghi nợ,
thẻ tín dụng) hay các thiết bị tương thích và giúp khách hàng kiểm tra tài khoản,
rút tiền mặt, chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ.
1.2. Lịch sử ra đời.
Ngành công nghệ thẻ ngân hàng tuy mới phát triển thật sự trong 25 năm gần đây
nhưng thẻ có một lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng
cho khách hàng thông qua việc mua hàng trước trả tiền sau. Nhưng nhiều đại lý nhỏ

tiền tại một ngân hàng ở Dallas. Ông trình bày ý tưởng của mình và được Công ty
Docutel hỗ trợ tài chính. Với số tiền 5triệu USD, Wetzel cùng 2 cộng sự đã chế tạo
thành công chiếc máy ATM đầu tiên trên thế giới. Họ được nhận bằng sáng chế vào
năm 1973.
1.2.2.Tại Việt Nam:
Máy ATM xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 1996 đến nay. Và đặc biệt là hiện
tại thì máy ATM đã có thêm một chức năng ngoài những chức năng đã có đó là: Bán
vàng thẻ. Chiếc máy này chính thức ra mắt vào ngày (9/10/2010) tại trụ sở chi nhánh
DongA Bank quận 5 TP.HCM, Ngân hàng Đông Á
1.3 Sự phát triển của Máy ATM trên thế giới và Việt Nam.
Trong năm 1969, Chemical Bank phát động chiến dịch quảng cáo ATM rầm rộ
với khẩu ngữ: "Kể từ ngày 2/9, ngân hàng chúng tôi sẽ mở cửa lúc 9 giờ sáng và sẽ
không baogiờ đóng cửa nữa". Thế là từ dạo ấy, khách hàng có thẻ tín dụng không cần
phải xếp hàngchờ đến phiên được nhân viên ngân hàng giải quyết cho rút tiền mặt nữa.
Chỉ cần đút tấm plastic có vẹt từ trường vào một cái máy ATM, khách hàng có thể rút
tiền mặt bất cứ lúcnào mình thích, kể cả ngày cuối tuần.Tiếp sau Chemical Bank, nhiều
ngân hàng khác cũng bắt đầu chiến dịch lắp đặt vàquảng bá máy ATM. Năm 1973, tại
Mỹ đã có 2.000 máy ATM hoạt động trên toàn quốc
6
Chi phí cho một máy ATM lúc bấy giờ vào khoảng 30.000 USD. Hiện nay riêng
ở Mỹ, sốlượng máy ATM được đưa vào sử dụng lên đến 371.000 cái. Bạn có thể thấy
ATM khôngchỉ có trong các siêu thị, sân bay mà còn hiện diện trong nhiều cửa hàng
bán thức ăn nhanhMcDonald hay các cửa hàng rượu nhỏ ở Mỹ. Ngay cả ở khu
vực núi đá cheo leo SouthRim thuộc dải Grand Canyon hiểm trở ở bang
Colorado (Mỹ) cũng có máy ATM. Ngàynay, ATM hiện diện ở khắp mọi nơi
trên thế giới, thậm chí vành đai Bắc cực hay trạmquan sát McMurdo Station ở
Nam cực cũng có vài máy. Nếu Nữ hoàng Anh Elizabeth IIcần một ít tiền để "boa"
cho các cảnh vệ của mình, bà có thể rút tiền từ máy ATM được lắpđặt sẵn trong cung
điện Buckingham ở London.
7

Việc tự động hóa trong giao dịch sẽ nâng cao chất lượng của hệ thống tài
chính quốc gia, từng bước giảm dần thanh toán bằng tiền mặt, tạo điều kiện thuận lợi
cho một nền kinh tế hiện đại phát triển và đáp ứng nhu cầu hội nhập trong tương lai của
kinh tế Việt Nam.
9
Chương III THỰC TRẠNG PHÁT HÀNH THẺ ATM CỦA CÁC
NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
ANZ là ngân hàng đầu tiên lắp đặt máy ATM ở Việt Nam. Khi đó cả
nước mới chỉ có 2 máy ATM. Việc sử dụng máy ATM thực sự phát triển
khoảng 10 năm gần đây.
