402 Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. Thực trạng và giải pháp - Pdf 27

Luận văn tốt nghiệp
Mở đầu
Trong các quan niệm trớc đây ở nớc ta về quá trình công nghiệp hoá, vai
trò của con ngời mặc dù đã đợc đề cao ở mức độ đáng kể, song con ngời với tất
cả tiềm năng, hiện trạng và sức mạnh của nó thì lại cha đợc nhìn nhận nh là một
nguồn lực của bản thân quá trình công nghiệp hoá. Đây là một trong những
nguyên nhân chủ yếu làm cho quá trình công nghiệp hoá trớc đây thiếu động
lực và đạt kết quả rất hạn chế.
Ngày nay, do sự tác động, chi phối bởi những đặc điểm mới của thời đại,
vị trí và đặc điểm các nguồn lực của CNH - HĐH cũng đợc nhìn nhận lại, trong
đó con ngời vừa đợc coi là nguồn lực nội tại, cơ bản, quyết định sự nghiệp CNH
- HĐH, vừa là đối tợng mà chính quá trình CNH - HĐH phải hớng vào phục vụ.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Đáp ứng yêu cầu về con ngời và
NNL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nớc trong thời kỳ CNH - HĐH.
Với tính cách là nguồn lực quyết định sự nghiệp CNH - HĐH, nguồn
nhân lực thể hiện vai trò ở cả phơng diện là chủ thể lẫn phơng diện là khách thể
của quá trình CNH - HĐH. Là chủ thể, con ngời khai thác, sử dụng nguồn lực tự
nhiên và các nguồn lực khác để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH - HĐH. Là
khách thể, con ngời trở thành đối tợng đợc khai thác triệt để cho sự thành công
của CNH - HĐH; đồng thời chính con ngời là đối tợng đợc thụ hởng những
thành quả của quá trình CNH - HĐH đó. Vì vậy, ngày nay, con ngời đợc coi là
nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; giữ vị trí trung
tâm trong toàn bộ quá trình CNH - HĐH, CNH - HĐH là do con ngời và vì con
ngời.
Mặt khác, với thực trạng nguồn lực con ngời Việt Nam hiện nay, việc
khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lực đó sao cho có hiệu quả nhất đáp ứng yêu
cầu CNH - HĐH nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đang thu hút sự
quan tâm của những ngời làm công tác lý luận và của phần lớn các nhà khoa
học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau và những ngời làm công tác hoạch
Phạm Thị Nga 1 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp

Những vấn đề chung về nguồn nhân lực
1.1. Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Trớc khi bàn về khái niệm nguồn nhân lực cần tìm hiểu khái niệm
nguồn lực. Dới dạng tổng quát, khái niệm nguồn lực đợc hiểu là toàn bộ
các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự phát
triển và trong những điều kiện thích hợp sẽ thúc đẩy quá trình cải biến xã hội
của một quốc gia, dân tộc. Nghĩa là, khái niệm nguồn lực có phạm vi bao
quát rộng, hàm chứa không chỉ những yếu tố đã và đang tạo ra sức mạnh trên
thực tế, mà cả những yếu tố đang ở dạng tiềm năng; không chỉ nói lên sức mạnh
mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hoặc nơi có thể cung cấp sức mạnh,
phản ánh không chỉ số lợng mà còn cả chất lợng các yếu tố, đồng thời nói lên
sự biến động không ngừng của các yếu tố đó.
Khái niệm Nguồn lực con ngời hay nguồn nhân lực (NNL) đợc sử
dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nớc phơng Tây và một số nớc
Châu á, và bây giờ khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan niệm mới về vai
trò, vị trí con ngời trong sự phát triển. Quan niệm về NNL khá đa dạng, đợc đề
cập đến từ nhiều góc độ khác nhau:
Ngân hàng thế giới cho rằng, Nguồn nhân lực đợc hiểu là toàn bộ vốn
ngời (gồm thể lực, trí tuệ, kĩ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nh
vậy, ở đây, NNL đợc coi nh một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác:
vốn tiền, công nghệ, tài ngyên thiên nhiên
Liên hợp quốc cũng có cách tiếp cận tơng tự khi cho rằng: NNL là tất
cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con ngời có quan hệ tới sự phát
Phạm Thị Nga 3 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
triển của đất nớc. Quan niệm này xem xét NNL chủ yếu ở phơng diện chất l-
ợng con ngời và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển xã hội.
