Thực trạng và giải pháp phát triển nghiệp vụ thị trường mở ở các ngân hàng việt nam hiện nay - Pdf 18

Phần 1: lý thuyết chung về thị trờng mở
1. Khái niệm chung về nghiệp vụ thị trờng mở
Sau cuộc suy thoáI kinh tế năm 1920-1921, cục dự trữ liên bang Mĩ-
NHTW (viết tắt là FED) thiếu vốn nghiêm trọng, nguồn thu nhập trớc đó của
FED chủ yếu thu từ nghiệp vụ chiết khấu, nhng do hậu quả của cuộc khủng
hoảng kinh tế đã làm lợng tiền vay chiết khấu giảm sút, dẫn tới giảm nguồn
thu. FED bí tiền đành buôn bán chứng khoán kiếm lãi để tiếp tục hoạt động
của mình. Trong khi thực hiện mua chứng khoán, bỗng nhiên các nhà điều
hành thị trờng tiền tệ phát hiện thấy dự trữ trong các ngân hàng tăng lên còn
các khoản cho vay và tiền gửi tăng lên gấp bội. Kết quả này đợc FED rút ra
một bài học bổ ích từ thực tế vô tình là việc mua bán chứng khoán sinh lãi có
thể làm thay đổi cơ số tiền tệ nhạy bén nhất. Thuật ngữ thị trờng mở lần đầu
tiên xuất hiện ở Mỹ vào những năm 20 của thế kỷ XX khi nghiệp vụ này bắt
đầu đợc thi hành. Các nghiệp vụ của ngân hàng trung ơng Mỹ về thị trờng mở
so với các công cụ khác có phạm vi rộng nhất vì nớc này có thị trờng giấy tờ
có giá lớn nhất . ở Anh nghiệp vụ TTM đóng vai trò quan trọng từ những năm
30. Ngân hàng Raykh Đức bắt đầu thi hành chính sách tiền tệ từ năm 1933.
Nghiệp vụ thị trờng mở (NVTTM) là gì ? Mặc dù khái niệm TTM đã đ-
ợc chúng ta tiếp cận từ thời kỳ đổi mới hoạt động ngân hàng cho đến nay, song
để trả lòi câu hỏi này vẫn không ít ngời mơ hồ. Để trả lời câu hỏi trên hãy tiếp
cận với một số quan điểm vể NVTTM nh sau:
Theo quan điểm của nớc Anh: NVTTM là việc NHTW mua bán trái
phiếu dài hạn của Chính phủ trên thị trờng trái phiếu có bảo đảm để làm tăng
hoặc giảm mức cho vay của ngân hàng. Khi mua trên thị trờng mở, NHTW sẽ
thanh toán cho các cá nhân và tổ chức đã bán trái phiếu cho nó. NVTTM về
chứng khoán ngắn hạn cũng đợc thực hiện trên thị trờng tín phiếu. Nơi mà
NHTW bán và mua trái phiếu chính phủ và kỳ phiếu thơng mại để tác động
đến lãi suất và duy trì sự ổn định của thị trờng.
Theo quan điểm của Mỹ: NVTTM là việc mua và bán các loại chứng
khoán trên thị trờng tài chính đợc thực hiện bởi FED
Theo tài liệu ở trờng đại học VICTORIA NEWREALAND: Một

