Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Nghị luận so sánh văn học là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ
trong cơ cấu bài văn thi đại học của học sinh. Đây là kiểu bài mới, được áp dụng kể
từ khi thay sách nên không ít giáo viên còn lúng túng khi giảng dạy. Bởi lẽ, hầu hết
giáo viên ra trường trước năm 2006 ít được tiếp cận kiểu bài này, còn những giáo
viên ra trường sau kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế . Mặt khác, dạng đề
này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững vàng, năng lực cảm nhận tác phẩm văn
chương sâu rộng và nhận định dề tinh nhạy để trình bày. Do đó, cách học thuộc bài,
học theo lối mòn sẽ không phát huy được tác dụng. Trước thực trạng trên, bằng
kinh nghiệm của bản thân và sự nghiên cứu tài liệu tôi mạnh dạn đề xuất “một số
giải pháp giúp học sinh THPT làm tốt dạng bài văn nghị luận so sánh” này trong
quá trinh ôn tập thi học sinh giỏi, đại học.
II. Mục đích nhiệm vụ của đề tài:
II.1. Về kiến thức :
Nắm được những định hướng chung về cách làm bài nghị luận so sánh cho học
sinh lớp 12 giúp các em làm bài hiệu quả và chất lượng.
Nội dung và phương pháp làm kiểu bài so sánh văn học. Đưa ra một số giải
pháp mang tính định hướng cho học sinh vận dụng trong quá trình giải quyết các đề
bài nghị luận văn học kiểu bài so sánh thường gặp.
II.2. Về kĩ năng:
Nhận diện đề, lập dàn ý, thiết kế đề kiểm tra đánh giá môn ngữ văn theo
hướng đổi mới.
Trang 1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
II.3. Về thái độ :
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn.
Đổi mới quan niệm đánh giá kết quả học tập của học sinh, tăng cường rèn
luyện kĩ năng
III. Phương pháp nghiên cứu:
học sinh thuộc lòng, hy vọng sẽ “trúng tủ”…khiến phần lớn học sinh kiến thức
nghèo nàn,và có thói quen trông chờ, ỉ lại, nảy sinh nạn quay cóp trong thi cử.
II. 2. Đối với học sinh.
Các em học và làm bài nghi luận văn học (NLVH) một cách máy móc, còn quá
lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo. Kiến thức văn học non
kém, không có khả năng cảm nhận văn học một cách sáng tạo. Vì thế số điểm học
sinh đạt được còn khiêm tốn.
II. 3. Thực trạng ra đề thi :
Nghị luận so sánh là một kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ trong cơ cấu
bài văn thi đại học những năn gần đây. Đây là kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa
bằng một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông, do đó
ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định
hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên. Góp phần tháo gỡ những khó khăn
trên, bài viết này xin đưa ra một số gợi ý để giúp cho các em ôn tập tốt trong các kì
thi.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
III.1. Những kiến thức cơ bản về kiểu bài so sánh :
Khái niệm so sánh văn học cần được hiểu theo ba lớp nghĩa khác nhau. Thứ
nhất, so sánh văn học là "một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn". Thứ
hai, nó được xem như một thao tác lập luận như : phân tích, bác bỏ, bình luận đã
được đưa vào chương trình giáo khoa ngữ văn lớp 11. Thứ ba, nó được xem như
"một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận, tức là như một
Trang 4
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
kiểu bài nghị luận cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm thơ ;
nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi ở sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12.
Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị luận văn học chưa được cụ thể
bằng một bài học độc lập. Vì vậy, việc xác lập nội hàm khái niệm như kiểu bài,
mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết.
Kiểu bài so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên nhiều bình
có những điểm khác biệt so với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích
văn bản thơ, đoạn trích văn bản văn xuôi, hay kiểu bài cảm nhận về một vấn đề văn
học khác. Dàn ý khái quát của kiểu bài này như sau :
MỞ BÀI
- Dẫn dắt (mở bài trực tiếp không cần bước này)
- Giới thiệu khái quát về đối tượng so sánh.
THÂN BÀI
1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này cần vận dụng kết hợp nhiều thao tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích).
2. Làm rõ đối tượng thứ hai ( bước này thực hiện các thao tác như phần trên)
3. So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình
diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so sánh).
Trang 6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
4. Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa vào ba tiêu chí cơ bản
sau:
- Bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hóa - môi trường tồn tại của đối tượng nghị
luận.
- Tư tưởng, phong cách của nhà văn.
- Đặc trưng thi pháp của thời kì văn học
Bước này cần vận dụng nhiều thao tác lập luận phân tích nhưng chủ yếu là
thao tác lập luận phân tích.