3.1 Quy Mô Số Lượng Phát Hành Và Tốc Độ Tăng Trưởng
Đến giữa năm 2004, chỉ có khoảng 11 NH tham gia thị trường phát hành và thanh
toán thẻ. Trong đó Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) dẫn đầu do có
hệ thống ATM lớn nhất khắp cả nước, tiếp sau là các Ngân hàng: Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng
Công thương Việt Nam (Incombank), và Ngân hàng Đông Á (EAB). Các ngân hàng chỉ
mới trang bị được khoảng 450 máy ATM để phục vụ các giao dịch của chủ thẻ. Từng
ngân hàng cụ thể thì số máy này còn tệ hơn vì hệ thống ATM của mỗi ngân hàng hoạt
động riêng lẻ. Ngoại trừ Vietcombank với 280 máy rải ra khắp cả nước, các ngân hàng
còn lại mới chỉ trang bị từ dăm đến vài chục máy. Đến cuối năm 2004, theo báo cáo của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông vẫn còn chiếm đến
20,35% tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Con số này đã giảm 1/3 so với
cách đây một chục năm, nhưng vẫn còn rất cao so với trình độ thế giới. Nói chung chiếc
thẻ ATM vẫn chưa là vật quen thuộc. Cho thấy đến cuối năm 2004 tình hình phát và sử
dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt-thẻ ATM tại Việt Nam vẫn chưa cao.
Đến năm 2005 quy mô và số lượng thẻ ATM được phát hành tăng lên đáng kể.
Chỉ trong 4 tháng đầu năm số lượng thẻ ATM phát hành tại Ngân hàng Incombank đã
là 50.000 thẻ với số lượng máy ATM là 135 máy. Ngân hàng Agribank cũng đạt 50.000
thẻ đưa tổng số thẻ phát hành lên 150.000 trên tổng số máy là 254 máy. Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển (BIDV) đạt con số khiêm tốn hơn với tổng số thẻ là 76.000 thẻ và gần

hàng cósố lượng thẻ ATM lớn nhất Việt Nam với gần 4,2 triệu thẻ, chiếm 20,7%
thị phần. Tiếp đến là Ngân hàng cổ phần Đông Á với 4 triệu thẻ, chiếm 19,8%
thị phần; đứng thứ ba làVietcombank với 3,85 triệu thẻ, chiếm 19% thị phần.Tương
ứng đó :Về lượng máy ATM, tới cuối năm 2009 Agribank cũng giữ vị trí số một với
1.702máy (chiếm 17,5% thị phần), tiếp theo là Vietcombank 1.483 máy (15,3%),
11
Vietinbank đứng thứ ba với 1.042 máy (10,7%). Đi kèm với việc đoạt “ngôi vương” về
lượng thẻ pháthành cũng như số máy ATM, nguồn tin từ một lãnh đạo của
Agribank cho biết, tỷ lệ thẻATM hoạt động thực sự của ngân hàng này khoảng từ
85% đến 90%.Tuy nhiên, Agribank lại không lọt vào top 3 ngân hàng có doanh
số giao dịch thẻlớn nhất (thẻ ATM chiếm hơn 93%). Giữ vị trí số một vẫn là
Vietcombank với thị phần30,7% (doanh số 100.828 tỷ đồng). Ngân hàng Đông
Á đứng thứ 2 với 19,5% (64.036 tỷđồng), Vietinbank đứng thứ 3 với 12,95%
(42.580 tỷ đồng). Dù có “ngôi vương” về lượng thẻ và số máy ATM nhưng thị phần
về doanh số giao dịch của Agribank chỉ là 12,51%(bằng 40% của Vietcombank ).
Trong thời gian gần đây các ngân hàng đã ra sức mở thêm nhiều máy mới và số
lượng thẻ phát hành của các ngân hàng ngày càng tăng. Đặc biệt là ngân hàng Nông
Nghiệp đã liên kết các với các khu công nghiệp bằng việc trả lương cho công nhân
thông qua thẻ ATM từ đó số lượng thẻ và máy của ngân hàng này không ngừng tăng
lên đến nay ước tính ngân hàng Nông Nghiệp đã có khoảng 566 máy trên phạm vi toàn
quốc với khoảng hơn 1 triệu thẻ được phát hành. Còn đối với Vietcombank họ đã phát
triển thẻ trong sinh viên bằng cách cho lắp đặt thêm nhiều máy ATM ở các trường đại
học và có nhiều chương trình phát hành thẻ miễn phí cho sinh viên nhờ đó mà số lượng
thẻ của Vietcombank đã phát triển rất nhanh.