đợc sử dụng trong NVTTM ở nớc ta có thể tăng thêm ngoài tín phiếu kho bạc,
tín phiếu ngân hàng nhng vẫn là giấy tờ có giá ngắn hạn.
Tóm lại thì NVTTM là nghiệp vụ đợc thực hiện bởi NHTW mà nội
dung cụ thể của nó là mua vào và bán ra các loại chứng khoán các loại
chứng khoán này không bị giới hạn về thời hạn trên TTM, thông qua đó
NHTW tác động trực tiếp đến lợng tiền cung ứng và gián tiếp tới lãi suất thị tr-
ờng
Do tính chất thời hạn của công cụ sử dụng trong NVTTM nên NVTTM
không chỉ đợc thực hiện trên thị trờng tiền tệ ( thị trờng của các công cụ tài
chính ngắn hạn) mà còn đợc thực hiện trên cả thị trờng vốn (thị trờng của các
công cụ tài chính dài hạn) hay nói cách khác là đợc thực hiện thị trờng tài
chính.
Trong khái niệm này cũng không có thời hạn về chủ thể tham gia TTM
là cá nhân hay tổ chức. Vì bất kỳ đối tợng mà NHTW mua hoặc bán là ai thì
NHTW vẫn thực hiện đợc chính sách tiền tệ (CSTT) tác động đến cơ số tiền tệ
làm tăng giảm lợng tiền cung ứng trong nền kinh tế , mà cụ thể hoạt động của
nó đợc hình trình bày ở phần tiếp theo.
2. Hàng hoá và chủ thể tham gia NVTTM
2.1.Hàng hoá
2.1.1.Phạm vi hàng hoá đợc giao dịch trên TTM
Về nguyên tắc, mọi tài sản có thể mua bán trên TTM vì chúng đều là tài
sản thế chấp. Tuy nhiên, khác với tái cấp vốn thông qua hình thức cho vay có
đảm bảo ở chỗ tài sản thế chấp trên NVTTM phải là tài sản có khả năng thanh
khoản cao (tức khả năng chuyển sang tiền mặt của tài sản) đảm bảo quản lý dễ
dàng đồng thời đáp ứng yêu cầu điều hành nghiệp vụ này nhanh nhạy, chính
xác và đạt đợc ý mong muốn. Tài sản hội đủ các điều kiện nh vậy chỉ có thể là
công cụ tài chính thuật ngữ gọi là giấy tờ có giá đợc sử dụng trên NVTTM mỗi
nớc có thời hạn là khác nhau.
2.1.2. Một số hàng hoá đợc giao dịch trên TTM ở Việt Nam
Theo điều 8, quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 các loại giấy tờ có

Nh vậy có thể nói phạm vi hàng hoá trên TTM là không bị giới hạn. ở
Việt Nam và các nớc khác cũng không nằm ngoài quy luật chung. Khi thị tr-
ờng tài chính phát triển thì giấy tờ có giá có giá trung và dài hạn sẽ đợc sử
dụng làm công cụ của NVTTM ở Việt Nam.
2.2. Chủ thể tham gia NVTTM
2.2.1. Phạm vi thành viên tham gia NVTTM
Chủ thể tham gia NVTTM rất đa dạng và phong phú. Tuy vậy, cũng tuỳ
thuộc vào quy định riêng của mỗi nớc mà các thành viên tham gia vào
NVTTM là khác nhau. Thông thờng chủ thể tham gia bao gồm : NHTW, các tổ
chức tín dụng, các tổ chức phi tín dung, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân
nhng không phải tất cả các chủ thể đều có thể tham gia mà phải có những điều
kiện cần thiết. Có 3 điều kiện để xem xét phạm vi thành viên, đó là:
- Thứ nhất : NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lợng tiền cung ứng bao
gồm cả tiền mặt và tìên gửi , về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán
trong trờng hợp này đợc mở rộng không những chỉ gồm các tổ chức tín dụng
mà còn cả các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân miễn là họ có tiền
mặt và tiền gửi.
- Thứ hai : nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động
theo hớng đa năng nh hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì
phạm vi thành viên tham gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ .
- Thứ ba: khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán. nếu cá nhân
không có séc hoặc tiền trên tài khoản gửi tại NHTW thì không thể tham gia
mua bán đợc trên thị trờng mở, nếu tổ chức tín dụng(TCTD) không có mạng
kết nối với NHTW trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở
thành thành viên.
2.2.2. Điều kiện tham gia thị trờng mở ở Việt Nam
Chủ thể tham gia nghiệp vụ TTM ở Việt Nam, đợc quy định nh sau:
+ NHTW tham gia với t cách vừa là ngời tổ chức vừa là ngời điều hành
thị trờng, vừa là ngời trực tiếp mua bán trên thị trờng .
+ Các thành viên khác là các TCTD đợc thành lập và hoạt động theo luật