ở Việt Nam, một số nhà khoa học tham gia chơng trình khoa học
công nghệ cấp nhà nớc: Con ngời Việt Nam mục tiêu và động lực của sự

- Theo giáo trình Kinh tế lao độngcủa Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà nội: Nguồn lao động là toàn dân số trong độ tuổi ( nam từ 15 đến 60 tuổi,
nữ từ 15 đến 55 tuổi) trừ đi những ngời trong độ tuổi này hoàn toàn mất khả
năng lao động.
Với quan niệm này, Nguồn lao động sẽ không bao gồm dân số ngoài
độ tuổi lao động trong thực tế làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
- Theo qui định của Tổng cục thống kê: Nguồn lao động bao gồm toàn
bộ dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những ngời ngoài
tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, cụ thể: Nguồn
lao động bao gồm những ngời từ đủ 15 tuổi trở lên có thể làm việc và những ng-
ời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhng đang không có việc
làm( thất nghiệp) hoặc đang đi học, hoặc đang làm nôi trợ cho gia đình mình,
hoặc cha có nhu cầu làm việc (T.S Trơng Thị Minh Sâm: Những luận cứ khoa
học của việc phát triển NNL công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam; Nxb Khoa học Xã hội Hà nội, 2003).
Khái niệm Nguồn nhân lực này đợc sử dụng trong điều tra mẫu quốc
gia về lao động việc làm hàng năm, trong công tác thu thập, tổng hợp thông
tin thống kê về thị trờng lao động ở Việt Nam từ năm 1996 trở lại đây. Khái
niệm này vừa phù hợp với qui định của Bộ luật lao động về độ tuổi lao động,
vừa bao gồm cả những ngời lao động còn đang ở dạng tích cực (đang tham gia
lao động) và những ngời lao động còn đang ở dạng tiềm tàng ( có khả năng lao
động nhng cha tham gia lao động); là căn cứ để tính toán qui mô gồm nguồn lao
động tai một thời điểm nào đó.
NNL đợc xem xet dới các góc độ: số lợng và chất lợng
Phạm Thị Nga 5 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
Về số lợng: đợc hiểu thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng NNL.
Các chỉ tiêu về số lợng này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu về qui mô và
tốc độ tăng dân số. Qui mô và tốc độ tăng dân số càng cao dẫn đến tốc độ tăng
NNL càng lớn và ngợc lại.

khách thể cuả các quá trình kinh tế- xã hội; là đối tợng mà chính sự phát triển
xã hội phải hớng vào phục vụ. Nghĩa là: Nếu nh các nguồn lực khác chỉ là ph-
ơng tiện của sự phát triển xã hội, thì nguồn lực con ngời lại vừa là phơng tiện
(phơng tiện đặc biệt), vừa là mục tiêu của chính sự phát triển xã hội ( T.S Đoàn
Văn Khái, Nguồn lực con ngời trong quá trình CNH HĐH ở Việt Nam, Nxb
Lý luận chính trị 2005 ).
Nh vậy, khi nói đến NNLvà vai trò của nó là phải xem xét con ngời vừa
là chủ thể vừa là khách thể của các quá trình kinh tế xã hội:
Là chủ thể, con ngời khai thác, sử dụng các nguồn lực khác hiện có,
đồng thời qua đó góp phần tạo ra các nguồn lực mới để duy trì sự tồn
tại và phát triển xã hội.
