luận văn kỹ thuật môi trường Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội - Pdf 27

MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Tài nguyên nước mặt trên lưu vực sông Đáy 37
Bảng 4.2:Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 8/2008 40
Bảng 4.3: Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 12/2008 .42
Bảng 4.4: Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 9/2009 44
Bảng 4.5:Kết quả phân tích mẫu nước mặt lưu vực sông Nhuệ - Đáy tháng 11/2009 … 42
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Bản đồ phân đoạn ô nhiễm nước mặt lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy 38
Hình 4.2: Diễn biến BOD5 trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm
2008 43
Hình 4.3: Diễn biến COD trên sông Nhuệ (từ Cống Liên Mạc đến Cống Thần) năm
2008 43
Hình 4.8: Nước thải từ quy trình chế biến dong riềng được xả ra các cống rãnh
lộ thiên trong làng nghề Cát Quế, Dương Liễu, Minh Khai rồi chảy ra kênh T2
với màu nước đen kịt………………………………………………………… 50
Hình 4.9: Đường ống dẫn nước thải đen ngòm của cơ sở sản xuất bột giấy chạy ngầm,
xuyên qua thân đê xả nước thẳng ra sông Nhuệ, xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa,
Hà Nội 51
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
CCN : Cụm công nghiệp
KCN : Khu công nghiệp
LVS : Lưu vực sông
QLLVS : Quản lý lưu vực sông
QLTHLV : Quản lý tổng hợp lưu vực
QLTHLVS : Quản lý tổng hợp lưu vực sông
QLTNN : Quản lý Tài nguyên nước
QLTHTNN: Quản lý tổng hợp Tài nguyên nước
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

Tuy nhiên, lưu vực sông này hiện đang là một trong ba điểm nóng về Tài nguyên
nước ở nước ta. Nguồn nước của hai con sông này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng
do các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các đô thị, làng nghề, công
nghiệp, dịch vụ; đặc biệt nước thải công nghiệp và sinh hoạt, y tế không qua xử
lý đổ trực tiếp ra sông. Hiện trạng môi trường nước của lưu vực sông Nhuệ -
Đáy vẫn đang diễn biến phức tạp, ngày càng xấu đi.
Ngày 29/04/2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số
57/2008/QĐ-TTg : “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông
Đáy đến năm 2020” với vốn đầu tư trên 3.000 tỉ đồng. Mục tiêu là xử lý ô
nhiễm, khôi phục lại hiện trạng môi trường thiên nhiên xanh, sạch, đẹp vốn có
của lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Bộ Tài nguyên Môi trường có trách nhiệm
chủ trì và phối hợp với lãnh đạo 5 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Nam
Định, Hà Nam, Ninh Bình cùng các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các
bộ ngành liên quan chịu trách nhiệm thực hiện Đề án.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan và tình hình thực tế của lưu vực sông
Nhuệ - Đáy, được sự hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Giang và sự giúp đỡ của Chi
cục Bảo vệ môi trường Hà Nội thuộc Sở Tài nguyên - Môi trường thành phố Hà
Nội, chúng tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và tình
hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa
phận Hà Nội ”
1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá hiện trạng và tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông
Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác quản
lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội.
1.2.2. Yêu cầu
- Các số liệu thu thập được phải đảm bảo độ chính xác và tin cậy.
- Chỉ ra được những điểm nổi bật trong hiện trạng môi trường nước lưu
vực sông Nhuệ - Đáy đoạn chảy qua địa phận Hà Nội.