có giá từ bên bán cho bên mua và không kèm theo thoả thuận mua, bán lại.
Với phơng thức này, chỉ đợc thực hiện với các loại hàng hoá mà thời hạn còn
lại (tức thời gian thanh toán còn lại của giấy tờ có giá ngắn hạn tính từ ngày
giấy tờ có giá đợc mua, bán thông qua nghiệp vụ TTM đến hạn thanh toán )
tối đa theo quy định trong từng thời kỳ(ở Việt Nam hiện nay là 90 ngày).
*. Mua bán có kỳ hạn(giao dịch có thời hạn): là việc bên bán bán và
chuyển giao giấy tờ có giá cho bên mua đồng thời cam kết mua lại và nhận lại
quyền sở hữu giấy tờ có giá đó sau thời gian nhất định.
Theo cách chia này, thì hình thức mua bán có thời hạn bao gồm hai
hình thức là hợp đồng mua lại và bán mua đảo ngợc mà các nớc thờng hay
sử dụng. Trong đó, hợp đồng mua lại đợc sử dụng trong trờng hợp NHTW
muốn tăng dự trữ tạm thời còn hình thức bán- mua đảo ngợc sử dụng trong tr-
ờng hợp NHTW muốn giảm dự trữ tạm thời.
+ Hợp đồng mua lại : khi cần bổ sung tăng dự trữ tạm thời NHTW
tham gia trực tiếp vào việc ký hợp đồng mua lại chứng khoán của nhà môi
giới, tức là NHTW mua chứng khoán của nhà môi giới; còn nhà môi giới đồng
ý mua lại chứng khoán đó vào một ngày nhất định với một mức giá nhất định.
Vì dự trữ bổ sung này sẽ dừng lại một cách tự động khi hợp đồng mua lại đến
hạn nên nghiệp vụ này chỉ là cách bơm thêm dự trữ vào hệ thống tiền gửi tạm
thời mà thôi. Thời gian thực hiện hợp đồng mua lại thờng là 7 ngày.
+ Bán- mua đảo ngợc: khi cần giảm khối lợng tiền tệ NHTW thực hiện
giao dịch theo hình thức bán- mua đảo ngợc với các nhà môi giới, bằng một
hợp đồng bán ngay chứng khoán cho nhà môi giới và một hợp đồng đảo ngợc
để mua lại tiếp theo các chứng khoán từ nhà môi giới đó. Thời hạn thực hiện
hợp đồng thờng là 7 ngày.
3.2.Phơng thức đấu thầu trên thị trờng mở
Các hình thức mua bán trên thị trờng mở là mua bán hẳn và mua bán có
thời hạn đều đợc thực hiện trên phòng giao dịch thông qua phơng thức đấu
thầu. Có hai phơng thức mà NHTW áp dụng để đấu thầu là đấu thầu lãi suất và
đấu thầu khối lợng .

lãi suất dự thầu thấp nhất (trờng hợp NHTW mua) mà tại đó đạt đợc khối lợng
giấy tờ có giá NHTW cần mua hoặc cần bán.
Có hai phơng thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo lãi suất thống
nhất hoặc theo lãi suất riêng lẻ:
+ Lãi suất thống nhất : là toàn bộ khối lợng trúng thầu đợc tính theo
một mức lãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán.
+ L ãi suất riêng lẻ : khối lợng trúng thầu đợc tính tơng ứng với từng
mức lãi suất dự thầu đợc công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán.
Khối lợng trúng thầu đợc tính theo nguyên tắc :
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD nhỏ hơn hoặc bằng khối l-
ợng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lợng dự thầu chính là khối lợng
trúng thầu.
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lợng mà NHTW
cần mua hoặc cần bán thì khôí lợng trúng thầu của các TCTD đợc tính tỷ lệ
thuận với khối lợng dự thầu của các TCTD đó.
4. Cơ chế tác động tới lợng tiền cung ứng của NVTTM
4.1. Khái niệm cơ số tiền tệ và lợng tiền cung ứng
Nghiệp vụ TTM đợc coi là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất,
có hiệu quả nhất vì nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với
những thay đổi trong cơ số tiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động
trong lợng tiền cung ứng. Việc NHTW mua trên TTM làm tăng cơ số tiền tệ và
do đó làm tăng lợng tiền cung ứng, còn việc bán trên TTM thì thu hẹp cơ số
tiền tệ và làm giảm lợng tiền cung ứng. Vậy để hiểu rõ cơ chế tác động tới l-
ợng tiền cung ứng của NVTTM chúng ta cần lắm chắc các khái niệm về cơ số
tiền tệ và lợng tiền cung ứng :
- Cơ số tiền tệ ( hay lợng tiền cơ bản (MB-Money Base) bao gồm lợng
tiền trong lu thông (C) cộng với lợng tiền dự trữ trong hệ thống các ngân hàng
(R ) (bao gồm cả tiền dự trữ bắt buộc mà các NHTM gửi tại NHTW (RR) và
dự trữ vợt quá nằm trong két của các NHTM(ER)
MB= C +R (1)