Là khách thể, con ngời trở thành đối tợng đợc khai thác cả về thể lực và
trí lực cho mục tiêu phát triển xã hội
Tuy nhiên, hai t cách này tồn tại không tách rời nhau; bởi lẽ khi khai thác
các nguồn lực khác, con ngời tất yếu phải sử dụng trí lực và thể lực của mình
quyết định mục tiên, cách thức, nội dung và hiệu quả khai thác các nguồn lực
khác. Ngợc lại, quá trình khai thác trí lực và thể lực ở con ngời đều có quan hệ
với các nguồn lực khác ở các mức độ khác nhau. Với ý nghiã đó, con ngời vừa
là chủ thể , vừa là khách thể, vừa là mục tiêu của các quá trình kinh tế xã
hội; và do vậy NNL giữ vị trí trung tâm không chỉ trong hệ thống các nguồn lực
của sự phát triển xã hội mà còn của chính sự phát triển xã hội (Vũ Huy Chơng,
Vấn đề đào tạo Nguồn nhân lực tiến hành CNH HĐH, Nxb Chính trị Quốc
gia Hà nội, 2003).
Phạm Thị Nga 7 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
1.1.2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao chất lợng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp CNH HĐH đất n ớc.
Thực tế cho thấy quá trình CNH HĐH sẽ không thể thực hiện thành
công nếu thiếu NNL nói chung và NNL có chất lợng cao nói riêng. Một mặt,
NNL là lực lợng duy nhất có khả năng phát hiện, xác định muc tiêu, nội dung

( Nguyễn Thanh, Phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH HĐH đất nớc,
Nxb Chính trị Quốc gia Hà nội, 2002). Nói cách khác, các nguồn lực cho quá
trình CNH HĐH đều quan trọng, nhng xét đến cùng; nếu thiếu sự hiện diệ
của trí tuệ và lao động của con ngời thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa;
thậm chí ngay cả khái niệm nguồn lực cũng không còn lý do để tồn tại. Sự
khẳng định này không chỉ nói lên vai trò quyết định của NNL trong quan hệ so
sánh với các nguồn lực khác, mà còn phản ánh một đặc điểm quan trọng hàng
đầu của nó, đó là: NNL là nguồn lực duy nhất mà nhờ nó; các nguồn lực khác
mới phát huy đợc tác dụng và ý nghĩa tích cực đối với qúa trình CNH HĐH.
Với ý nghĩa đó, nguồn nhân lực là yếu tố tất yếu, không thể thay thế đợc.
1.2. Các nhân tố ảnh hởng tới chất lợng nguồn nhân
lực
1.2.1. Qui định về độ tuổi lao động và qui mô, cơ cấu dân số.
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể, tâm sinh lý xã
hội mà con ngời tham gia vào quá trình lao động.
Giới hạn về độ tuổi lao động đợc qui định tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế
xã hội của từng nớc và trong từng thời kì.
Tại điều 6 và điều 145 của Bộ luật lao động nớc Cộng hoà xã hôi chủ
nghĩa Việt Nam qui định độ tuổi lao động: Nam từ 15 đến 60 tuổi và nữ từ 15
đến 55 tuổi.
Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng số lợng NNL cũng
nh số lợng ngời lao động, nhng nhịp độ tăng dân số chậm lại cũng không làm
giảm ngay lập tức nhịp độ tăng NNL. Quan điểm dân số tối u cho rằng: Một
Phạm Thị Nga 9 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển cân đối và với tốc độ cao phải có qui
mô, cơ cấu dân số thích hợp, phân bố hợp lý giữa các vùng.
1.2.2. Biến đổi kinh tế xã hội.
Tăng trởng là nhân tố kinh tế quan trọng tác động tới NNL trên nhiều ph-
ơng diện. Tăng trơng kinh tế không chỉ trực tiếp góp phần cải thiện đời sống

chính sách phân phối, đặc biệt là chính sách trả công cũng có ảnh
hởng rất lớn tới NNL đặc biệt là tới chất lợng NNL.Chúng có thể
kìm hãm, triệt tiêu hoặc nhân lên nhiều lần những yếu tố của chất
lợng NNL.