KẾT BÀI
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Nêu những cảm nghĩ của bản thân
III.3. Kiểm định dàn bài trên bằng cách so sánh với đáp án câu III.a - Đề thi
tuyển sinh Đại học - Cao đẳng năm 2009, khối C như sau :
Câu III.a. Theo chương trình chuẩn (5.0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt
+ Bên trong vẻ chao chát, cong cớn, chỏng lỏn lại là một người phụ nữ hiều hậu,
đúng mực, biết lo toan. (dẫn chứng)
2. Làm rõ đối tượng thứ hai : Nhân vật người đàn bà hàng chài
Trang 8
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Giới thiệu chung : Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư
tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc họa sắc nét, theo lối tương phản giữa
bên ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất.
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu.
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ
lượng, giàu đức hi sinh. (dẫn chứng)
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc,
can đảm, cứng cỏi. (dẫn chứng)
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ
đời. (dẫn chứng)
3. So sánh : Nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện
nội dung và hình thức nghệ thuật :
- Tương đồng : Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của
hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm
khất lấp. Cả hai đều khắc họa bằng những chi tiết chân thực
- Khác biệt : Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là phẩm
chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn
đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở nhân vật người đàn bà hàng chài là những
phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy
kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình
4. Lí giải sự khác biệt : Thực hiện thao tác này cần dựa trên ba tiêu chí cơ bản
như đã nói ở phần trên.
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến
đổi từ thấp đến cao (cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà hàng chài lại
Trang 9
thực hiện theo quy trình này thì bài viết không khéo rơi vào rối rắm, luẩn quẩn. Tốt
nhất là hướng dẫn học sinh thực hiện từng bước theo như dàn ý khái quát.
III.4. MỘT SỐ DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN KIỂU BÀI SO SÁNH THƯỜNG
GẶP:
Như đã trình bày, kiểu bài nghị luận so sánh văn học có yêu cầu khá phong phú,
đa dạng khó có thể tìm ra một dàn ý khái quát thỏa mãn tất cả các dạng đề bài.
Trong yêu cầu từng đề bài cụ thể thuộc kiểu bài này, học sinh cần linh hoạt, sáng
tạo. Vấn đề cốt lõi của mọi bài nghị luận là làm thế nào để vừa "trúng" vừa "hay".
Nguyên tắc trình bày một bài nghị luận so sánh văn học cũng không đi ra ngoài
mục đích đó. Sau đây là một số dạng đề so sánh thường gặp.
III. 4.1. So sánh về phong cách sáng tác của một nhà văn ở hai giai đoạn khác
nhau.
Mục đích của kiểu bài này là giúp học sinh nhận rõ được sự thống nhất và thay
đổi trong phong cách nghệ thuật của một nhà văn suốt quá trình sáng tác. Kiểu bài
này được cụ thể hóa bằng một hệ thống dàn ý chi tiết sau :
a/ Yêu cầu về kĩ năng :
Sử dụng thao tác lập luận so sánh, phân tích bình luận.
b/ Yêu cầu về kiến thức :
- Cần chỉ ra sự thống nhất trong phong cách của nhà văn trong cả quá trình sáng
tác.
Trang 11
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Chỉ ra những thay đổi đáng kể trong phong cách nghệ thuật ở giai đoạn sáng
tác sau đó.
- Lí giải nguyên nhân cụ thể về sự thay đổi đó.
(Yêu cầu học sinh cần nhớ trong chương trình Ngữ văn THPT có ba tác gia : Tố
Hữu ; Hồ Chí Minh ; Nguyễn Tuân là có thể so sánh ở kiểu bài này).
Đối với kiểu bài so sánh về sự giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ
thuật của một nhà văn ở hai giai đoạn sáng tác sẽ có hai dạng đề.
Dạng thứ nhất:
+ Sau cách mạng :
- Thể loại tùy bút có yếu tố truyện ngắn (Xây dựng nhân vật, cốt truyện, tình
tiết )
- Cảm hứng thiên về thiên nhiên tráng lệ
- Nhân vật khác trước : là những con người của hiện tại, những con người của
đời thường trên mặt trận chống quân thù và trong cuộc sống lao động sản xuất.
* Luận điểm 3: Lí giải nguyên nhân
- Hoàn cảnh sống : Trước cách mạng tháng Tám và sau cách mạng đã có sự
thay đổi.
- Tư tưởng : "Là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp" (Nguyễn Đăng Mạnh) nên
sau cách mạng tháng Tám 1945, Nguyễn Tuân đã hòa nhập nhanh chóng với cuộc
Trang 13
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
kháng chiến, săn tìm được nhiều cái đẹp trong đời sống chiến đấu và lao động sản
xuất
- Đặc trưng thi pháp :Văn học sau 1945 thiên về khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn, ông đã tìm đến với thể loại tùy bút để thỏa mãn với năng lực sáng
tạo nghệ thuật của mình.