Ta có thể biểu diễn MB và MS theo mô hình sau:
4.2. Cơ chế tác động của NVTTM
NVTTM tác động lên cung tiền và lãi suất trên thị trờng bằng việc mua
bán các giấy tờ có giá trên TTM.
- Khi NHTW thay mặt chính phủ đa chứng khoán ra thị trờng thứ nhất
để phát hành, nhân dân và các tổ chức đem tiền mặt đến mua nck. Đó là
nghiệp vụ bán trên TTM của NHTW. Nh vậy với nghiệp vụ này NHTW đã hút
bớt một lợng tiền ra khỏi lu thông hoặc làm cho dự trữ của các TCTD giảm
làm giảm khối lợng cho vay tín dụng của các TCTD; qua đó ảnh hởng đến cơ
số tiền tệ, số nhân tiền tệ làm lợng tiền cung ứng MS giảm và lãi suất trên thị
trờng tăng
- Dĩ nhiên không phải đợi đến khi chính phủ nhờ phát hành, bản thân
NHTW cũng có chứng khoán riêng của nó do tích luỹ hoặc do các đơn vị khắc
thế chấp . Khi cần thu hẹp lợng tiền mặt ngoài lơu thông NHTW vẫn trực tiếp
thực hiện nghiệp vụ bán nh một hoạt động bình thờng.
Ngợc lại với nghiệp vụ bán là nghiệp vụ mua, nếu NHTW muốn phát
hành tiền vào lu thông quaTTM, nó đơn giản dùng tiền mặt mua chứng khoán
trên thị trờng thứ cấp hoặc của các TCTD. Khi cá nhân hay tổ chức bán chứng
khoán cho NHTW, chứng khoán về tay NHTW ngợc lại tiền mặt trong nền
kinh tế tăng. Nh vậy khi mua chứng khoán trên TTM, NHTW đã thêm một l-
ợng tiền vào lu thông làm tăng lợng tiền cung ứng và làm lãi suất thị trờng
giảm.
Phát hành tiền trên nghiệp vụ TTM cũng đợc coi là nghiệp vụ phát hành
thanh khiết. Bởi vì tiền mặt tăng thêm trong lu thông đã đợc cân đối bởi lợng
chứng khoán, một dạng hàng hoá hay sản vật tăng thêm trong taì sản của
NHTW. Đây là cách phát hành tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Sơ đồ hoạt động của NHTW trên TTM
NHTW
NHTW bán
100tỷ đôla chứng khoán

sẽ gỉ tờ séc đó vào tài khoản của nó ở NHTW hoặc sử dụng tờ séc đó để lĩnh
tiền mặt từ NHTW. Dù hành động theo cách nào ngân hàng bán chứng khoán
sẽ thấy bản thân nó có thêm 100 đô la tiền dự trữ và giảm 100 đô la tài sản
chứng khoán. tài khoản T cho hệ thống ngân hàng đó là:
Tài sản Có Hệ thống ngân hàng Tài sản Nợ
Chứng khoán : -100 đô la
Tiền dự trữ : +100 đô la
Tại NHTW, Tài sản Nợ tăng lên 100 đô la tiền dự trữ, đồng thời tài sản Có
cũng tăng thêm 100 đô la chứng khoán. Taì khoản T của ngân hàng lúc này là:
Tài sản Có NHTW Tài sản Nợ
Chứng khoán : +100 đô la Tiền dự trữ : +100 đô la
Ngân hàng phục
vụ kinh doanh
chứng khoán
Kết quả mua trên TTM làm tiền dự trữ ngân hàng tăng thêm 100 đô la
nhng không ảnh hởng đến lợng tiền lu hành làm cơ số tiền tệ tăng thêm 100
đô la.
Mua trên TTM từ giới phi ngân hàng
*1) Trờng hợp tổ chức, cá nhân bán 100 tỷ đôla chứng khoán cho NHTW
rồi gửi tấm séc của NHTW vào một NHTM .
Khi mua chứng khoán, tài khoản T của nó đợc ghi nh sau:
Tài sản Có Giới phi ngân hàng Tài sản Nợ
Chứng khoán : - 100 tỷ đôla
Tiền gửi có : +100 tỷ đôla
thể phát séc
Sau khi ngân hàng này nhận tờ séc ấy, nó ghi Có vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng 100 tỷ đôla và sau đấy gửi séc ấy vào tài khoản của nó ở NHTW
do thế có thêm tiền dự trữ:
Tài sản Có Hệ thống ngân hàng Tài sản Nợ
Tiền dự trữ : +100 đôla Tiền gửi có thểphát séc : +100 đôla