1.2.3 Tình trạng dinh dỡng và chăm sóc sức khoẻ.
Dinh dỡng thấp, sức khoẻ yếu không chỉ gây ra ốm yếu về thể trạng, khổ
ải về tinh thần mà còn giảm năng suất lao động. Một bà mẹ suy dinh dỡng trong
giai đoạn sơ sinh và vào lúc trẻ còn nhỏ đều có thể dẫn đến bệnh tật cũng nh sự
khiếm khuyết trong quá trình phát triển về thể trạng và thần kinh của trẻ, do đó
năng suât lao động trong tơng lai sẽ bị hạn chế. Hơn nữa, sự suy dinh dỡng và
bệnh tật ở ngời lớn còn làm suy giảm năng lợng, tính năng lợng, tính sáng tạo,
khả năng học tập và làm việc của họ.Các nớc đang phát triển thờng mắc kẹt
trong vòng luẩn quẩn của nghèo đói, suy dinh dỡng, năng suất lao động thấp.
Tình trạng suy dinh dỡng thờng là vấn đề của ngời nghèo. Nguyên nhân
không chỉ do thu nhập thấp mà còn vì trình độ học vấn thấp, không có khả năng
tiếp cận và thu nhận thông tin cần thiết để thực hiện chế độ dinh dỡng hợp lý.
Ngoài vấn đề dinh dỡng, sự phát triển của hệ thống y tế và khả năng tiếp
cận của ngời dân cũng có ảnh hởng quan trọng tới việc bảo vệ và chăm sóc sức
khoẻ. Do thành tựu của tăng trởng và phát triển kinh tế, quy mô và năng lực của
mạng lới y tế cũng tăng lên cùng với tiến bộ khoa học công nghệ trong y học
đã góp phần nâng cao sức khoẻ, thể hiện ở tuổi thọ trung bình ngày càng tăng
cao. Tuy nhiên nh ngời ta thờng nói, hệ thống y tế là xã hội thu nhỏ; điều đó có
Phạm Thị Nga 11 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
nghĩa là khả năng tiếp cận của ngời dân với dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ y tế
chất lợng cao là không đồng đều.
1.2.4. Mức độ phát triển của giáo dục- đào tạo.
Trong các yếu tố ảnh hởng tới chất lợng NNL thì mức độ phát triển của
giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trọng nhất; vì nó không chỉ ảnh hởng trực
tiếp tới trình độ văn hoá; trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành

đặc điểm, điều kiện nớc mình.Song, hầu hết các nớc đều nhằm vào đối tợng
đầu t chủ yếu là NNL; đặc biệt là các nớc nghèo tài nguyên: Nhật Bản, Trung
Quốc, Hàn Quốc
Thực hiện đầu t trên ba mặt: chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lợng cuộc
sống, và giáo dục - đào tạo. Trong đó, đầu t có hiệu quả nhất là bằng cách phát
triển giáo dục- đào tạo hay chính là muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế;
thoát khỏi nghèo khổ, nâng cao đời sống nhân dân; chỉ có con đờng là biến nớc
mình thành nớc có trình độ học vấn cao. Đặc điểm nổi bật và chung nhất của tất
cả các nớc này là coi trọng giáo dục; lấy phát triển giáo dục - đào tạo là trung
tâm của phát triển NNL.
Nhật Bản: Nhật Bản đã đa ra nhiều cải cách, trong đó rất chú trọng phát
triển NNL.