Tóm lại đối với những sản phẩm, dịch vụ đang có điều dễ dàng thấy nhất là sự
12
bùng nổ dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa (ATM). Trong vòng 3 năm trở lại đây, với mức tăng
trưởng trên cho thấy nhu cầu cũng như sự hưởng ứng nhiệt tình của người tiêu dùng về
dịch vụ ngân hàng hiện đại là rất cao. Số tài khoản và số máy ATM được lắp đặt tăng
lên nhanh chóng và đã tạo một “cơn sốt” thực sự.

Hà Tây 9
Hà Tĩnh 2
Hải Dương 2
Hải Phòng 14
Hậu Giang 2
Hòa Bình 1
Hưng Yên 2
Khánh Hòa 11
Kiên Giang 3
Kon Tum 2
Lai Châu 2
Lâm Đồng 10
Lạng Sơn 4
Lào Cai 4
Long An 3
Nam Định 3
Nghệ An 2
14
Ninh Bình 3
Ninh Thuận 3
Phú Thọ 2
Phú Yên 2
Quãng Bình 2
Quãng Nam 8
Quãng Ngãi 4
Quãng Ninh 9
Quãng Trị 4
Sóc Trăng 10
Sơn La 2
Tây Ninh 3

đem lại kết quả cao cho các ngân hàng.
Chiến lựợc giảm giá và thường xuyên có nhiều chương trình quà tặng cũng đã và
đang được các ngân hàng áp dụng và đã thu hút được nhiều người tham gia sử dụng thẻ.
Và cũng trong năm 2005 thì thẻ ATM cũng đã được sử dụng ở nước ngoài.
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam đã có kế hoạch chuyển toàn bộ các thẻ từ
ATM sang các thẻ thông minh (thẻ chip). Quyền lợi khách hàng của ngân hàng sẻ được
đảm bảo hơn khi sử dụng thẻ chip vì ngoài việc đảm bảo tiện ích như thẻ chip còn có
thể định danh người sử dụng, lưu trữ thông tin về các chương trình khuyến mãi, thậm
chí sức khỏe… đây là một xu thế tất yếu vì thẻ chip sẽ đáp ứng được các yêu cầu của
các tổ chức thẻ quốc tế.
Đến đầu tháng 2 năm 2006, Sở giao dịch hai Ngân hàng Công Thương đề ra chiến
16
lược sẻ cho vay tín chấp dùng vào mục đích sinh hoạt, tiêu dùng đối với những khách
hàng có thẻ ATM và trả lương qua thẻ. Mức vay tín chấp tối đa là 10 triệu. Điều này sẽ
thu hút thêm một số lượng người sử dụng thẻ thanh toán.
Gần đây, 28/3/2006 Ngân hàng Đông Á – chi nhánh Đà Nẵng đã tổ chức triển khai
chương trình “mở thẻ ATM lấy ngay” tại hội chợ giao lưu kinh tế Việt – Lào – Thái.
Với chương trình khách hàng có thể dễ dàng đăng ký, sử dụng ngay một chiếc thẻ đa
năng EAB miễn phí và lấy ngay. Cũng tại thời điểm này, EAB lắp đặt máy ATM hiện
đại nhất Việt Nam vừa có trên thị trường. Khách hàng có thể gửi tiền trực tiếp, rút tiền
mặt, chuyển tiền, thanh toán dịch vụ, mua các loại thẻ cào qua máy và một số chức
năng khác. Và đó cũng là một biện pháp mở rộng thị trường mà Ngân hàng đã sử dụng.