Tại NHTW , giảm đi 100 tỷ đôla chứng khoán đã bán cho khách hàng,
đồng thời cũng giảm 100 tỷ đôla tiền lu hành do khách hàng rút tiền mặt để
thanh toán chứng khoán.
Tài sản Có NHTW Tài sản Nợ
Chứng khoán : -100 tỷ đôla Tiền mặt lu thông: -100 tỷ đôla

Cách biểu thịbằng ghi chép tài khoản chữ T cho ta thấy rõ hơn giao dịch
mua (bán )với giá trị 100 tỷ đôla chứng khoán trên TTM không phân biệt chủ
thể giao dịch với NHTW hay giới phi ngân hàng , là cá nhân hay tổ chức;
thanh toán chứng khoán bằng séc hay bằng tiền mặt đều cho ta một kết quả là
tăng (hay giảm) tơng ứng 100 tỷ đôla trong cơ số tiền tệ.
*Phân tích ảnh hởng của việc mua bán chứng khoán trên TTM qua
mô hình MD-MS:
Ta có công thức : MS= Mm * MB
Trong đó : MS : Cung tiền tệ của nền kinh tế
Mm : Số nhân tiền tệ
MB : Cơ số tiền tệ
Việc tăng (giảm) MB làm tăng (giảm) cung tiền tệ. Sự thay đổi MS dẫn đến
sự thay đổi tơng quan cung cầu trên thị trờng tiền; làm tác động đến giá cả của
nó là lãi suất.
+ Khi MB giảm làm cho MS giảm (cung tiền tệ dịch chuỷên sang trái, lên
trên tử MSo đến MS1). Giá cả (lãi suất) trên thị trờng tăng lên (từ io đến i1).
i
+ Khi MB tăng làm cho MS giảm (cung tiêng dịch chuyển sang phải, xuống
dới từ MSo đến MS1). Giá cả (lãi suất) trên thị trờng giảm xuống(từ io đến i1).
5. Ưu điểm của TTM so với các công cụ khác
NHTW điều hành CSTT bằng các công cụ trực tiếp nh tỷ lệ dự trữ bắt buộc,

i
5.1. Ưu điểm nổi bật của NVTTM
Sở dĩ NVTTM đợc coi là quan trọng nhất trong điều hành CSTT của
NHTW bởi vì nó là nhân tố quyết định đầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất
hoặc cơ sở tiền tệ-nguồn gốc chính làm thay đổi việc cung ứng tiền tệ của
NHTW . Ngoài lý do trên nghiệp vụ TTM còn 5 u điểm nổi bật nh sau:
- Nghiệp vụ TTM phát sinh theo ý tởng chủ đạo của NHTW, trong đó
NHTW hoàn toàn kiểm soát đợc khối lợng giao dịch. Tuy nhiên việc kiểm
soát này là gián tiếp không nhận thấy đợc.Ví dụ trong nghiệp vụ chiết khấu
NHTW có thể khuyến khích hoặc không khuyến khích các NHTM, chỉ
thông báo lãi suất chiết khấu , mà không kiểm soát trực tiếp khối lợng cho
vay chiết khâú.
- Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt nhng vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ
quy mô nào. Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức
nào đi nữa, NVTTM cũng có thể đạt đợc bằng cách mua hoặc bán một lợng
nhỏ chứng khoán. ngợc lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ với qui mô lớn,
NHTW cũng có đủ khả năng thực hiện thông qua việc mua hoặc bán một
khối lợng lớn tơng ứng các chứng khoán.
- Nghiệp vụ TTM dễ dàng đảo chiều : nếu NHTW có mắc sai sót nào trong
quá trình thực hiện nghiệp vụ TTM, thì có thể ngay tức khắc sửa sai sót đó
bằng các nghiệp vụ bán(nếu nh trớc đó mua vào quá nhiều) hay mua (nếu
nh lúc đó bán ra quá nhiều ).
- Nghiệp vụ TTM có tính an toàn cao: giao dịch trênTTM hầu nh không gặp
rủi ro, xét trên cả góc độ của NHTW hay NHTM; vì cơ sở bảo đảm cho các
giao dịch trên TTM đều là những giấy tờ có gi, có tính thanh khoản cao,
không rủi ro tài chính.
- Nghiệp vụ TTM có thể thực hiện một cách nhanh chóng không vấp phải sự
chậm trễ của các thủ tục hành chính: khi NHTW muốn thay đổi lợng tiền
cungứng thì chỉ cần đa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán và
sau đó việc mua bán sẽ đợc thực hiện ngay.