Một mặt, họ hạn chế những bất cập của NNL; mặt khác, chuẩn bị NNL
cho kinh tế tri thức:
Thứ nhất, cải cách hệ thống giáo dục - đào tạo nhằm đa ra các phơng
pháp dạy vạ học theo hớng giảm thiểu phần lý thuyết suông, học thuộc lòng
trong các trờng phổ thông và tăng thêm phần thực hành. Đặc biệt, việc cải cách
hệ thống giáo dục - đào tạo, chú trọng nhiều tới vấn đề đa công nghệ thông tin
vào nhà trờng với ba mục tiêu chủ yếu:
Nâng cao khả năng thành thạo thông tin của dân chúng, có lu ý thích
đáng đến những ngời cao tuổi, ngời bị khuyết tật và đa tỷ lệ nối mạng Internet
lên 60% vào năm 2005. Tăng cờng các hệ thống giáo dục đợc công nghệ
Phạm Thị Nga 13 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
thông tin hỗ trợ ở các trờng tiểu học, phổ thông cơ sở, trung học, cao đẳng và
phổ cập giáo dục suốt đời về thông tin cho toàn bộ ngời lớn.
Tăng số thạc sỹ và tiến sỹ trong các lĩnh vực có liên quan đến công nghệ
thông tin cả về số lợng lẫn chất lợng để đảm bảo cung cấp đủ các chuyên gia
công nghệ tiên tiến, các nhà nghiên cứu cho các trờng cao đẳng cao đẳng và đại
học. Đến năm 2005, số ngời Nhật có bằng thạc sỹ và tiến sỹ về công nghệ thông

(chứ không phải dựa vàokhai thác tài nguyên thiên nhiên).
Báo cáo chính trị Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ: Nhân
tài là nguồn tài nguyên quan trọng nhất trong phát triển kinh tế và xã hội. Từ
nhận thức đó, Trung Quốc xây dựng và thực thi dự án 211; đầu t rất lớn nhằm
nâng cao chất lợng giáo dục; xây dựng một số trờng Đại học cấp cao. Nhà nớc
khuyến khích công dân đi học ở nớc ngoài theo phơng châm: ủng hộ lu học,
khuyến khích về nớc, tự do đi về. Hơn 20 năm qua; có khoảng 300 nghìn ngời
đi du học. Những năm gần đây, bình quân mức kinh phí đầu t cho giáo dục tăng
20%/năm. Năm 1997: 186 tỷ nhân dân tệ (2,5% GDP); năm 2000: khoảng 400
tỷ nhân dân tệ (4% GDP).
Trung Quốc đã ban hành Luật giáo viên để bảo vệ điều kiện nghề
nghiệp và quyền lợi nhà giáo; tổ chức chơng trình đào tạo lại cho giáo viên; đa
phơng pháp dạy và học hiện đại vào các trờng; áp dụng cơ chế mới; khuyến
khích tài năng sinh viên. Các trờng Đại học hàng năm chọn 5% sinh viên xuất
sắc để đào tạo chơng trình riêng do giáo viên giỏi giảng dạy (các sinh viên đó
có thể tốt nghiệp sớm hơn một năm để tiếp tục hoc thêm bằng cấp chuyên môn
khác- kể cả chơng trình học sau đại học).Trung Quốc cũng rất coi trọng việc cử
giáo viên giỏi đi đào tạo ở nớc ngoài. Từ 1996; mỗi năm có khoảng 1400- 2000
sinh viên; nhà khoa học, giáo viên đến hơn 50 nớc để học tập, nghiên cứu; học
bổng do nhà nớc cấp.
Phạm Thị Nga 15 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, Trung Quốc còn tạo điều kiện và khuyến khích một số trờng
Đại học chất lợng cao đào tạo sinh viên đợc chọn lọc, có tài năng. ở những tr-
ờng này; trong chơng trình học 5 năm, nếu hết 4 năm, sinh viên nào có năng lực
thực sự thì năm thứ 5 đợc học chuyên sâu riêng với một giáo s. Khi tốt nghiệp
đợc nhà nớc u đãi, sử dụng hoặc cử đi tu nghiệp ở các trờng danh tiếng, hoặc đ-
ợc giới thiệu vào làm việc cho các nghiệp đoàn nổi tiếng của Trung Quốc.
