BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH -
MARKETING
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng Viên HD: TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung
Danh sách nhóm 6:
Trần Thị Thùy Linh
Lê Trung Hưng
Phạm Huỳnh Thanh Ngọc
Nguyễn Thu Thanh
Lưu Thị Bích Trang
Trần Công Khánh
Nguyễn Thị Hồng Liêm
Cao Văn Thịnh
Thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
1.1. Khái niệm hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau
của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử
dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó.
1.2. Cấu trúc (các bộ phận cấu thành) của hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính được cấu thành từ 4 thành tố chính sau: thị trường tài chính, các
chủ thể tài chính, các công cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính có thể được khái quát
qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ: HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Các chủ thể tài chính:
Hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: nghiệp vụ nợ ( huy động
vốn), nghiệp vụ có (cho vay vốn), nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, đại
lý, tư vấn, thông tin, giữ hộ chứng từ và vật quý giá…).
Ở nước ta hiện nay, đa số các Ngân hàng hiện nay là Ngân hàng chuyển doanh do
Nhà nước cấp vốn hoạt động (Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng công thương, Ngân
hàng ngoại thương…), hệ thống các chi nhánh của chúng lại được bố trí theo địa giới
hành chính nên chưa phát huy được vai trò của mình do nội dung hoạt động bị hạn chế,
chất lượng và kỹ thuật phục vụ thấp, không có yếu tố cạnh tranh và không bám sát được
sự phát triển của thị trường. Để khắc phục cần sớm hình thành và phát triển các Ngân
hàng cổ phần đặc biệt là các Ngân hàng kinh doanh tổng hợp.
- Các Công ty tài chính:
Các công ty tài chính (CTTC) thu hút vốn bằng cách phát hành thương phiếu hoặc
cổ phiếu, trái phiếu và dùng tiền thu được để cho vay, đặc biệt thích hợp với các nhu cầu
của các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Quá trình trung gian tài chính của các CTTC có thể được mô tả bằng cách nói rằng
họ vay những món tiền lớn nhưng lại thường cho vay những món tiền nhỏ - một quá trình
hoàn toàn khác với quá trình của những ngân hàng thương mại, các Ngân hàng này phát
hành các món tiền gửi với số lượng tiền nhỏ và sau đó thường cho vay với món tiền lớn.
- Các quỹ tín dụng:
Các quỹ tín dụng là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được thành lập chủ yếu
theo nguyên tắc góp cổ phần.
o Các tổ chức tài chính không chính thức:
Các tổ chức tài chính không chính thức tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau mà
trước hết và quan trọng nhất là các công ty bảo hiểm.
Công cụ tài chính:
+ Các khoản vay của các ngân hàng với các tổ chức tài chính khác.
+ Trái phiếu chính phủ.
+ Tín phiếu kho bạc.
+ Trái phiếu đô thị.
+ Trái phiếu công ty.
Sàng lọc, chuyển giao, phân tán rủi ro: là thu nhập, xử lý, cung cấp thông tin để
lựa chọn phương án đầu tư khả thi. Mua bảo hiểm, tái bảo hiểm cho dự án. Đa dạng hóa
danh mục đầu tư.
Đánh giá, giám sát và định hướng các hoạt động kinh tế: là giám sát trước khi cấp
vốn, trong khi sử dụng vốn và sau khi hoàn vốn
Vận hành hệ thống thanh toán qua tài khoản ngân hàng, thanh toán chuyển khoản,
thẻ tín dụng…
1.4. Vai trò của hệ thống tài chính:
- Khuyến khích tiết kiệm.
- Khuyến khích đầu tư.
- Thúc đẩy sản xuất và trao đổi hàng hóa.
- Tăng cường hiệu quả và tăng trưởng kinh tế.
- Cải thiện đời sống kinh tế xã hội.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ CHO SỰ CAN THIỆP CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA
NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
HIỆN NAY.
2.1. Cơ sở cho sự can thiệp của nhà nước.
Các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đã tranh luận khá gay gắt về vai trò của nhà
nước đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, chủ yếu giữa hai quan điểm: nền
kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước và nền kinh tế thị trường dựa vào thành
phần kinh tế tư nhân.
Nền kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước:
Thực tế đã chứng minh rằng nền kinh tế tập trung dưới sự chỉ huy của nhà nước là
thất bại. Thất bại này thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, đời sống nhân dân
không được cải thiện. Và thời kỳ nền kinh tế bao cấp ở Việt Nam đã minh chứng cho điều
đó.