có giá. Khi mua giấy tờ có giá , ngời mua cần mua loại có giá thấp ,lãi suất
cao; ngợc lại ngời bán muốn bán với gía cao tức lãi suất thấp. Giá của giấy
tờ có giá hay lãi suất trên TTM là yếu tố quan trọng ảnh hởng đến mặt bằng
lãi suất trên thị trờng. Đó là việc NHTW cần quan tâm khi quyết định ph-
ơng thức đấu thầu trên TTM. Nếu NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lãi
suất thì thực hiện đấu thầu khối lợng, ở đó lãi suất là cố định do NHTW
Ngời sản
xuất
Ngời kinh
doanh
NHTM
NHTW
chỉ đạo.Khi mục tiêu nghiêng về giác độ bơm rút tiền theo một khối lợng
mong muốn thì NHTW thực hiện đấu thầu lãi suất, ơđó lãi suất đợc thả nổi
theo cung cầu của thị trờng, còn lãi suất trúng thầu sẽ đạt đợc xác đinh tại
điểm đạt đợc khối lợng tiền cần bơm hoặc rút bớt ra khỏi lu thông.
- Thứ hai : Trong trờng hợp NHTW muốn hạn chế cho vay qua cửa khẩu
chiết khấu thì nó sẽ phải tăng lãi suất chiết khấu để hạn chế việc các
NHTM đem thơng phiếu, kỳ phiếu đến xin chiết khấu và do vậy mà các
ngân hàng cũng hạn chế việc cho vay của mình làm số nhân tiền tệ giảm.
Tuy nhiên, trong cơ chế thị trờng và xu thế hội nhập quốc tế nếu NHTW
tăng lãi xuất chiết khấu quá caothì các NHTM có thể tìm đến các nguồn
vay khác với lãi suất thấp hơn nh tại các ngân hàng khác của nớc ngoài.Vì
vậy việc tăng lãi suất chiết khấu là không có hiệu quả . NHTW cũng có thể
áp dụng mức lãi suất phạt để hạn chế cho vaybằng cánh cửa chiết khấu.
Một vài quốc gia nh ở Đức đã áp dụng hai đờng lãi suất song hành, một là
lãi suất cơ bản và một là lãi suất phạt để hạn chế việc lạm dụng cửa sổ chiết
khấu ở NHTW. Tuy vậy việc hạn chế sử dụng công cụ chiết khấu cần đợc
thực hiện một cách thận trọng. Nếu lãi suất phạt quá cao so với lãi suất thị
trờng thì hoạt động ngân hàng sẽ không kịp phản ứng khi có nhu cầu thanh