Nh vậy, để đạt mục tiêu trở thành 1 trong 10 nớc khoa học công nghệ
đứng đầu thế giới vào năm 2010, Trung Quốc đã thực hiện rất nhiều biện pháp

Tốc độ tăng dân số 1,65 1,36 1,33
Phạm Thị Nga 17 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
(%)
Số lao động 32.829,9 37.609,6 42.709,6
Số lao động nam 16.066,9 18.488,9 20.996
Số lao động dới 40 tuổi 20.085,4 23.472,1 27.359
Số lao động có việc làm 31.494,1 36.205,4 41.305,4
(Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 2005 2006 và Số liệu thống kê Lao
động việc làm, Bộ Lao động và thơng binh xã hội, 2005)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tổng dân số và số ngời đến độ tuổi lao
động của nớc ta tăng khá nhanh và liên tục nên nguồn bổ sung vào đội ngũ lao
động là rất lớn. Mặc dù tốc độ tăng dân số giảm từ 1,86 % năm 1991 xuống còn
1,65 % năm 1995; còn 1,36 % năm 2000 và còn 1.33 % năm 2005, nhng dân số
Việt Nam vẫn tăng liên tục: 71.995,5 nghìn nớc lên 77.635,4 nghìn ngời năm
2000 và đến 2005 quy mô dân số nớc ta đã lên đến 83.121,7 nghìn ngời, tăng
11.126,2 nghìn ngời so với năm 1995. Hàng năm, Việt Nam có một lợng lớn
ngời đến độ tuổi lao động : Năm 1995: 32.829,9 nghìn ngời ( 45,6% dân số),
năm 2000 : 37.609,6 nghìn ngời (48,4 % dân số), đến năm 2005 con số này là
42.709,6 nghìn ngời (51,4 %( dân số. Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,5 1,7
triệu thanh niên bớc vào độ tuổi lao động tạo thành đội ngũ dự bị hùng hậu bổ
sung liên tục vào lực lợng lao động vốn đã đông đảo này.Trong đó số lao động
nam liên tục giảm qua các năm: năm 1995 là 16.066,9 nghìn ngời (chiếm 49%
lao động), năm 2000 là 18.488,9 nghìn ngời (chiếm 50,8 % lao động), đến năm
2005 con số này là 20.996 nghìn ngời ( chiếm 51% lao động).
Trong 2 năm gần đây, số dân mỗi năm tăng tơng đơng số dân của một
tỉnh trung bình; lực lợng lao động tăng bình quân trên 3%/ năm. Trên thực tế
quy mô nguồn lao động nớc ta còn lớn hơn mức gia tăng của lực lợng lao động
bởi số ngời ra khỏi độ tuổi lao động hàng năm vẫn có nhu cầu làm việc.
Nh vậy, quy mô dân số và lực lợng lao động nớc ta gia tăng ở mức cao.

2010; Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 2005 ).
Phạm Thị Nga 19 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
Hiện tại, lực lợng lao động tăng thêm hàng năm trên 1 triệu ngời, cộng
với trên 2 triệu lao động hiện cha có việc làm thờng xuyên. Tiếp nữa, để đảm
bảo đủ việc làm cho ngời lao động ở nông thôn, tận dụng hết quỹ thời gian lao
động cần có thêm xấp xỉ 8 triệu chỗ làm việc. Chính phủ Việt Nam đã đề ra chỉ
tiêu kế hoạch 2001 2005 chỉ tạo mới 7,5 triệu việc làm nhng trên thực tế 5
năm 2001 2005 chỉ mới tạo đợc 4,3 triệu việc làm. Do đó, sức ép về việc làm
hiện nay ở nớc ta là rất lớn. Tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm là bài toán
nan giải mà nớc ta đã, đang và sẽ phải tiếp tục giải quyết trong những thập kỷ
tới.