Thời kỳ mà nền kinh tế hoạt động theo cơ chế tập trung kế hoạch hóa. Nhà nước lên
kế hoạch cho mọi hoạt động kinh tế. Thành phần kinh tế tư nhân bị cấm. Nông dân làm
việc trong các hợp tác xã. Và kết quả là: Từ năm 1976 đến 1980 thu nhập quốc dân tăng
rất chậm, thậm chí có năm còn giảm. Năm 1977 tăng 2,8%, 1978 tăng 2,3 %, 1979 giảm
về chính trị, tổn thất về kinh tế một cách nặng nề.
Qua đó, có thể nhận thấy rõ vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế nói chung và hệ
thống tài chính nói riêng. Sự can thiệp của nhà nước trong một mức độ nhất định sẽ thúc
đẩy hệ thống tài chính quốc gia ổn định, góp phần mang lại sự phát triển cho nền kinh tế,
bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của toàn hệ thống, đảm bảo mọi quyền lợi của các chủ
thể trong nền kinh tế và giải quyết mọi vấn đề phát sinh do tác động của các nhân tố bên
ngoài, bên cạnh đó còn giúp cải thiện việc kiểm soát chính sách tiền tệ.
2.2. Kiến tạo thị trường
Chất lượng một thể chế và một môi trường kinh doanh có tầm quan trọng hàng
đầu cho sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy mà, Nhà nước tập trung xây dựng khuôn
khổ thể chế phù hợp, tạo điều kiện cho mọi người phát huy hết năng lực và sự sáng tạo
của mình mang lại lợi ích cho cá nhân và cho xã hội. Tạo ra một môi trường kinh doanh
bình đẳng theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp.
Pháp luật và cơ chế chính sách phải tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp phát
triển sản xuất. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra một không gian phát triển mới,
rộng mở. Tạo điều kiện để cá nhân và doanh nghiệp phát huy hết tiềm năng của mình khi
hội nhập một thị trường lớn.
2.3. Vai trò của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống tài chinh Việt Nam
hiện nay
2.3.1. Vai trò của nhà nước đối với các tổ chức tài chính.
Tổ chức tài chính bao gồm: các tổ chức ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng
Định nghĩa
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt
động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân
hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội
dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một
phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Chính sách của nhà nước để
xây dựng các loai hình TCTD ghi nhận ở điều 4 luật các TCTD: 12/12/1997 gồm những
vấn đề:
Thống nhất quản lý với mọi hoạt động Ngân hàng, xây dựng các tổ chức tín dụng
hiện đại, đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế dân cư, góp
phần chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn hệ thống TCTD, bảo vệ lợi ích hành
pháp của người gởi tiền.
Đầu tư vốn và nguồn lực khác để phát triển các TCTD Nhà nước tạo điều kiện cho
các tổ chức này giữ vai trò trên thương trường tiền tệ.
Phát triển các ngân hàng chính sách hoạt động không những mục đích lợi nhuận
phục vụ nghĩa vụ và chính sách khác nhằm thực hiện chính sách kinh tế- xã hội và Nhà
nước.
Bảo hộ sở hữu, quyền và lợi ích hạnh pháp khác trong hoạt động của các TCTD
hợp tác nhằm tạo điều kiện cho người lao động tương trợ nhau trong sản xuất và đời
sống.
Sử dụng các ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân
với chính sách ưu đãi về vốn, lại suất và các điều kiện vay vốn.
Hai là, nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ bảo đảm an toàn cho các hoạt
động kinh doanh Ngân hàng tổng nền kinh tế vì hoạt động kinh doanh Ngân hàng còn
tiềm ẩn những rủi ro cao, Nhà nước ban hành các quy định nhằm hạn chế và kiểm soát
hoạt động kinh doanh Ngân hàng. Cụ thể, điều 79 Luật các TCTD: Tổng dư nợ cho vay
đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn của TCTD trừ tổng hợp đối với các khoản
cho vay từ các nguồn vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân hay trường hợp vậy là TCTD
khác.
Ba là, nhà nước pháp luật làm công cụ ngã ngửa, giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong lĩnh vực Ngân hàng: Quy định về trình tự, thủ tục, cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp Góp phần bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ
xã hội trong lĩnh vực ngân hàng trong nền kinh tế.
