592 Nguồn nhân lực Việt Nam. Lợi thế, thách thức & xu hướng phát triển trong tiến trình hội nhập kinh tế - Pdf 27

MỤC LỤC

Trang
LỜI GIỚI THIỆU…………………………………………………………………………..3.
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN
NHÂN LỰC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ……………………………………….4.
1.Nguồn nhân lực:………………………………………………………………….. 4.
a) Khái niệm về nguồn nhân lực:………………………………………………............... 4.
b) Một số khái niệm khác có liên quan đến khái niệm nguồn nhân lực:……………5.
2. Hội nhập kinh tế:……………………………………………………………….....6.
a) Khái niệm về hội nhập kinh tế:………………………………………………………….6.
b) Tính tất yếu của hội nhập kinh tế…………………………………………………6.
3. Vai trò của nguồn nhân lực đối với tiến trình hội nhập kinh tế………………..7.
PHẦN II: THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ……………………………………………………………..9.
1.Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam:…………………………………………...9.
a) Lợi thế của nguồn nhân lực Việt Nam trong hội nhập kinh tế:……………….....9.
b) Thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam:………………………………….12.
2. Thực tiễn hội nhập kinh tế của Việt Nam:……………………………………...20.
a) Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam:………………………………………20.
b) Những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam hội nhập kinh tế:………………... 20.
PHẦN III: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT
NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ………………………………… 22.
1. Xu hướng phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam:………………………… 22.
2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam:…………………..24.
KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………..27.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:……………………………………………….. 28.
1
LỜI GIỚI THIỆU
Trong bất kỳ giai đoạn nào, sức mạnh mà mỗi quốc gia có được đều là từ sự tổng

NHÂN LỰC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
1.Nguồn nhân lực:
a) Khái niệm về nguồn nhân lực:
Trước khi tìm hiểu khái niệm nguồn nhân lực, chúng ta tìm hiểu các khái niệm:
Nguồn lao động và Lực lượng lao động.
Nguồn lao động là toàn bộ số người trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia
lao động.Nước ta quy định tuổi lao động là từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam và
đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ.
Lực lượng lao động: bao gồm những nguời trong độ tuổi lao động đang tham gia
lao động và những người chưa tham gia lao động nhưng có nhu cầu tham gia lao động.
Như vậy nguồn lao động bao gồm lực lượng lao động và nguồn lao động dự trữ là
những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tham
gia lao động vì nhiều lý do khác nhau như đi học, bộ đội, nội trợ…
(1)

Quay trở lại khái niệm nguồn nhân lực, nguồn ở đây có nghĩa là có thể được sử
dụng trước mắt và trong tương lai. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực
hay còn gọi là nguồn lực con người. Nguồn nhân lực trong một tổ chức có thể hiểu là
toàn bộ những người làm việc trong tổ chức đó. Nguồn nhân lực xét về giác độ xã hội
là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, tổng nguồn lực xã hội có thể huy động cho
quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cho xã hội, nói lên khả năng lao động của xã hội.
Tuy nhiên việc xác định quy mô nguồn nhân lực thì chưa thống nhất với nhau.
Theo giáo trình kinh tế lao động, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ
thể phát triển bình thường (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh). Tuy nhiên
cách hiểu này đã loại trừ những người có thể bị một số khíêm khuyết, dị tật nhưng vẫn
có khả năng lao động và đang lao động đóng góp cho xã hội.
Cũng theo giáo trình Kinh tế lao động nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố
của sự phát triển kinh tế xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa
hẹp hơn bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Với cách
hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Khái niệm này lại bỏ sót

động.
(3)
Như vậy có thể nói xu hướng phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi
nguồn nhân lực về lượng, về chất theo hướng đi lên trong một thời gian dài, tương đối
ổn định.
2. Hội nhập kinh tế:
a) Khái niệm về hội nhập kinh tế:
2 ():
Giáo trình kinh tế lao động trang 35,54.
3

():
Sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam trang 12,13.
4
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra các quá trình toàn cầu hoá, khu vực hóa và
quốc tế hoá một cách nhanh chóng, toàn diện dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ. Các quá trình đó dẫn tới xu thế hội nhập kinh tế của tất cả
các nước trên thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây
nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế. Có
ý kiến cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể chế quốc gia
tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phương, đa
phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn trong các lĩnh vực
đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế. Ý kiến khác lại cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế
là quá trình loại bỏ dần các hàng rào thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và di
chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước. Tuy vậy khái niệm tương đối phổ biến được
nhiều nước chấp nhận là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi
quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa
các nước thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối. Nói một cách
khái quát nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình

(WEF),nhóm yếu tố lao động là một trong 8 nhóm yếu tố quan trọng quyết định năng
lực cạnh tranh của một quốc gia. Các nước Singapore, Hàn Quốc, Malaysia… cũng đã
xác định phát triển nguồn vốn nhân lực như là yếu tố cạnh tranh cơ bản nhất. Con người
vừa là chủ thể sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần vừa là mục tiêu, đối tượng
hướng tới của quá trình phát triển, là trung tâm của sự phát triển. Thực tế đã chứng minh
được vai trò quyết định đó của con người trong phát triển kinh tế. Trước đây Nhật Bản
là một nước khan hiếm tài nguyên, chịu sự khắc nghiệt của tự nhiên, nghèo nàn và lạc
hậu ngang tầm nước ta. Chỉ nhờ sức mạnh nguồn nhân lực đáng khâm phục của mình
nước Nhật đã vươn mình lên thành một cường quốc trên thế giới. Ở Việt nam chúng ta
khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhà nước đã có nhiều chính sách phát huy nguồn
nhân lực góp phần tạo nên sự tăng trưởng kinh tế ở mức cao và ổn định trong nhiều năm
qua. Điều đó đã được nhắc đến trong Nghị quyết trung ương Đảng VII, VIII và khẳng
định lại trong Nghị quyết trung ương Đảng IX: “Con người và nguồn nhân lực là nhân
tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết định của
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng đối với sự
phát triển lực lượng sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế để kinh tế Việt Nam tiếp tục
phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền kinh tế quốc tế.
PHẦN II:
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM
6
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ.
1.Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam:
a) Lợi thế của nguồn nhân lực Việt Nam trong hội nhập kinh tế:
Một trong những ưu thế rõ rệt của lao động Việt Nam hiện nay là nguồn nhân lực
dồi dào. Đó là do quy mô dân số lớn, cơ cấu dân số trẻ được coi là “cơ cấu vàng” nên
số người trong độ tuổi lao động cũng lớn. Tỷ lệ tăng bình quân năm của nguồn nhân lực
qua nhiều năm đều lớn hơn tỷ lệ tăng dân số, hệ số phụ thuộc có xu hướng giảm. Vì vậy
quy mô nguồn nhân lực lớn thể hiện: Tại thời điểm 1/7/2004, lực lượng lao động nói
chung (bao gồm trong độ tuổi lao động và trên độ tuôỉ lao động) của cả nước là

quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước.
Cơ cấu LLLĐ nói chung của cả nước chia theo nhóm tuổi 1/7 năm 2003 & 2004
(%)
Nguồn: Kết quả điều tra lao động - việc làm năm 2004
( Bộ lao động – thương binh và xã hội )
Một ưu thế khác là nước ta có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số lớn.
Tại thời điểm 1/7/2004 tính chung cả nước tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số
từ đủ 15 tuổi trở lên là 71,4%, giảm 0,6% so với thời điểm 1/7/2003. Ở khu vực thành
thị là 63,2% (giảm 1,1%), khu vực nông thôn là 74,6% (giảm 0,3%).
Bảng 2: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2003, 2004:
Nguồn: Kết quả điều tra lao động - việc làm năm 2004
( Bộ lao động – thương binh và xã hội )
Nhờ chính sách cải cách đổi mới phát triển kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực
đã được nâng cao nhiều. Trình độ học vấn và dân trí của nguồn nhân lực Việt Nam là
khá cao. Trong những năm qua do Đảng và nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo
Năm 2003 (%) 2004 (%)
Khu vực thành thị 64,3 63,2
Khu vực nông thôn 74,9 74,6
Chung 72,0 71,4
8
nên đã đạt được một số thành tựu nhất định. Việt Nam được Liên Hợp Quốc đánh giá
cao về chỉ số phát triển con người: chỉ số HDI đạt 0,682 cao hơn nhiều nước trong khu
vực. Tỷ lệ mù chữ của lực lượng lao động cả nước là 5,01%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông
cơ sở là 3,28%, tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông trung học là 19,7%, so với thời điểm
1/4/2003 tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông cơ sở tăng 2,6%, tốt nghiệp phổ thông trung học
tăng 1,4%.
Bảng 3: Trình độ học vấn phổ thông của nguồn nhân lực Việt Nam:
Năm 2003 (%) 2004 (%)
Tổng số LLLĐ 100 100
Tỷ lệ mù chữ 4,31 5,01

bộ khoa học của Việt Nam cũng đã tiếp thu và tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học
và công nghệ hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam
thông qua xuất khẩu lao động và các chuyên gia nước ngoài đã có điều kiện tiếp cận
được với những máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp. Qua đó
chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã được nâng cao hơn.
Nguồn nhân lực nước ta còn có lợi thế là được tiếp thu truyền thống lịch sử của
đất nước: Truyền thống cần cù, siêng năng, chịu khó, yêu lao động. Người lao động
Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấn
khá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ của thế giới. Đây là lợi thế so sánh có ý nghĩa đối với nguồn nhân lực Việt Nam
trong quá trình tham gia hội nhập.
b) Thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam:
Dù đã có những bước tiến bộ về chất lượng nguồn nhân lực như đã kể trên nhưng
nguồn nhân lực Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu phát
triển hội nhập kinh tế, thể hiện:
Về chất lượng nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực Việt Nam tuy dồi dào về số lượng
nhưng chất lượng không cao. Số người có trình độ chuyên môn và khoa học tuy đã
đào tạo được hơn 7 triệu người nhưng so với yêu cầu của hội nhập kinh tế thế giới thì tỷ
lệ còn thấp.
Bảng 5: Cơ cấu lực lượng lao động chia theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật của cả nước:
Năm 2003 (%) 2004 (%)
10
CĐ, ĐH và trên ĐH 4,4 4,8
Trung học chuyên nghiệp 4,1 4,4
Đào tạo nghề / sơ cấp 12,5 13,3
Chưa qua đào tạo 79,0 77,5

Nguồn: Kết quả điều tra lao động - việc làm năm 2004
( Bộ lao động – thương binh và xã hội )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status