Xét về cơ cấu độ tuổi của lực lợng lao động: dân số Việt Nam nói chung
và lực lợng lao động nói riêng đợc xếp vào loại trẻ và ngày càng tăng do những
năm gần đây, tỷ lệ ngời sinh con thứ 3 có xu hớng tăng; hàng năm có thêm hơn
1,2 triệu ngời bớc vào độ tuổi lao động. Lực lợng lao động trẻ ( dới 40 tuổi)
ngày càng chiếm tỷ lệ cao: từ 61,2% năm 1995, lên 62,4% năm 2000 và đến
năm 2005 con số này là 64,1%. Lực lợng lao động trẻ có thuận lợi về sức khoẻ,
tính năng động, sáng tạo, có trình độ văn hoá khá, khả năng tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến nhanh. Tuy nhiên, đội ngũ lao động có trình độ cao lại
đang bị già hoá rất nhanh và đang có sự hẫng hụt lớn giữa các thế hệ. Số công
nhân kỹ thuật bậc cao đa phần xấp xỉ tuổi 50, trong số trên 10.000 cán bộ khoa
học bậc cao thì tuổi bình quân của tiến sỹ là 52,8%; giáo s ở độ tuổi 51 70
chiếm 91%; dới 50 tuổi chỉ có 4%; phó giáo s độ tuổi 51 70 chiếm 82%; dới
50 chỉ có 18%.
Tóm lại, số lợng lao động ở Việt Nam khá dồi dào. Đây là một trong
những nhân tố thuận lợi nếu chúng ta biết sử dụng một cách hợp lý, triệt để và
có hiệu quả. Ngợc lại, nếu chúng ta không giải quyết tốt số lợng lao động dồi
dào này thì đây là nhân tố kìm hãm quá trình phát triển kinh tế đất nớc.
Phạm Thị Nga 20 K47 KTCT

Nh vậy là chỉ số này của Việt Nam còn thấp hơn mức trung bình của các
nớc có thu nhập thấp và thấp hơn 12 lần thu nhập bình quân đầu ngời của thế
giới (5150 USD). Đến cuối năm 2003, Việt Nam vẫn còn 29% dân số sống dới
thu nhập 2 USD/ ngày; 12% hộ nghèo và chỉ có 55% dân số nông thôn có nớc
sạch.( Võ Hồng Phúc, Toàn cảnh kinh tế Việt Nam; Nxb Chính trị quốc gia, H-
2004, tr18). Với mức thu nhập thấp nh vậy mà tốc độ tăng dân số vẫn còn cao;
trình độ hiểu biết về dinh dỡng và sức khoẻ của nhân dân lại thấp, nên đã ảnh h-
ởng trực tiếp đến việc nâng cao chất lợng cuộc sống, trong đó có vấn đề giáo
dục và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Điều kiện lao động trong nhiều cơ sở và các
ngành sản xuất cũng nh trong một số cơ quan hành chính sự nghiệp cuả nớc ta
còn kém, thậm chí có nơi còn rất khắc nghiệt, môi trờng lao động bị ô nhiễm
nghiêm trọng, các yếu tố nguy hiểm và độc hại vợt quá ngỡng giới hạn cho
phép nhiều lần, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có chiều hớng tăng, nhất
là ở khu vực kinh tế t nhân và hợp tác xã Tất cả những điều này cho thấy chất
lợng dân số nói chung và ngời lao động nói riêng về mặt thể lực, sức khoẻ cũng
nh điều kiện lao động không bảo đảm, cần phải đợc cải thiện căn bản. Nói cách
khác, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, dinh dỡng thiếu, thể lực hạn chế, đó là
trạng thái chung của NNL nớc ta hiện nay về phợng diện mức sống và sức khoẻ
2.2.2. Về trí lực.
Chất lợng NNL đợc phản ánh chủ yếu qua sức mạnh trí tuệ, đây là yếu tố
quan trọng nhất quyết định chất lợng của nguồn lao động, đặc biệt trong điều
kiện trí tuệ hoá lao động hiện nay. Trình độ trí tuệ đợc biểu hiện ở năng lực
sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng lao động nghề nghiệp của ngời lao
động thông qua các chỉ số: trình độ văn hoá, dân trí, học vấn trung bình của một
ngời dân, số lao động đã qua đào tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật
Về trình độ văn hóa: một trong những thành tựu của nớc ta thời gian qua
là đã nâng cao mặt bằng dân trí của dân c. Số ngời biết chữ của lao động Việt
Nam khá cao so với các nớc có cùng mức thu nhập.