- Nhà nước thành lập và sử dụng hệ thống Ngân hàng, TCTD Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
mua bán trên thị trường vốn.
Năm từ 2009 đến 2011 Ngân hàng Nhà nước vừa đưa ra nhiều luật, dự thảo, thông tư
hướng dẫn điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín
dụng. Dự thảo quy định kỹ lưỡng và có phần chặt chẽ hơn về điều kiện để các ngân hàng
góp vốn mua cổ phần các ngân hang góp vốn mua cổ phần dưới dạng công ty liên doanh,
liên kết hoặc dưới dạng doanh mục đầu tư.
Việc kiểm soát và hạn chế các ngân hàng thương mại thành lập công ty con, công ty
liên kết là cần thiết để tránh tình trạng thông qua các công ty liên kết lách luật cho vay
nội bộ lẫn nhau. Điều này cũng giúp cho hệ thống ngân hàng tránh được rủi ro khi
đẩy mạnh đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh khác.
2.3.2. Vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính
tại Việt Nam
Tìm hiểu về cơ sở hạ tầng tài chính:
Là những nền tảng để qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân thực hiện các
giao dịch tài chính với các định chế tài chính trung gian và thị trường tài chính.
Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính:
- Hệ thống pháp luật
- Hệ thống giám sát
- Hệ thống thông tin
- Hệ thống thanh toán
- Hệ thống dịch vụ chứng khoán
- Nguồn nhân lực,…
Vai trò của Nhà nước đối với việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính:
Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính ổn
định, có nền tảng vững chắc; hay nói khác hơn là tạo ra khung pháp lý – Cơ sở hạ tầng
pháp lý cho sự phát triển của hệ thống tài chính, bao gồm ban hành các văn bản pháp
luật, tổ chức kiểm tra giám sát, đảm bảo thông tin được cung cấp đầy đủ đến các chủ thể
tài chính….
Đây chính là nền tảng để qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân lập kế hoạch
và thực hiện các giao dịch tài chính với các định chế tài chính và thị trường tài chính.
trong các văn bản luật.
Cơ sở hạ tầng tài chính và vai trò của Nhà nước Việt Nam hiện nay:
Tổng quan về hệ thống pháp luật tài chính:
Thứ nhất, hệ thống luật pháp Việt Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ để hệ thống
tài chính hoạt động.
Đối với thị trường tài chính: Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính,
các công cụ chủ yếu được sử dụng trên thị trường tài chính là các loại chứng khoán. Trên
cơ sở đó, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ để điều
chỉnh các hoạt động trên thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói
riêng như ban hành luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán, luật lưu ký chứng khoán
quy định về các quy trình hoạt động, các điều kiện tham gia giao dịch trên thị trường…
Mặt khác, Nhà nước còn ban hành các văn bản dưới luật quy định chức năng, nhiệm vụ
và phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng nhà nước, ngân hàng thương
mại, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm
Đối với Tài chính công: hiên nay Nhà nước đã ban hành luật ngân sách nhà nước,
ngoài ra còn được điều chỉnh đồng thời bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Mục
đích của luật ngân sách nhà nước nhằm quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng
cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và
sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Với mục
đích nêu trên, luật này quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết
toán ngân sách nhà nước và về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước các cấp. Thật
vậy, luật ngân sách nhà nước của Việt Nam đã quy định cụ thể về tình hình thu, chi ngân
sách và xử lý các vấn đề về bội chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước còn đưa
ra các luật thuế góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách, tăng GDP cho nền kinh tế.
Đối với Tài chính doanh nghiệp: Các quy định về việc thành lập, điều kiện đăng ký
kinh doanh, quyền lợi cũng như nghĩa vụ của các doanh nghiệp tham gia thị trường được
đưa ra cụ thể trong Luật doanh nghiệp. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động của mình, các
HTQSTC Việt Nam đi theo mô hình giám sát phân tán, nghĩa là các cơ quan quản
lý và giám sát được thành lập và vận hành nhằm giám sát một loại định chế tài chính và
khu vực thị trường nhất định trên tổng thể thị trường tài chính (TTTC). Hai cơ quan cấp
bộ là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cùng với Ủy ban Giám
sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) và Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là những tổ chức
giám sát độc lập, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về thực hiện các chức năng giám sát
của mình trên TTTC.