3.3 Liên Minh Thanh Toán Thẻ
Việc liên minh kết nối giữa các ngân hàng có ba cái lợi: thứ nhất là lợi cho khách
hàng do mạng lưới giao dịch được mở rộng, thứ hai khi “nhiều cây chụm lại” sẽ tăng
khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài và
tiết kiệm được chi phí đầu tư, thứ ba tạo điều kiện để người dân giảm dùng tiềm mặt và
thanh toán qua ngân hàng
Các ngân hàng có thể kết nối với nhau qua hai cách. Phương án thứ nhất là lập
công ty chuyển mạch quốc gia đã được Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng Ngoại

gặp những tình huống tuơng tự. Ngoài ra, việc rút tiền qua thẻ gặp sự cốluôn là vấn đề
bức xúc của nhiều khách hàng
Gần đây nhất là sự cố máy ATM rò điện gây chết người. Điều này gây hoang
mang không nhỏ cho người dân. Vì việc rút tiền nên bắt buộc mọi người luôn phải tiếp
cận vớimáy. Và qua kiểm tra tổng quát thì người dân cực kỳ hoang mang cụ thể là Theo
tổng hợpcủa ngành điện, qua kiểm tra khoảng 1.330 phòng đặt máy ATM đã phát
hiện hơn 120 phòng bị rò rỉ, có nguy cơ xảy ra tai nạn điện giật cho người rút tiền. Các
máy ATM thiếuan toàn này thuộc hầu hết các ngân hàng trên địa bàn
TP.HCM, như: Vietcombank,Vietinbank, Sacombank, Việt Á (VAB),
Miền Tây (Western Bank), Á Châu (ACB),Techcombank, BIDV, ANZ
Còn trên địa bàn TP.HÀ NỘI hiện có 1.128 máy ATM của các ngân hàng khác
nhau. Qua kiểm tra 100% số máy trên, các đội công tác đã phát hiện152 máy
không đảm bảo an toàn, gồm cả những máy bị rò điện và máy không có tiếp địa.Bên
cạnh những vấn đề trên thì hiện tượng phá máy trộm tiền của là một vấn đề cần phải có
biện pháp khắc phục cần thiết điển hình như vụ ở phường 13, quận Tân Bình. Cácđối
tượng dùng giấy báo che chắn kín buồng ATM và dùng bình hàn gió đá cắt bung tấmtrả
tiền tự động trên máy ATM, lấy đi 822 triệu đồng.Trong 02 tháng gần đây đã
có tới 9vụ trộm cắp tiền ở máy ATM lên tới 2 tỷ đồng Như vậy :
4.1 Sử dụng máy ATM chưa thật sự an toàn.
19
Có thể nói, ngày nay văn minh thanh toán không dùng tiền mặt đang được phổ
biến rộng rãi ở khá nhiều nước trên toàn thế giới. Một trong những công cụ góp phần
làm giảm việc thanh toán tiền mặt chính là những chiếc thẻ nhỏ gọn và xinh xắn,
được coi như là những “chiếc ví điện tử”. Tuy nhiên, trong thời đại khoa học
cực thịnh công nghệ cực thịnh như hiện nay và internet được phổ cập rộng rãi
và toàn cầu thì việc bảo mật cho những chiếc thẻ đang là một vấn đề làm đau đầu
các chuyên gia trong ngành ngân hàng bởi nạn làm thẻ giả và đánh cắp thông tin cá
nhân của thẻ qua các máy ATM đang ngày càng được phổ biến nhân rộng với những
cách thức tinh vi hơn điều đó đã được tổ chức thẻquốc tế cảnh báo từ rất lâu.Tuy
mới phát triển chưa lâu song có nhiều vụ khiếu kiện về việc mất tiền trong tài khoản

chỉ dùng thẻ để rút tiền mặt tại các máy ATM, từ đó dẫn đến hiểu sai chức năng
của thẻ.
Các địa điểm có lượng giao dịch đòi hỏi thanh toán nhiều như siêu thị, trung tâm
thương mại, nhà hàng hiện nay vẫn chưa có các máy đọc thẻ. Ngay tại một số siêu thị
lớn có máyđọc thẻ thì cũng không được trang bị tại tất cả các quầy thu ngân, do
đó khách hàng vẫngặp khó khăn khi muốn trả tiền bằng thẻ. Một bất cập khác của
thẻ ATM là chưa thật sự có nhiều tiện ích, hấp dẫn khách hàng. Mảng phát
triển mạnh nhất của dịch vụ thẻ này là trả lương qua tài khoản. Tuy nhiên,
mới chỉ có các công ty lớn, tập đoàn, liên doanh và các tổ chức nước ngoài
“sài”dịch vụ này. Các tiện ích khác như chuyển khoản, thanh toán bảo hiểm, tiền điện
thoại, tiền điện… hiện chỉ có một số ngân hàng áp dụng điển hình là ngân hàng Đông
Á EAB.