2.1.4. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM, integrated water resources
management)
Khái niệm “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước” xuất hiện vào những năm
đầu thập niên 90 song song với các khái niệm về “Phát triển bền vững”, “Quản
lý Tài nguyên và Môi trường”, “Môi trường và phát triển bền vững”, “Giám sát
môi trường”, …
Tổ chức Hợp tác về Nguồn nước toàn cầu (GWP) định nghĩa về IWRM
như sau: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) là một quá trình xúc tiến
việc phối hợp quản lý và phát triển các nguồn nước, đất đai và các nguồn lực
liên quan nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và phúc lợi xã hội một cách cân bằng
mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ thống sinh thái trọng yếu”
(GWP, 2000). [11]
2.1.5. Quản lý lưu vực sông
Khái niệm quản lý lưu vực sông hiện đại đã vượt ra ngoài khái niệm quản
lý đất và nước truyền thống và nó “bao gồm những phần cơ bản của quy hoạch
sử dụng đất, chính sách nông nghiệp và quản lý xói mòn, quản lý môi trường và
các chính sách khác; tất cả những hoạt động của con người sử dụng nước hoặc
gây ảnh hưởng đến các hệ thống nước ngọt. Quản lý lưu vực sông là quản lý các
hệ thống nước trong đó coi tài nguyên nước là một phần của môi trường tự nhiên
trong mối liên hệ khăng khít với môi trường kinh tế - xã hội”. [12]
2.2. Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam
2.2.1. Hiện trạng một số lưu vực sông trên thế giới
a, Sông Hằng (ở Ấn Độ)
Sông Hằng là con sông nổi tiếng nhất Ấn Độ, dài 2.510km bắt nguồn từ
dãy Hymalaya, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh
Bengal; rộng 907.000km2, một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dân
cao nhất thế giới; được người Hindu rất coi trọng và sùng kính, là trung tâm của
những truyền thống xã hội và tôn giáo của đất nước Ấn Độ.
Lưu vực sông Hằng gần như tạo ra một vùng đất liền thứ ba của Ấn Độ và là
một trong 12 vùng dân cư trên thế giới phụ thuộc vào con sông. Đây cũng là nơi

nặng nề bởi sự cố tràn dầu và các chất thải công nghiệp. Một đường ống dẫn dầu
bị vỡ của Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc với hơn 1.500 lít dầu đã tràn vào
đất canh tác và một phụ lưu của sông Hoàng Hà. [17]
d, Sông Tùng Hoa (ở Trung Quốc)
Sông Tùng Hoa có chiều dài gần 2.000km, chảy qua thành phố lớn Cáp
Nhĩ Tân với gần 4 triệu dân và hơn 30 thành phố khác, nối tiếp với các vùng
thôn quê mà đa số cư dân sống nhờ vào nguồn nước của con sông này. Sông
Tùng Hoa đã bị ô nhiễm nặng nề bởi một sự cố bất thường liên quan đến các nhà
máy hóa chất dầu hỏa lớn trong tỉnh Cát Lâm phía Bắc Trung Quốc đã bất ngờ bị
nổ và hậu quả là hơn 100 tấn benzene và những chất độc khác từ nhà máy đã đổ
xuống sông. Benzene và nitrobenzene là chất gây ung thư ngay cả với liều lượng
nhỏ. Khối chất độc ấy sẽ tiếp tục trôi xuống hạn nguồn, đổ vào con sông lớn Hắc
Long Giang. [17]
e, Sông Sarno (ở Italy)
Sông Sarno, Italy, chảy qua Pompeii tới phía Nam của vịnh Naples. Con
sông này nổi tiếng bởi mức độ ô nhiễm nhất châu Âu với rất nhiều rác thải sinh
hoạt và rác thải công nghiệp. Sông Sarno đã không chỉ làm ô nhiễm tại những
nơi nó chảy qua mà còn làm ô nhiễm vùng biển mà nó đổ vào gần khu vực vịnh
Naples. [17]
f, Sông King (ở Australia)
Sông King nằm ở Tây Australia. Sông này có độ phèn rất cao do chịu tác
động của hơn 1,5 triệu tấn rác thải sunfit từ hoạt động khai khoáng được đổ
xuống mỗi năm. Lượng rác thải hiện là hơn 100 triệu tấn, gây ô nhiễm nghiêm
trọng cho con sông này. [17]
2.2.2. Hiện trạng một số lưu vực sông ở Việt Nam
Nhìn chung chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt,
nhưng vùng hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nguyên
nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt
không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các dòng sông. Chất lượng nước
suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD

5
, COD rất cao (>1000mg/l); Colifom ở một số
nơi khá cao, vượt quá tiêu chuẩn A tới hàng chục lần. Hàm lượng NO
2
-
> 2,0
mg/l và dầu mỡ > 5,5 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn B tới 20 lần. [16]
c, Lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
Hiện tại, nước của trục sông chính thuộc lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy
đã bị ô nhiễm, đặc biệt là nước sông Nhuệ. Chất lượng nước sông Nhuệ từng lúc
(phụ thuộc vào thời gian mở cống Liên Mạc), từng nơi vượt trên giới hạn cho
phép đối với nước loại B. Nếu không có biện pháp ngăn ngừa khắc phục, xử lý ô
nhiễm kịp thời thì tương lai không xa nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy không
thể sử dụng cho sản xuất được. [16]
Phát triển kinh tế không đi đôi với việc bảo vệ môi trường, kết quả tất
nhiên là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp và cường độ ô nhiễm ngày
càng tăng thêm. Nhìn chung, các dòng sông lớn ở nước ta đang bị đe dọa nghiêm
trọng và sẽ trở thành sông chết nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ kịp thời.
2.3. Quản lý lưu vực sông trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Một số mô hình quản lý lưu vực sông trên thế giới
a, Mô hình quản lý lưu vực sông Hoàng Hà (ở Trung Quốc)
Sông Hoàng Hà là con sông lớn thứ hai của Trung Quốc với diện tích
790.000 km
2
, dân số khoảng 98 triệu người. Chính phủ Trung Quốc thành lập
ủy ban bảo tồn sông Hoàng Hà (YRCC) thuộc Bộ Thủy lợi Trung Quốc nhằm
quản lý khu vực thung lũng sông Hoàng Hà và các sông nội địa thuộc một số
tỉnh phía bắc Trung Quốc. Mô hình tổ chức của YRCC giống mô hình của một
Bộ, dưới ủy ban có các cục, viện chuyên ngành và cục quản lý sông tại các tỉnh,
phòng quản lý sông tại các huyện, các trung tâm và các viện nghiên cứu. YRCC

và các ủy ban tiểu lưu vực. Hội đồng lưu vực sông là một diễn đàn mà tại đó
Chính phủ liên bang, các tiểu ban và các đô thị cũng như đại diện các hộ sử dụng
nước chia sẻ trách nhiệm, phân phối TNN thúc đẩy QLTHTNN tại cấp lưu vực.
Hội đồng hoạt động trên nguyên tắc phối hợp và đồng thuận. [12]
d, Mô hình quản lý lưu vực sông Minnesota (ở Mỹ)
Ở Mỹ, để quản lý chất lượng nước lưu vực sông Minnesota, các nhà quản
lý chỉ ra rằng: vấn đề ô nhiễm nước của LVS Minnesota không thể giải quyết
triệt để nếu chỉ quan tâm đến việc kiểm soát nguồn thải tập trung mà bỏ qua
nguồn thải phân tán. Bởi vậy, để thực hiện các biện pháp quản lý thì việc hiểu rõ
mức độ ô nhiễm của các nguồn nước, phạm vi ô nhiễm, thời gian xuất hiện ô
nhiễm là rất cần thiết.
Qua phân tích, đánh giá cho thấy nguồn nước sông Minnesota đang bị ô
nhiễm bởi vi khuẩn, photpho, nitơ. Để phục hồi chất lượng nước sông
Minnesota, cơ quan QLLVS Minnesota tập trung vào quản lý các nguồn thải có
tải lượng nitơ, photpho và vi khuẩn lớn. [12]
e, Mô hình quản lý lưu vực sông của Brazil
Tại Brazil, việc QLLVS đã được quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ 20,
cụm đô thị Sao Paulo nằm ở thượng lưu sông Tiete gồm 39 thành phố lớn nhỏ
khác nhau bao gồm cả thành phố Sao Paulo. Do dân số đô thị lớn nên lượng
nước thải tới lưu vực sông không ngừng tăng lên, lượng nước cấp cho các đô thị
này lên tới 60m
3
/s và 80% lượng nước trên được thải trở lại sông mà không qua
bất kỳ công đoạn xử lý nào. Ô nhiễm nước đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng
trong lưu vực sông.
Để phục hồi chất lượng nước sông, tháng 9/1991 Chính phủ Brazil triển
khai Dự án Sông Tiete nhằm làm sạch sông, hồ chứa trong lưu vực sông. Một
trong những nhiệm vụ quan trọng là kiểm soát phát thải từ hoạt động công
nghiệp. Trên cơ sở thống kê toàn bộ các nguồn thải công nghiệp trong lưu vực
sông, Chương trình đã lựa chọn ra các nguồn thải cần phải tiến hành những biện