Với chức năng tư vấn cho Chính phủ về điều phối giám sát trên TTTC,
UBGSTCQG có quan hệ phối hợp trực tiếp với Bộ Tài chính và NHNN nhằm nắm bắt
được diễn biến hoạt động giám sát trên cả 3 lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán;
được yêu cầu 2 cơ quan quản lý này cũng như các định chế tài chính thuộc thẩm quyền
quản lý của NHNN và Bộ Tài chính cung cấp thông tin phục vụ giám sát; có trách nhiệm
đưa ra những khuyến nghị về xử lý vi phạm đối với tổ chức và cá nhân tham gia 3 lĩnh
vực trên.
NHNN và Bộ Tài chính có mối quan hệ phối hợp chéo trong quản lý và giám sát
những ngân hàng thương mại (NHTM) có sở hữu vốn nhà nước do Bộ Tài chính chịu
trách nhiệm quản lý. Đồng thời, hai tổ chức này còn có mối quan hệ mật thiết liên quan
đến việc phát hành trái phiếu kho bạc, cũng như thực hiện các chính sách tài chính công
và chính sách tiền tệ có liên quan đến việc sử dụng các trái phiếu này.
Hoạt động ngân hàng chịu sự giám sát trực tiếp của Cơ quan Thanh tra, Giám sát
Ngân hàng (NHNN). Trong khi đó, thị trường bảo hiểm chịu sự giám sát trực tiếp của
Cục Quản lý và Giám sát Bảo hiểm; Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) chịu
trách nhiệm giám sát trực tiếp đối với thị trường chứng khoán (TTCK).
Cấu trúc trên cho thấy mô hình giám sát phân tán đang được duy trì trên TTTC
Việt Nam, xu hướng chuyên biệt hóa công tác giám sát theo chức năng đã bắt đầu được
hình thành.
Hiệu lực giám sát của các cơ quan giám sát tài chính
Trong thời gian qua, trước những thách thức trong yêu cầu phát triển bền vững
kinh tế - xã hội, các cơ quan giám sát chuyên ngành của Việt Nam đã có sự cải cách về
mọi mặt (tổ chức, công cụ, nhân lực và chính sách). Tuy nhiên, hiệu lực giám sát của
về giám sát hệ thống tài chính tổng quát. Hiện tại, mới chỉ có hệ thống các chỉ tiêu giám
sát từ xa theo CAMELS (hệ thống giám sát từ Mỹ, ra đời năm 1978) được Thanh tra ngân
hàng thuộc NHNN áp dụng nhằm đánh giá các ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng
nhân dân. Đối với ngành bảo hiểm và chứng khoán thì vẫn chưa có hệ thống chỉ tiêu
giám sát hiệu quả. Tuy nhiên, ngay cả hệ thống CAMELS của NHNN cũng bị đánh giá là
chưa đầy đủ.
Thứ sáu, về hiệu lực của các cơ quan giám sát chuyên ngành trong giám sát tài
chính cũng còn nhiều tồn tại. Cụ thể:
- Đối với thanh tra NHNN: Giám sát ngân hàng hiện nay của cơ quan thanh tra NHNN
hiện nay chỉ đơn thuần dựa trên bộ chỉ số định lượng CAMELS, chưa có phân tích sâu về
rủi ro liên quan tài sản nợ, tài sản có. Trên thế giới, Ủy ban Basel đã công bố bộ 25
nguyên tắc cơ bản về thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả. So sánh với hoạt động giám
sát của cơ quan thanh tra NHNN thì việc giám sát ngân hàng tại Việt Nam còn rất nhiều
chỉ tiêu đang trong giai đoạn xúc tiến hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu đưa ra trong bộ 25
nguyên tắc của BASEL.
Đối với thanh tra UBCKNN: Hoạt động thanh tra - giám sát chưa thường xuyên liên tục,
chế tài xử phạt xử phạt còn thấp, dẫn đến vi phạm tái diễn. Hạ tầng công nghệ phục vụ
công tác thanh tra giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, trong khi các hành vi vi phạm
ngày càng tinh vi và phức tạp. Cơ chế phối hợp giữa các đơn vị thuộc UBCKNN trong
công tác giám sát chưa cao, việc phân định chức năng giám sát giữa các đơn vị chưa rõ
ràng và chồng chéo.