* Luận điểm 4: Đánh giá : Khẳng dịnh sự đóng góp to lớn của Nguyễn Tuân
cho nền văn học nước nhà.
KẾT LUẬN
Nêu ấn tượng của bản thân về tác giả Nguyễn Tuân.
Dạng thứ 2:
Đề bài :
(1). "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của
viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối
do tay ông Huấn Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn
khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời. Viên quản ngục khổ tâm nhất thì ân hận suốt đời" (Chữ
người tử tù)
+ Ông lái đò : Chèo đò trên dòng nước hung bạo thuần thục, khéo léo đến
tài hoa
Trang 15
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
- Ngôn ngữ : Sử dụng ngôn ngữ và cách quan sát, miêu tả, dựng cảnh bằng
con mắt của nhiều ngành nghệ thuật và khoa học khác nhau. (Dẫn chứng).
* Luận điểm 3: Nét riêng :
- Đoạn trích trong truyện ngắn Chữ người tử tù :
+ Thể loại : truyện ngắn có pha chất tùy bút (Cảm xúc của cái "tôi" qua thái
độ của nhà văn với nhân vật) (Dẫn chứng)
+ Có sự đối lập : Sự đấu tranh tư tưởng của Ngục quan, một con người đại
diện cho bộ máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến lại ngưỡng mộ và tôn
thờ vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ của một tử tù. Đối lập giữa cái thiện, cái đẹp với cái ác,
cái xấu ; giữa cái cao cả và cái tầm thường
+ Ngôn ngữ : Dùng từ Hán Việt, tạo không khí cổ kính, trang nghiêm.
- Đoạn trích trong tùy bút Người lái đò sông Đà.
+ Thể loại : Tùy bút có yếu tố của truyện ngắn (Cốt truyện, tình huống,
nhân vật ).
+ Nhân vật : Là con người trong lao động sản xuất.
+ Ngôn ngữ : Có sử dụng các thuật ngữ của lĩnh vực quân sự tạo không khí
trận mạc căng thẳng, cam go quyết liệt.
+ Sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa làm cho cảnh vật sống
động.
* Luận điểm 4: Lí giải về sự khác nhau :
- Hoàn cảnh xã hội và đặc điểm thẩm mỹ, đặc điểm thi pháp có sự thay đổi :
văn học sau 1945 mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Tình cảm của nhà văn đã có sự thay đổi, không còn "bất mãn" như trước
1945.
Trang 16
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và
say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng. Giữa lòng
Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô giá Di - gan
phóng khoáng và man dại".
(Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Anh/chị hãy làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau trong phong cách
nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường qua hai đoạn trích trên.
Những yêu cầu cơ bản :
MỞ BÀI :
Giới thiệu được cảm hứng chung của hai đoạn văn trên : Đều thể hiện được
cảm xúc mãnh liệt trước vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, qua đó bộc lộ được tình
yêu quê hương đất nước và niềm tự hào trước vẻ đẹp của đất nước.
THÂN BÀI
* Luận điểm 1: Giới thiệu ngắn gọn về hai tác giả và hoàn cảnh sáng tác của
hai tác phẩm.
* Luận điểm 2: Những nét chung : Đều thể hiện được cái tôi tài hoa, phóng
túng. Cảm hứng mãnh liệt trước cảnh sắc thiên nhiên.
* Luận điểm 3: Những nét khác biệt :
- Phân tích đoạn văn (1) :
Trang 18
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
+ Tiếp cận cảnh vật : Nghiên về gốc độ văn hóa thẩm mỹ. Sự vật có cá tính
mạnh mẽ, sống động. (Dẫn chứng và phân tích).
+ Đậm yếu tố truyện ngắn : Có tình huống, sự việc (dẫn chứng và phân tích).
+ Bút pháp miêu tả : Vận dụng cách quan sát của nhiều ngành nghệ thuật
khác nhau để miêu tả sự vật (dẫn chứng và phân tích).
+ Ngôn ngữ : Uyên bác, sắc sảo, tài tình (dẫn chứng và phân tích).
- Phân tích đoạn văn (2) :
+ Tiếp cận cảnh vật nghiêng về góc độ văn hóa lịch sử (dẫn chứng và phân
tích)
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
(Tương tư - Nguyễn Bính SGK Ngữ văn 11 NC tập 1- trang 55 )
(2) Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Trang 20
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Cả trong mơ còn thức
(Sóng - Xuân Quỳnh SGK Ngữ văn12 NC tập 1 trang 121)
Anh/chị hãy làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật
của Nguyễn Bính và Xuân Quỳnh qua hai đoạn thơ trên.