4.3 Hệ thống máy ATM thường xuyên bị quá tải.
Trong những năm gần đây, mặc dù thị trường thẻ ATM phát triển
nhanh chóng nhưng số lượng thẻ ATM phát hành còn rất thấp so với tiềm năng thị
trường. Tuy nhiên, hệ thống ATM đã bắt đầu có dấu hiệu quá tải. Hiện nay các ngân
hàng đang nỗ lực chạy đua trong việc phát hành thẻ, số lượng thẻ ATM không ngừng
tăng lên và hệ thống máy ATM cũng được các ngân hàng chú trọng đầu tư để
phục vụ nhu cầu sử dụng thẻ ATM của khách hàng. Tuy nhiên số lượng máy
ATM hiện có và mạng lưới chấp nhận thẻ vẫn còn khá ít đã gây ra tình trạng quá tải
trong hệ thống ATM nhất là vào những lúc cao điểm như ngày lễ, tết khi mà nhu
cầu rút tiền của người dân tăng cao. Điều này gây khó khăn cho người sử dụng và gây
tâm lý sử dụng thẻ ATM không tiện lợi so với sử dụng tiền mặt. Ngoài ra việc đặt máy
21
ở một số nơi công cộng như: siêu thị, nhà hàng, sân bay, nhà ga, khu công nghiệp,
trường đại học… cũng gây ra hạn chế về thời gian hoạt động do các máy không thể đặt
ở những nơi mở vì lý do an ninh không đảm bảo nên các máy ATM chỉ có thể hoạt
động trong giờ hành chính (nếu đặt trong các ngân hàng) hoặc đến 9-10 giờ tối(nếu đặt
ở siêu thị, nhà hàng, trung tâm thương mại…). Vì vậy trên lý thuyết máy
ATMhoạt động 24/24 giờ hiện nay chưa được thực hiện. Hơn nữa, việc các máy ATM

Để tăng sự tiện lợi cho người sử dụng, một giải pháp đơn giản là các Ngân hàng
cần tăng cường liên kết hệ thống thanh toán thẻ với nhau, mở rộng hơn các điểm chấp
nhận thẻ nhằm tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô. Câu nói ngày xưa: “một cây làm
chẳng nên non, ba cây chụm lại lên hòn núi cao” vẫn còn đúng trong trường hợp
này.Xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất, kết nối các hệ thống máy
tính ATM của các liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất, đảm bảo thẻ
do một ngân hàng phát hành có thể sử dụng ở nhiều máy ATM và POS của các ngân
hàng khác.
5.3 Cải tiến công nghệ.
23
Việc quá tải mạng, đường truyền trục trặc xảy ra thường xuyên sẻ ảnh hưởng
không nhỏ đến người sử dụng. Giải pháp hạn chế các sự cố là đầu tư nâng cấp hệ thống
xử lý mới để tăng tốc độ xử lý cho phù hợp. Ngân hàng cần có đường truyền dự phòng
tốt nhất là sử dụng riêng. Chất lượng giao dịch ATM phụ thuộc nhiều vào đường
truyền, việc nâng cao chất lượng đường truyền cần được cải thiện. Ngoài ra Ngân hàng
cần tăng cường hơn nữa tính năng cho thẻ. Thẻ ATM có nhiều tính năng sẽ thu hút
được nhiều đối tựơng sử dụng hơn.
Mục tiêu của các ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới là phát triển dịch vụthẻ,
dựa trên cơ sở công nghệ hiện đại, ngoài ra còn hướng tới phục vụ khách hàng
cácmáy ATM thế hệ mới được cải tiến mẫu mã, tính năng. Nếu như các dòng máy
ATM trước đây còn lạc hậu và chỉ có tính năng chính là rút tiền, thì nay có thêm
multimedia (nhạc,tiếng động), màn hình màu sắc sinh động và thêm rất nhiều
tính năng Có loại được tíchhợp thêm camera hoặc gương để theo dõi phía sau, đảm
bảo an toàn cho người sử dụng.
5.4 Đảm bảo quyền giao dịch cho khách hàng.
Vì quyền lợi của khách hàng, đơn vị cung ứng dịch vụ phải hạn chế đến
mức thấp nhất khả năng xảy ra gián đoạn, hết tiền,… trong giao dịch. Gián đoạn
trong giao dịchATM sẽ gây hậu quả lớn hơn nhiều so với nghẽn mạch của
điện thoại di động. nó ảnh hưởng đến cả sức mua của thị trường đặc biệt trong
những ngày lễ, tết hay cuối tuần. Vàđể bảo vệ quyền lợi của người sử dụng cần có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status