gay gắt giữa các mục tiêu khác nhau như: cấp nước cho các khu công nghiệp,
phát điện, tưới, chống lũ, đồng thời lại có liên quan tới 11 địa phương trên lưu
vực. Bên cạnh đó, được sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
(UNDP), thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai Dự án VIE/96/023 - quản lý
môi trường mà một trong những mục tiêu của Dự án là tìm kiếm và thử nghiệm
những khả năng hợp tác về quản lý môi trường giữa các tỉnh nhằm bảo vệ nguồn
nước LVS Sài Gòn - Đồng Nai.
Nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của việc quan trắc, giám
sát, cảnh báo môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, từ năm 1995
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay tách ra thành Bộ TNMT) đã thành
lập 3 trạm quan trắc và phân tích môi trường đất liền quốc gia, trong đó: trạm
vùng 2 (khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ) và trạm vùng 3
(khu vực thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long) được giao
nhiệm vụ quan trắc môi trường nước mặt tại một số vị trí thuộc hệ thống sông
Đồng Nai - Sài Gòn. Các trạm quan trắc này đã xây dựng chương trình quan trắc
môi trường hằng năm và thực hiện quan trắc liên tục từ năm 1995.
Đến nay, mạng lưới quan trắc và phân tích môi trường quốc gia được đầu
tư mở rộng them một số trạm và không chỉ dừng lại trong phạm vi quản lý của
Cục Bảo vệ Môi trường mà còn mở rộng thêm ở một số bộ phận khác như Cục
Quản lý Tài nguyên nước, các trạm quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quan
trắc khí tượng, thủy văn và môi trường của Bộ TNMT. [13]
Ngoài các trạm quan trắc môi trường quốc gia ra, nhiều tỉnh/thành trong
LVS Đồng Nai - Sài Gòn cũng đã thành lập trạm quan trắc môi trường địa
phương nhằm theo dõi, giám sát diễn biến chất lượng môi trường nói chung,
phục vụ công tác quản lý môi trường của đại phương. Hỗ trợ thêm còn có:
 Dự án quan trắc chất lượng nước hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn năm
1996 - 1998 của Ủy ban Môi trường thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Sở Khoa
học Công nghệ và Môi trường thành phố lúc đó.
 Dự án Pilot Project quan trắc và đánh giá mức độ ô nhiễm KLN và thuốc
trừ sâu trong nước và bùn lắng của hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn do Viện