NHTM đều phải chịu một tỷ lệ dự trữ bắt buộc là nh nhau. Do đó nó là
công cụ khá cứng nhắc. Việc không ngừng thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
có tác động mạnh tới hoạt độngcủa các NHTM , gây ra tình trạng kém ổn
định cho các ngân hàng và làm cho việc quản lý khả năng thanh khoản của
các ngân hàng đó khó khăn hơn.
Thứ ba : việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề về khả năng thanh
khoản ngay cả với ngân hàng có dự trữ quá mức thấp.
Với nhiều quốc gia công cụ này đã bị hạ thấp và một vài trờng hợp đã bị
loại bỏ, tuy nhiên dự trữ bắt buộc vẫn có vai trò nhất định của mình trong
việc điều hành CSTT . Nhng phải vận dụng nó một cách thận trọng và phải
kết hợp với các phơng pháp khác.
Nh vậy so với các công cụ khác thì NVTTM có u thế hơn hẳn. Nhờ các -
u điểm của nó mà tới nay hầu hết các NHTW đều đề cao NVTTM nh một
công cụ đầu bảng trong hệ thống các công cụ điều hành CSTT .
6. Thực trạng hoạt động tại một số nớc trên thế giới
ở Anh , NVTTM đã đợc sử dụng từ rất lâu và đã trở thành một công cụ
linh hoạt của CSTT của NHTW Anh. ở đây, các loại hàng hoá giao dịch
trên thị trờng không bị giới hạn về thời gian và các chủ thể tham gia
cũng không phân biệt là cá nhân hay là tổ chức. Các loại trái phiếu dài
hạn của chính phủ có đảm bảo và các tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu thơng
mại đợc giao dịch.ở Anh các giao dịch về trái phiếu dài hạn đợc coi là
quan trọng hơn trong việc kiểm soát tín dụng, NHTW có thể giảm phát
hành tín phiếu kho bạc và tăng phát hành các tín phiếu trung và dài
hạn.các tín phiếu có thời hạn dài hơn có khả năng đợc các cá nhân hay
các tổ chức ngoài hệ thống tài chính mua hơn là trái phiếu kho bạc
loại này phần lớn nằm trong các ngân hàng và TCTD vì đây đợc coi nh
là một khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng và
các TCTD. VIệc tăng cờng phát hành trái phiếu dài hạn và hạn chế tín
phiếu kho bạc có tác động kép.
Trớc hết, ngời mua trái phiếu là các tổ chức phi ngân hàng và các

rộng dự trữ của các ngân hàng, mở rộng khả năng cho vay mới, làm giảm áp
lực vay thêm dự trữ trên thị trờng vốn liên bang. Điều này có xu hớng hạ thấp
lãi suất, đẩy nhanh các quá trình kinh tế.
Phần 2: thực trạng hoạt động thị trờng mở ở
Việt Nam hiện nay
1. Sự cần thiết phải ra đời hoạt động TTM ở Việt Nam
Với Việt Nam, NVTTM là một công cụ rất quan trọng và cần thiết trong
việc điều hành CSTT ở Việt Nam. Sự cần thiết đó thể hiện ở một số
điểm sau đây:
Do hạn chế của công cụ trực tiếp trong việc điều hành CSTT. Qua thực
trạng điều hành CSTT ở Việt Nam trong thời gian qua, có thể thấyhạn
chế của công cụ trực tiếp là: thiếu chủ động, hiệu quả thấp, sự phối hợp
cha chặt chẽ, cha thực sự phản ánh tín hiệu thị trờng. Do đó cần thiết
phải có công cụ gián tiếp- NVTTM để có thể điều hành CSTT một cách
linh hoạt và chủ động.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, với xu thế hội nhập quốc tế, Việt
Nam phải có thị trờng tài chính phát triển mới có thể tham gia vào thị tr-
ờng quốc tế. Công cụ NVTTM sẽ góp phần phát triển và hoàn thiện thị
trờng tài chính Việt Nam.
NVTTM giúp chính phủ thực thi CSTT quốc gia có hiệu quả. Điều này
đợc thể hiện ở sự chủ động và linh hoạt trong các hoạt động của NHTW
về thời gian và mức độ tác động theo mục đích của mình.
Ngoài ra NVTTM còn có tác động đối với các tổ chức tín dụng trong
việc đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng, thực hiện các mục tiêu của CSTT.
Việc xuất hiện TTM là một bớc tiến quan trọng trong tiến trình tự do
hoá lãi suất ở nớc ta. Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã có thêm một
công cụ mới- công cụ quan trọng nhất trong điều hành CSTT ở nớc ta.
2. Thực trạng hoạt động TTM ở Việt Nam
2.1. Thuận lợi
Qua hơn hai năm thực hiện, NVTTM ở nớc ta đã vận hành một cách