Yêu cầu cơ bản :
MỞ BÀI : Cần nêu được cảm hứng bao trùm cả hai đoạn trích : Cả hai đoạn
trích đều làm nổi bật được một đặc điểm trong bản chất của tình yêu, đó là sự thủy
chung trong tình yêu được biểu hiện qua nỗi nhớ.
THÂN BÀI :
* Luận điểm 1: Giới thiệu về tác giả (tư tưởng và phong cách của hai nhà
thơ), hoàn cảnh sáng tác của hai tác phẩm và vị trí của đoạn trích.
* Luận điểm 2: Khái quát về sự giống nhau
- Đề tài : Đều viết về tình yêu đôi lứa, một đề tài quen thuộc trong thơ ca.
- Nghệ thuật : Đều sử dụng chất liệu dân gian (sử dụng các hình tượng nghệ
thuật truyền thống) và biện pháp tu từ ẩn dụ.
* Luận điểm 3: Khái quát về sự khác nhau :
- Phân tích đoạn thơ (1)
- Nêu cảm xúc của người viết.
III.4.4. So sánh về đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi
tiết nghệ thuật:
Trang 22
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Đối với kiểu bài này yêu cầu học sinh thực hiện đầy đủ các bước như dàn ý
khái quát.
Ví dụ : Cảm nhận của anh/chị về hình tượng bóng tối và ánh sáng trong hai
truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch lam và "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân.
Yêu cầu như sau.
MỞ BÀI :
Giới thiệu khái quát về hai đối tượng so sánh (cảm nhận).
THÂN BÀI :
* Luận điểm 1: Làm rõ đối tượng thứ nhất.
- Giới thiệu về tác giả, hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn Hai đứa trẻ, cần lưu ý
rằng những truyện của Thạch Lam thường lấy cảm hứng từ những kí ức trong cuộc
đời nhà văn để sáng tạo nên cốt truyện.
- Phân tích hình tượng ánh sáng : Có hai loại ánh sáng trong truyện đó là ánh
sáng gần (ngọn đèn, bếp lửa, con đom đóm) loại ánh sáng này yếu ớt, lù mù gợi
cuộc sống leo tét, uể oải, nó tồn tại dai dẳng, gợi lên cuộc sống lạc hậu, tù đọng,
không biết đến ngày mai. Ánh sáng xa (Ánh đèn điện của bờ hồ, Hà Nội rực sáng,
ánh sáng của đoàn tàu, ánh sáng của dải Ngân Hà) đó là ánh sáng rực rỡ, ánh sáng
của những ước mơ, hi vọng, nó chỉ thoáng qua. (Dẫn chứng)
- Hình tượng bóng tối : Bóng tối có sự lan tỏa theo không gian, mỗi lúc một
lớn hơn và bao trùm cả phố huyện và cuối cùng ngập đầy dần trong mắt. gợi lên
cuộc sống tù đọng, bế tắc, ngột ngạt, nghèo đói, không lối thoát.(Dẫn chứng)
- Nghệ thuật : Lời văn giản dị, nhẹ nhàng nhưng tạo nên ấn tượng mạnh mẽ,
cảnh vật gợi buồn, điều này chỉ có thể gặp trong thơ mới nên truyện của Thạch
Lam có dung hòa giữa lãng mạn và hiện thực. (Dẫn chứng)
Trang 23
KẾT BÀI :
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có thể nêu cảm nghĩ của bản thân.
IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Về nhận thức : Học sinh đã không còn thái độ e ngại, lo sợ đối với kiểu đề
bài nghị luận so sánh văn học. Thậm chí có nhiều học sinh đã có sự thích thú, chủ
động tích cực với những đề bài này. Điều đó đã góp phần làm chuyển biến tích cực
tình trạng học sinh không yêu thích học môn Ngữ văn hiện nay trong nhà trường.
Về kĩ năng : Học sinh đã biến vận dụng thành thạo một cách bài bản các bước
từ việc tìm hiểu xác định từng dạng đề bài cụ thể đến việc thực hiện các thao tác
nghị luận phù hợp với mỗi dạng đề bài; biết sử dụng các thao tác lập luận, huy
động kiến thức và từng bước nâng cao chất lượng bài làm của mình. Từ những yêu
cầu cơ bản của kiểu bài nghị luận so sánh văn học, học sinh đã biết vận dụng trong
các đoạn văn nghị luận cần mở rộng vấn đề hay nhấn mạnh một nội dung nào đó
trong một kiểu bài khác, làm cho bài viết ngày càng thuyết phục hơn, đồng thời
giúp cho bài làm của học sinh sát hơn với những yêu cầu của đáp án.
Kết quả cụ thể : Trong kì thi Đại học và Cao đẳng năm học 2010 - 2011 bộ
môn Ngữ văn đã đạt được kết quả như sau :
Số Điểm Tỉ Điểm Tỉ Điểm Tỉ Điểm Tỉ
Trang 25