Phạm Thị Nga 22 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp

quy mô 1.365,8 nghìn ngời. Những chuyển biến về trình độ học vấn sẽ tạo ra
không ít thuận lợi mang tính nội sinh trong việc đẩy mạnh các hoạt động đào
tạo nghề cũng nh giải quyết việc làm, tạo thêm việc làm mới cho ngời lao động
trong những năm tiếp theo.
Phạm Thị Nga 23 K47 KTCT
Luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên, đi vào phân tích cơ cấu có thể thấy tỷ lệ lao động biết chữ khá
cao nhng tỷ lệ lao động có trình độ văn hoá cấp PTCS, PTTH của nớc ta năm
2005 vẫn chỉ có xấp xỉ 49%, thậm chí giảm so với năm 2000( do tỷ lệ lao động
đã tốt nghiệp PTCS giảm 2,5%). Đây là một tỷ lệ thấp so với nhu cầu của công
cuộc đẩy mạnh CNH - HĐH ở Việt Nam hiện nay.
Mặt khác, khi nền kinh tế tri thức đang xuất hiện ở các nớc phát triển, tỷ
lệ ngời lao động đã tốt nghiệp PTTH phải từ 95-100%, tức là các nớc đó đã tiến
hành phổ cập giáo dục ở trình độ PTTH. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của Việt
Nam trong giai đoạn tới là phải phát triển giáo dục để phổ cập giáo dục bậc
PTCS và tiến tới phổ cập bậc PTTH cho lao động cả nớc.
Về cơ cấu lao động đã qua đào tạo, còn tồn tại nhiều bất hợp lý.
( xem Bảng 2.3).
Bảng 2.3: Cơ cấu đào tạo của lực lợng lao động.
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
2003
(thực
tế)
2004
(thực
tế)
2005
(thực
tế )

tổng số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cha có việc làm. Thêm vào
đó, chỉ khoảng 70% số ngời có trình độ đại học, cao đẳng và trung học chuyên
nghiệp làm việc đúng ngành nghề đào tạo. Trong số lao động chuyển ngành
nghề đào tạo, chỉ có 42,5% đợc đào tạo lại, số còn lại( 57,5%) làm trái nghề, coi
nh cha đào tạo. ở khu vực hành chính sự nghiệp và bộ máy sản xuất kinh doanh
khu vực Nhà nớc hiện có khoảng 30% cán bộ, nhân viên không đủ trình độ
chuyên môn hoặc không đúng ngành, họ chủ yếu làm việc bằng kinh nghiệm
Tình hình này làm cho chất lợng NNL càng thêm hạn chế.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: số lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật còn rất ít, chỉ chiếm 17,05%. Không chỉ ít về số lợng, sự phân bổ không
đồng đều giữa các khu vực, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, vùng kinh tế
phát triển. Lực lợng lao động trong nhiều ngành kinh tế giàu tiềm năng và quan
trọng nh Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên có tỷ trọng lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Về cơ cấu của lao động chuyên môn kỹ thuật còn nhiều bất hợp lý, thiên
về cao đẳng và đại học. Bậc đào tạo càng cao càng có xu hớng phát triển lệch về
các ngành phi sản xuất vật chất. Trình độ trên đại học trong lĩnh vực công
nghiệp, khoa học kỹ thuật , khoa học tự nhiên chỉ có hơn 10%. Đây là vấn đề
Phạm Thị Nga 25 K47 KTCT

Trích đoạn Những bất cập của NNL Việt Nam trớc yêu cầu của CNH HĐH đất n-
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status