Đối với Cục quản lý, giám sát bảo hiểm: Hoạt động thanh tra giám sát nhiều khi còn
mang tính tình huống. Công tác thanh tra giám sát được thực hiện chủ yếu là giám sát từ
xa thông qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà thiếu thanh tra tại chỗ một cách
chuyên nghiệp. Thanh tra bảo hiểm mới chỉ thực hiện thanh tra mang tính “chọn mẫu”
ngẫu nhiên các doanh nghiệp bảo hiểm và chủ yếu tập trung trong lĩnh vực bảo hiểm phi
nhân thọ. Trong khi đó, ngày nay đã xuất hiện thêm một loại hình bảo hiểm có tính chất
ngân hàng mới cần phải có phương pháp và nội dung thanh tra cụ thể, đặc biệt là các chỉ
tiêu về rủi ro.
Thứ bảy, còn thiếu vắng nội dung giám sát an toàn vĩ mô. Tại Việt Nam, bắt đầu từ
tài chính là rất quan trọng và cần thiết, nhằm giúp thị trường đạt được sự ổn định và hiệu quả, từ đó
tạo nên sự tăng trưởng phát triển lành mạnh của nền kinh tế.
Thứ nhất, Nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của thị trường tài chính.
Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của
thị trường tài chinh. Hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành là cơ sở pháp lý điều chỉnh các hành
vi của nhà phát hành, nhà đầu tư và các tổ chức trung gian tài chính, giải quyết tranh chấp và xử lý
các vi phạm trong hoạt động của thị trường tài chính. Có một số nhóm quy chế được ban hành đó
là:
+ Quy chế pháp lý đối với các tác nhân tham gia vào thi trường
+ Quy chế pháp lý về phát hành mua bán các loại chứng khoán.
+ Quy chế về tổ chức thị trường nhằm xây dựng quy chế tổ chức thị trường.
Thứ hai, Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật cùng các cơ quan chuyên trách thực hiện
chức năng quản lý, giám sát, điều hành các hoạt động của thị trường tài chính.
+ Thanh tra những điểm nghi vấn hoặc sai lệch trong hoạt động phát hành, niêm yết chứng
khoán và công bố thông tin.
+ Thanh tra các hoạt động giao dịch tại trụ sở giao dịch chứng khoán.
+ Thanh tra về khả năng tài chính và các hoạt động của tổ chức tài chính, các tổ chức kinh
doanh, dịch vụ chứng khoán
Vì vậy, việc Nhà nước tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng, cụ thể cho hoạt động của thị
trường tài chính và duy trì chế độ xã hội ổn định giúp:
+ Bảo đảm cho sự an toàn trong môi trường đầu tư trên thị trường tài chinh
+ Hạn chế được các mặt tiêu cực của thị trường
+ Bảo vệ lợi ích cho mọi tác nhân kinh tế tham gia thị trường.
+ Cũng cố lòng tin của chủ thể cần nguồn tài chính và chủ thể cung ứng nguồn tài chính.
+ Tạo ra sức hút đối với nguồn tài chính không chỉ trong nước mà còn từ nước ngoài.
Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển ở phạm vi rộng hơn.
Thứ ba, Nhà nước tạo môi trường kinh tế cho thị trường tài chính hình thành và phát triển.
Để thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, đảm bảo lưu thông tiền tệ được ổn
định, Nhà nước có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hóa,
đa phương hóa các quan hệ đối ngoại.
phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
• Các định chế tài chính do NHNN quản lý là các tổ chức tín dụng bao gồm: NHTM
nhà nước, ngân hàng TMCP, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh, văn
phòng đại diện của các tổ chức tín dụng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài
chính và khoảng quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng chính sách.
• Các định chế tài chính do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quản lý là Sở giao dịch
chứng khoán, các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán
• Các định chế tài chính khác do Chính phủ và Bộ tài chính quản lý là những định chế
có sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các công ty bảo hiểm bao gồm: Quỹ bảo
hiểm xã hội, các công ty bảo hiểm; các quỹ có nguồn gốc ngân sách như Quỹ đầu tư phát
triển, Quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương
- Cơ chế giám sát còn nặng về giấy tờ hành chính.
Về vai trò tạo môi trường kinh tế và cơ sở hạ tầng cho thị trường tài chính
Với chính sách điều hành hợp lý, kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ linh
hoạt, lạm phát đã bắt đầu có xu hướng giảm, một số chỉ số vĩ mô như thanh khoản hệ thống, tỷ giá,
cán cân thanh toán đang dần ổn định, lãi suất có xu hướng ngày càng giảm tạo môi trường kinh tế
ổn định thúc đẩy thị trường tài chính phát triển.