kế lại các công cụ kinh tế trong chính sách nước (như giá nước, thuế, trợ cấp),
thiết kế lại các tổ chức kinh tế (các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức cung cấp
dịch vụ, thị trường nước, chuyển giao quản lý tưới cho các tổ chức dùng nước).
Trên thế giới đã có hàng trăm các Tổ chức lưu vực sông (TCLVS) được
thành lập. Các tổ chức này có cơ cấu tổ chức và chức năng không hoàn toàn
giống nhau tuỳ thuộc vào mỗi nước và điều kiện các lưu vực sông. Sự khác nhau
thường tập trung vào các điểm chính: hình thức tổ chức, chức năng, mức độ
tham gia trong quản lý nước của TCLVS, phương thức hoạt động, cơ chế tài
chính. Tổng hợp các mô hình của tổ chức quản lý lưu vực sông của thế giới có
thể rút ra một số ý kiến đánh giá như sau:
Về hình thức tổ chức:
Các hình thức của TCLVS trên thế giới có thể quy thành ba loại phổ biến
như sau: Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông; Ủy hội lưu vực sông, Hội đồng lưu vực
sông. Mỗi loại có một mức độ tập trung quyền lực cũng như mức độ tham gia
vào quản lý nước khác nhau.
- Cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông: Đây là hình thức TCLVS có đầy đủ
quyền hạn và phạm vi quản lý lớn nhất. Thí dụ như là Cơ quan thuỷ vụ thung
lũng Tennessce ở Mỹ và Cơ quan thuỷ vụ Núi tuyết ở úc, Đây là những tổ
chức liên ngành lớn, tiếp nhận hầu hết các chức năng của các cơ quan hiện hữu,
trong đó bao gồm tất cả chức năng điều hành và quản lý nước. Hình thức này có
thể áp dụng đối với các lưu vực có nhiệm vụ phát triển lớn.
- Uỷ hội lưu vực sông: Là mô hình thấp hơn cơ quan thuỷ vụ lưu vực sông
về quyền hạn cũng như sức mạnh của tổ chức và ảnh hưởng của nó trong
QLLVS. Một Uỷ hội lưu vực sông thường bao gồm một “ Hội đồng quản lý ” đại
diện cho tất cả các bên quan tâm và có một “ Văn phòng kỹ thuật” chuyên sâu hỗ
trợ. Uỷ hội lưu vực sông liên quan chủ yếu đến xây dựng chính sách, lập quy
hoạch phát triển lưu vực, xây dựng thủ tục và kiểm soát sử dụng nước. Nó có thể
điều chỉnh các vấn đề sử dụng nước liên quan đến nhiều tỉnh, thông qua các
chính sách liên quan đến nước của lưu vực sông, xây dựng các cơ sở dữ liệu,
thông tin và mô hình phù hợp về các vấn đề quản lý trên quy mô toàn lưu vực.

các chiến lược, chính sách, phân chia và điều phối sử dụng nước trong phạm vi
lưu vực, có ít các TCLVS tham gia trực tiếp vào quản lý vận hành các công trình
cụ thể mà việc này thường dành cho hệ thống quản lý nước theo địa giới hành
chính đảm nhiệm. Từ chức năng có thể xác định cụ thể các nhiệm vụ của TCLVS
trong quy hoạch và quản lý nguồn nước của lưu vực sông.
Về quyền hạn của TCLVS:
Quyền hạn của TCLVS phải được thể chế hoá trong các văn bản của nhà
nước và phải tương xứng với nhiệm vụ trong quản lý nước của TCLVS được nhà
nước giao cho. Trong thực tế có TCLVS tập trung rất nhiều quyền lực và đảm
nhiệm phần lớn các nội dung của quản lý nước kể cả điều tra quan trắc các số
liệu khí tượng thuỷ văn, số liệu chất lượng nước, đầu tư xây dựng và quản lý vận
hành các công trình sử dụng nước vừa và lớn (như là các Tổ chức quản lý lưu
vực các sông lớn của Trung quốc như sông Trường Giang, Hoàng Hà ). Ngược
lại cũng có TCLVS có rất ít quyền hạn trong quản lý nước mà chỉ đóng vai trò
như là một tổ chức tư vấn đóng góp các ý kiến về quản lý lưu vực sông cho các
cấp chính quyền, không tham gia bất kỳ các hoạt động quản lý nước cụ thể nào.
Về cơ chế tài chính:
Hoạt động của TCLVS cần có nguồn kinh phí ổn định lâu dài. Nguồn tài
chính này có thể dựa trên sự trợ giúp của nhà nước, các tổ chức quốc tế hoặc
đóng góp tài chính của các tỉnh, các hộ dùng nước được hưởng lợi trên lưu vực
sông. Trong thực tế, phần lớn các TCLVS trên thế giới được trích một phần
nguồn thu từ thuế TNN và phí ô nhiễm nước cho các hoạt động quản lý của
mình.
Về thành phần tham gia:
TCLVS là một diễn đàn để tất cả các bên liên quan trao đổi, thảo luận,
giải quyết các tranh chấp và tìm tiếng nói chung trong quản lý sử dụng và bảo vệ
Tài nguyên nước. Các thành phần tham gia trong một TCLVS thường bao gồm
cơ quan quản lý cấp Trung ương, đại diện của các tỉnh và địa phương, đại diện
của các Bộ và ngành dùng nước, đại diện của cộng đồng các hộ dùng nước. Tuỳ
theo chức năng và nhiệm vụ của mỗi TCLVS mà mức độ tham gia của các thành

địa giới hành chính chịu trách nhiệm quản lý nước tại các tỉnh và địa phương,
nhưng bao quát và giải quyết các vấn đề về quản lý nguồn nước trên toàn bộ lưu
vực sông cả số lượng và chất lượng thì gần như chưa có ai chịu trách nhiệm (thí
dụ như các vấn đề phân chia hợp lý nguồn nước giữa các ngành dùng nước, giữa
các khu vực, thượng lưu và hạ lưu, duy trì dòng chảy trên dòng chính và yêu cầu
nước cho hệ sinh thái , ). Điều này sẽ gây trở ngại rất nhiều cho việc thực hiện
các nguyên tắc về QLTHTNN và phát triển bền vững tài nguyên nước trên lưu
vực và chỉ có thể giải quyết được khi trao chức năng này cho TCLVS.
Các phân tích trên cho thấy việc giao trách nhiệm chỉ đạo, điều phối và
kiểm soát việc sử dụng nước trong phạm vi toàn bộ lưu vực sông cho các
TCLVS của nước ta như phần lớn các TCLVS trên thế giới thường đảm nhận là
rất cần thiết để khắc phục các tồn tại của quản lý nước riêng rẽ theo địa giới
hành chính hiện hành. Tuy nhiên, để không chồng chéo thì các TCLVS ở nước ta
không nên tham gia vào các hoạt động quản lý khai thác và sử dụng nước của hệ
thống quản lý nước theo địa giới hành chính hiện hành mà TCLVS chỉ nên đóng
vai trò theo dõi, kiểm soát và trợ giúp cho hoạt động quản lý nước của các tỉnh
và địa phương trên lưu vực sông hài hoà với nhau, vì quyền lợi riêng của các
tỉnh cũng như cả lợi ích chung của toàn bộ lưu vực sông. Mặt khác, chỉ có được
giao cho tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo, điều phối và kiểm soát việc sử dụng
nước trên lưu vực sông thì TCLVS mới có vai trò và ảnh hưởng rõ rệt tới phát
triển của lưu vực sông và hơn nữa có thể sử dụng một phần các nguồn thu về
thuế, phí tài nguyên nước, cho các hoạt động thường xuyên của TCLVS.
Điều 64 của Luật Tài nguyên nước mới chỉ đề cập đến việc thành lập
Ban quản lý quy hoạch lưu vực sông và các nội dung của quản lý quy hoạch
lưu vực sông, riêng về quản lý nước mới quy định về kiến nghị giải quyết
tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực sông. Để đưa thêm vai trò chỉ
đạo, điều phối và kiểm soát việc sử dụng nước trong phạm vi toàn bộ lưu vực
sông cho các TCLVS ở nước ta thì cần phải xem xét sửa đổi, để Luật Tài
nguyên nước ngày càng thích ứng và đi vào cuộc sống xã hội của đất nước.
Do chức năng quản lý nước của TCLVS như đã phân tích ở trên chỉ giới

Hà Nội.
- Tài nguyên nước mặt trên toàn lưu vực sông Đáy
- Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đoạn chảy
qua địa phận Hà Nội
- Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn
chảy qua địa phận Hà Nội: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải
làng nghề, nước thải y tế
3.2.3. Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy đoạn
chảy qua địa phận Hà Nội.
- Tình hình quản lý môi trường nước lưu vực sông Nhuệ - Đáy trước khi
có “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm
2020”.
- Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến
năm 2020: căn cứ pháp lý, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, …


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status