vụ thị trờng mở là một trong các công cụ tái cấp vốn của NHTW, có
thể nói là công cụ tái cấp vốn có hiệu quả nhất của chính sách tiền tệ.
Tuy đã đạt đợc một số kết quả trông thấy nhng với thời gian ngắn
ngủi hơn một năm, chúng ta cha thể có đủ kinh nghiệm để vận hành
trơn tru cỗ máy nghiệp vụ TTM mà không vấp phải những sai lầm,
tồn tại không thể tránh khỏi hay phát huy tối đa những thuộc tính u
việt của nó.
2.1. Số lợng thành viên tham gia còn ít.
Đến nay, NHTW mới chỉ cấp giấy phép hoạt động cho 21 TCTD
tham gia thị trờng bao gồm 4 NHTM Nhà nớc (NH Ngoại thơng, NH
nông nghiệp và phát triển nông thôn, NH Công thơng, NH đầu t và
phát triển); 10 Ngân hàng thơng mại cổ phần, một ngân liên doanh,
4 chí nhánh Ngân hàng nớc ngoài, một công ty tài chính và QTDND
Trung ơng. Qua các phiên giao dịch, số thành viên tham gia dự thầu
thờng là nhỏ. Các NHTM quốc doanh tham gia dự thầu và trúng thầu
là chủ yếu, còn các TCTD khác hầu nh cha tham gia dự thầu.
2.2. Loại hình hàng hoá giao dịch còn hạn chế.
Điều 8 Quyết định 85/2000/QĐ - NHNN14 (ngày 9/3/2000) của
thống đốc NHNN (về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trờng
mở) quy định các loại giấy tờ có giá đợc giao dịch thông qua thị tr-
ờng mở bao gồm: Tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, các loại giấy
tờ có giá ngắn hạn khác do Thống đốc NHNN quy định cụ thể trong
từng thời kỳ.
Quy định trên cho thấy dù trong từng thời kỳ cụ thể, các loại giấy tờ
có giá đợc sử dụng trong nghiệp vụ TTM của nớc ta vẫn có thể tăng
thêm ngoài tín phiếu NHNN, nhng về bản chất đó vẫn là giấy tờ
ngắn hạn. Quan niệm thiếu cập nhật này tạo nên sự đơn điệu về
hình thức hàng hoá giao dịch trên thị trờng mở.
Qua hơn một năm hoạt động, hàng hoá đợc giao dịch trên TTM chủ
yếu là tín phiếu kho bạc và tín phiếu NHNN. Tổng khối lợng của hai

TTM nói riêng. Trong khi đó, ở Mỹ hay các nớc EU có hẳn những
hãng thám tử kinh tế, những chuyên gia kinh tế chuyên nghiên cứu
về vấn đề rủi ro, tình hình tài chính những thành viên tham gia thị tr-
ờng mở, nhu cầu về chứng khoán và xu hớng phát triển của kinh tế
toàn cầu. Đó là cơ sở cho NHTW của họ đa ra mức lãi suất chiết
khấu và lợng chứng khoán phát hành.
Ngoài ra, các ngân hàng còn thiếu cán bộ thông tin giỏi về công
nghệ thông tin trong khi đặc trng của thị trờng mở rất cần sự hỗ trợ
của công nghệ thông tin.
Trên thực tế hoạt động của các ngân hàng Việt Nam vẫn cha thoát ra
khỏi nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, đó là hoạt động tín dụng.
Dự nợ cho vay ở hầu hết các ngân hàng vẫn chiếm 70% tổng số sử
dụng vốn.
Phần 3: Định hớng và giải pháp phát triển nghiệp vụ mở thị trờng ở
Việt Nam
1. Định hớng cho NVTM ở Việt Nam.
- Cở sở pháp lý cho hoạt động của thị trờng cần đợc rà soát lại để kịp
thời điều chỉnh theo hớng tạo điều kiện để thu hút thành viên tham
gia thị trờng mở.
- NHTW cần tiếp tục nghiên cứu để mở rộng thêm nhiều loại hàng
hoá (nh các loại trái phiếu, các chứng khoán do tổ chức tín dụng Nhà
nớc phát hành ) có thể sử dụng trong các giao dịch nghiệp vụ thị tr-
ờng mở.
- Chất lợng công tác dự báo, điều hành thị trờng cần từng bớc hoàn
thiện trên cơ sở nâng cao trình độ cán bộ dự báo, cải tiến chế độ cung
cấp thông tin trong và ngoài ngành với sự phối hợp chặt chẽ của các
đơn vị NHNN, các tổ chức tín dụng, các bộ ngành liên quan (Bộ tài
chính, Kho bạc Nhà nớc).
- Đẩy mạnh tiến độ hiện đại hoá hệ thống thanh toán liên Ngân hàng.
Đây cũng chính là cơ sở để nâng cao hiệu quả của hoạt động nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status