Chỉ số CPI năm 2013 thấp nhất so với 10 năm trở lại đây. Các năm trước chỉ số CPI tăng như
sau: năm 2004 tăng 9,5%; năm 2005 tăng 8,4%; năm 2006 là 6,6%; năm 2008 là 19,89%; năm 2011
là 18,13%, năm 2012 là 6,81%, 2013: 6,04% (Nguồn: Tổng cục Thống kê).
Trần lãi suất huy động dưới 6 tháng giảm từ 10% năm 2012 xuống còn 7% năm 2013, lãi suất
cho vay giảm phổ biến ở mức 12%/năm (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
Các chỉ số giá chứng khoán năm 2013 đều tăng so với cuối năm 2012. Tính đến thời điểm 24-
12-2013, VN-Index tăng 22,2%, HNX-Index tăng 19,32%. Sự gia tăng của các chỉ số chứng khoán
trong năm 2013 đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có mức độ phục hồi mạnh nhất
thế giới. Mức vốn hóa thị trường năm 2013 cũng tăng so với năm 2012, đạt khoảng 964.000 tỉ đồng
(tăng 199.000 tỉ đồng so với cuối năm 2012), tương đương 31% GDP. (Nguồn: Uỷ ban chứng
khoán nhà nước)
Với vai trò là cơ quan quản lý, điều hành thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) rất
chú trọng công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ cho hoạt động của thị trường và công tác phát
Rà soát mô hình tổ chức kinh doanh vốn, chứng khoán, các tổ chức tự quản, các quỹ đầu tư; Sửa
đổi Luật Chứng Khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, xây dựng Luật
Kiểm toán độc lập cũng như các quy định về chào bán, niêm yết, giao dịch, quản lý các giao dịch
vốn cho phù hợp với với lộ trình WTO.
Việt Nam chưa có một cơ quan giám sát vĩ mô đủ thẩm quyền để có thể cảnh báo, ngăn ngừa và
xử lý hữu hiệu các loại rủi ro của thị trường tài chính, do đó cần phải có sự phối hợp của các cơ
quan này để giám sát chung hệ thống tài chính, cũng như phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô và
chính sách giám sát an toàn tài chính, xây dựng mô hình giám sát hợp nhất, thay vì mô hình phân
tán như hiện nay. Việc có một “nhạc trưởng” thực sự trong giám sát hệ thống tài chính mới có thể
dần khắc phục những bất cập hiện tại, nâng cao hiệu quả giám sát tài chính tiền tệ.
Xây dựng thể chế hài hòa các tiêu chuẩn quốc tế
Các cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan giám sát tài chính phải tăng cường trách nhiệm,
nâng cao năng lực, kịp thời nhận dạng và xử lý rủi ro phát sinh; lành mạnh hóa hệ thống tài chính
và xây dựng một mô hình giám sát hữu hiệu, hạn chế sở hữu chéo giữa 3 khu vực: Ngân hàng –
Chứng khoán – Doanh nghiệp chấm dứt lợi ích nhóm tháo túng trên thị trường vốn tín dụng ngân
hàng… để giúp khơi thông tín dụng cho nền kinh tế.
Từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel III tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng
cường năng lực hoạt động, giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại và nâng cao năng
lực cạnh tranh trong thị trường tài chính quốc tế, tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam có thể
mở rộng thị trường trong thời gian tới.
Công khai, minh bạch hóa thông tin trên thị trường
Hiện vẫn chưa có hệ thống lưu trữ thông tin tín dụng và tổ chức xếp loại tín dụng đủ độ tin
cậy, do đó Ngân hàng nhà nước cần từng bước nâng cao chất lượng của Trung tâm thông tin tín
dụng (CIC). Sự phát triển của thị trường vốn khiến cả cơ hội đầu tư và rủi ro đầu tư đều tăng lên.
Nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn hơn nhằm thu lợi cao hơn từ khoản đầu tư này, song rủi ro
trong đầu tư cũng tăng lên vì họ không hiểu hết những chủ thể sử dụng vốn của mình. Những thông
tin về chỉ số tín nhiệm của các DN, các ngành trong nền kinh tế sẽ giúp các nhà đầu tư có định
hướng tốt hơn mỗi khi ra quyết định đầu tư.
Thị trường vốn phát triển, đòi hỏi phải quan tâm đến tính minh bạch của thị trường, tạo dựng
được lòng tin để thu hút những chủ thể cung cấp vốn và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn