Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHỬ NGỌC OÁNH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG
VÔ TÍNH VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
NHẰM LÀM TĂNG TỶ LỆ XUẤT VƢỜN
CỦA CÁC DÒNG CHÈ ĐỘT BIẾN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chọn tạo giống chè bằng phương pháp đột biến là phương pháp
không chỉ tạo ra giống mới mà còn tạo được nguồn gen mới làm vật
liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống chè. Nhất là trong điều
kiện thích ứng với biến đổi khí hậu, các giống chè mới ngoài có năng
suất cao, chất lượng tốt, còn phải có khả năng chống chịu với điều
kiện bất thuận, chọn tạo giống chè bằng đột biến nhân tạo là phương
pháp khả thi để chúng ta có thể thực hiện được yêu cầu của công tác
chọn giống chè trong điều kiện mới.
Trồng chè trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là theo phương pháp
giâm cành, nên để các dòng chè tạo ra bằng phương pháp đột biến có
thể nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu sản xuất thì khả năng nhân
giống của các dòng là một trong tiêu chí hàng đầu chúng ta cần quan
tâm nghiên cứu.
cao năng suất, chất lượng chè Việt Nam trong thời gian tới.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài kết thúc sẽ đánh giá được một cách đầy đủ khả năng
nhân giống vô tính và tìm ra được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp
cho việc nhân giống vô tính đối với các dòng chè đột biến. Nâng cao
tỷ lệ cây con xuất vườn, tỷ lệ sống sau trồng để đạt hiệu quả kinh tế
cao của các dòng chè đột biến.
- Kết quả của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống
vô tính, là cơ sở để xây dựng các nghiên cứu tiếp theo đối với các
dòng chè đột biến hiện nay.
3. Mục tiêu của đề tài
Xác định được khả năng nhân giống vô tính và một số biện
và chiều sâu.
Chưa có những nghiên cứu liên quan đến khả năng nhân giống
vô tính của các dòng chè đột biến.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
Chưa xác định được các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm làm
tăng tỷ lệ cây con xuất vườn, tỷ lệ sống sau trồng và hiệu quả kinh tế
ở giai đoạn vườn ươm của các dòng chè đột biến.
Việc đánh giá, chọn lọc được các dòng chè đột biến tốt có vai
trò to lớn là tạo ra được nguồn vật liệu khởi đầu tốt, là cơ sở phục vụ
cho công tác lai tạo giống chè hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu của
thực tiễn, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu khả năng nhân giống
vô tính và một số biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng tỷ lệ xuất vườn
của các dòng chè đột biến
nâng cao năng suất, chất lượng chè Việt Nam trong thời gian tới.
Đề tài tập chung vào các hướng nghiên cứu chính sau:
- Đánh giá khả năng nhân giống vô tính của các dòng chè
đột biến.
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhằm làm tăng khả
năng nhân giống vô tính của các dòng chè đột biến.
CHƢƠNG II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu trên hom của 05 dòng chè được chọn lọc
từ nguồn vật liệu gây đột biến từ 02 giống chè TRI777 và PH1 là:
TRI777
3.5.1
5.0
; CT4: PH1
2.0
; CT5: PH1
5.2
và C đ/c:
LDP
2
); mỗi một công thức là 30 bầu chè, mỗi lần nhắc là 180 bầu
chè, có 3 lần nhắc lại. Sử dụng hỗn hợp các mức chín sinh lý khác
nhau của hom khi cắm.
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 1 nhân tố được bố
trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn (CRD); nền của thí nghiệm là
đồng đều: Trên cùng một diện tích, cùng một loại đất, có các điều
kiện về nước, chế độ dinh dưỡng, biện pháp kỹ thuật, giống nhau.
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng độ chín sinh lý của hom đến
khả năng giâm cành của 05 dòng chè đột biến có triển vọng.
Thí nghiệm gồm 6 dòng, giống chè (Dòng: TRI777
3.5.1
;
TRI777
4.0
; TRI777
5.0
; PH1
2.0
; PH1
5.2
và giống LDP
2
3. Nền của thí nghiệm là đồng đều: Trên cùng một diện tích, cùng
một loại đất, có các điều kiện về nước, chế độ dinh dưỡng, biện pháp
kỹ thuật, giống nhau.
Sử dụng phân bón hữu cơ: Phân bón hữu cơ được sử dụng là
ANHUMIX 30-10-10+TE (N: 30%, P
2
O
5
: 10%, K
2
O: 10%, B:
50ppm, Zn: 50ppm, Cu: 100ppm, NAA: 10ppm) của Công ty CP
phát triển nông nghiệp Đất Việt. Liều lượng sử dụng: Pha 3gr cho 3
lít nước. Thời điểm phun sau thời gian giâm cành là 3 tháng. Phun
định kỳ khoảng 30 ngày/1 lần phun. Tổng số lần phun là 6 lần.
2.4. Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng
phần mềm IRRISTAT và EXCEL.
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Khả năng nhân giống vô tính của 05 dòng chè đột biến có triển vọng
3.1.1. Khả năng hình thành mô sẹo và ra rễ của các dòng chè đột
biến có triển vọng
Kết quả theo dõi khả năng hình thành mô sẹo và ra rễ được trình
bầy ở bảng 3.1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
Bảng 3.1: Khả năng ra mô sẹo và ra rễ của các dòng chè đột biến
100
100
LDP
2
(đ/c)
100
100
Qua theo dõi đánh giá ở các thí nghiệm chúng tôi nhận thấy tỷ
lệ ra mô sẹo và tỷ lệ ra rễ của 05 dòng chè đột biến trong giai đoạn
vườn ươm được hình thành và phát triển chậm, do trong các tháng
12/2013 và tháng 1, tháng 2 năm 2014 ngưỡng nhiệt độ thấp (từ 14 -
16
0
C) đã làm ảnh hưởng đến khả năng hình thành mô sẹo, ra rễ của
hom. Sau thời gian cắm hom từ 60 - 90 ngày thì mô sẹo và rễ của 05
dòng chè đột biến được hình thành đầy đủ và phát triển.
3.1.2. Khả năng bật mầm
Qua theo dõi tỷ lệ bật mầm của các dòng chè đột biến chúng tôi
thu được kết quả ở bảng 3.2:
Bảng 3.2: Tỷ lệ hom bật mầm của các dòng chè đột biến
Đơn vị: %
C.tiêu
C.thức
Sau cắm
Hom 4 tháng
Sau cắm hom
4,5 tháng
Sau cắm
hom 5 tháng
TRI777
2
(đ/c)
74,4
93,3
100
P >0,05
CV% 4,7
LSD.
05 6,17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
Qua theo dõi chúng tôi thấy, tỷ lệ bật mầm của các dòng chè đột
biến phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính của giống. Sau cắm hom 4 tháng
tỷ lệ bật mầm của các dòng chè biến động từ 45,3 % - 85,4 %, các
dòng chè TRI777
5.0
, PH1
5.2
và giống LDP
4 tháng
Sau cắm hom
4,5 tháng
Sau cắm hom
5 tháng
TRI777
3.5.1
98,9
95,6
93,3
TRI777
4.0
98,9
96,7
95,6
TRI777
5.0
98,9
97,8
97,8
PH1
2.0
98,9
96,7
96,7
PH1
so với giống đối chứng (trừ dòng chè PH1
5.2
).
Sau 4,5 tháng cắm hom các dòng chè có tỷ lệ sống tương đối
đều nhau, dao động từ 95,6 % - 97,8 %.
Sau 5 tháng cắm hom tỷ lệ sống của các dòng chè thí nghiệm
đều đạt cao trên 90 % tương đương với giống đối chứng, dao động từ
93,3% - 97,8%.
3.1.4. Động thái tăng trưởng chiều dài mầm
Kết quả theo dõi động thái tăng trưởng chiều dài mầm của các
dòng chè thí nghiệm được trình bầy ở bảng 3.4:
Bảng 3.4: Độ dài mầm của các dòng chè đột biến
Đơn vị: cm
C.tiêu
C.thức
Sau cắm hom
5 tháng
Sau cắm hom
6,5 tháng
Sau cắm hom
7,5 tháng
TRI777
3.5.1
2,5
9,7
11,4
TRI777
4.0
<0,05
CV% 27,3
LSD.
05 1,51
Số liệu bảng 3.4 cho thấy, độ dài của mầm tăng qua các giai đoạn.
Sau 5 tháng cắm hom mầm của các dòng chè vẫn ngắn. Trong
đó dòng chè PH1
2.0
chưa đo được. Các dòng chè còn lại có chiều dài
mầm biến động từ 2,2 cm - 3,1 cm, ngắn hơn giống đối chứng (LDP
2
:
4,9 cm).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
Sau 6,5 tháng cắm hom độ dài mầm của các dòng chè thí
nghiệm dài hơn dao động từ 5,8 cm - 9,7 cm, ngắn hơn giống đối
chứng đạt (LDP
2
: 12 cm).
Sau 7,5 tháng cắm hom độ dài mầm của các dòng chè đều thấp
4.0
2,1
5,5
5,8
TRI777
5.0
3,7
6,1
7,1
PH1
2.0
-
5,1
7,0
PH1
5.2
2,3
4,3
5,8
LDP
2
(đ/c)
4,0
7,1
9,2
P
trưởng của cây con trong vườn ươm, chúng tôi đã theo dõi một số chỉ
tiêu như chiều cao cây, độ dài nâu hóa, đường kính gốc và số lá của
các dòng chè thí nghiệm. Kết quả được trình bầy ở bảng 3.6:
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng chè đột biến
(Sau giâm 10 tháng)
C.tiêu
C.thức
Chiều cao
cây (cm)
Độ dài nâu
hóa (cm)
Đƣờng
kính gốc
(cm)
Số lá trên
cây (lá)
TRI777
3.5.1
17,7
14,3
0,20
8,2
TRI777
4.0
17,1
11,8
0,21
<0,05
<0,05
>0,05
<0,05
CV%
9,3
12,2
8,0
8,3
LSD.
05
2,67
2,59
0,027
1,34
Qua số liệu bảng 3.6, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Chiều cao cây chè con là một chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh
trưởng của cây chè. Đây là chỉ tiêu chính để đánh giá tiêu chuẩn của
cây xuất vườn. Chỉ tiêu này rất dễ bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh tác
động nhưng trong điều kiện tác động của các yếu tố ngoại cảnh khác
nhau thì sai khác về chiều cao cây do giống quyết định. Trong thí
nghiệm, chiều cao cây của các dòng chè đột biến biến động từ 12,5
cm - 17,7 cm, thấp hơn so với giống đối chứng (LDP
2
: 20,4 cm) ở
mức tin cậy 95 %.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
cậy 95 %.
Qua theo dõi đường kính gốc ở kết quả bảng 3.6 chúng ta
thấy, các dòng chè đột biến
có đường kính gốc biến động từ 0,16
cm - 0,22 cm.
Trong thí nghiệm dòng chè PH1
2.0
có đường kính gốc bé hơn đối
chứng, các dòng chè khác có đường kính gốc tương đương đối chứng
ở mức tin cậy 95 %.
Số lá trên cây của các dòng chè thí nghiệm biến động từ 7,7 lá
- 9,7 lá. Trong đó dòng chè PH12.0 có số lá tương đương với giống
đối chứng, các dòng còn lại có số lá ít hơn giống đối chứng ở mức
tin cậy 95 %.
3.2. Ảnh hƣởng độ chín sinh lý của hom đến khả năng giâm cành
của 05 dòng chè đột biến có triển vọng
3.2.1. Khả năng bật mầm
Theo dõi chỉ tiêu này của các dòng chè đột biến với 3 loại hom
khác nhau chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.7:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
Bảng 3.7: Tỷ lệ hom bật mầm của các dòng chè đột biến
Đơn vị: %
C.tiêu
C.thức
Sau cắm
hom
63,3
93,3
100
Hom nâu
74,8
96,7
100
TRI777
5.0
Hom xanh
80,0
100
100
Hom ½ nâu
63,3
92,5
100
Hom nâu
72,2
100
100
PH1
2.0
Hom xanh
43,5
71,5
100
Hom ½ nâu
68,1
100
93,3
Hom nâu
48,4
80,0
100
P
>0,05
CV%
5,1
LSD.
05
8,37
Số liệu bảng 3.7 cho thấy, các dòng chè đột biến khác nhau có
tỷ lệ bật mầm khác nhau và trên mỗi dòng chè đột biến thì với 3 loại
hom giâm khác nhau cũng cho tỷ lệ bật mầm khác nhau qua các
tháng theo dõi.
Tỷ lệ bật mầm tăng lên sau cắm hom 4,5 tháng, biến động từ
62,9 % - 100 % của các dòng chè thí nghiệm.
Hom ½ nâu
96,7
90,0
86,7
Hom nâu
90,0
80,0
80,0
TRI777
4.0
Hom xanh
100
96,7
96,7
Hom ½ nâu
100
96,7
96,7
Hom nâu
96,7
96,7
93,3
TRI777
5.0
Hom xanh
100
100
100
Hom ½ nâu
93,3
90,0
86,7
Hom nâu
96,7
86,7
86,7
LDP
2
(đ/c)
Hom xanh
96,7
90,0
83,3
Hom ½ nâu
93,3
86,7
86,7
Hom nâu
86,7
80,0
76,7
P
>0,05
CV%
Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng cây trong vườn ươm của các
dòng chè đột biến với 3 loại hom khác nhau (Hom xanh, Hom ½
xanh, Hom nâu) chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.9:
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng chè đột biến
(Sau giâm 10 tháng)
C.tiêu C.thức
Chiều cao cây (cm)
Độ dài nâu hóa (cm)
Đƣờng kính gốc (cm)
Số lá trên cây (lá)
Hom
xanh
Hom
½
nâu
Hom
nâu
Hom
xanh
Hom
½
nâu
Hom
nâu
Hom
xanh
Hom
16,3
14,8
8,6
12,6
9,4
0,16
0,20
0,19
7,1
7,4
7,9
TRI777
5.0
11,7
10,6
13,7
7,9
7,7
11,2
0,16
0,15
0,18
7,3
7,2
9,4
PH1
2.0
10,2
LDP
2
(đ/c)
10,5
13,7
16,9
8,5
11,9
12,5
0,17
0,16
0,17
7,2
8,6
11,3
P
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
CV%
7,9
8,5
8,4
11,7
LSD.
05
1,58
1,24
0,023
được kết quả ở bảng 3.10:
Bảng 3.10: Tỷ lệ hom bật mầm của các dòng chè đột biến
Đơn vị: %
C.tiêu C.thức
Sau cắm hom
4 tháng
Sau cắm hom
4,5 tháng
Sau cắm hom
5 tháng
Không
bón
Bón
phân
%
Tăng
Khôn
g bón
Bón
phân
%
Tăng
Khôn
g bón
Bón
phân
%
>0,05
CV% 5,3
LSD.
05 10,1
Số liệu bảng 3.10 cho thấy, tỷ lệ bật mầm của 2 dòng chè đột
biến ở công thức bón phân cao hơn công thức không bón phân qua
các lần theo dõi.
Sau 4 tháng cắm hom tỷ lệ bật mầm của dòng chè PH1
2.0
ở công
thức bón phân đã tăng 19 % so với công thức không bón phân, tương
tự như vậy ở dòng chè TRI777
3.5.1
công thức bón phân tỷ lệ bật mầm
cao hơn 4 % so với không bón phân.
Sau cắm hom 4,5 tháng tỷ lệ bật mầm tăng lên ở các công
thức thí nghiệm. Đối với dòng chè TRI777
3.5.1
ở 2 công thức có
bón phân và không bón phân chênh lệch không đáng kể (90,7 % -
91,5 %), sự chênh lệch giữa bón phân và không bón phân của
dòng chè PH1
%
Không
Bón
%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
bón
phân
Tăng
bón
phân
Tăng
bón
phân
Tăng
TRI777
3.5.1
98,9
97,8
-1
95,6
94,4
-1
95,6
93,3
-2
PH1
phân có tỷ lệ sống như nhau).
3.3.3. Động thái tăng trưởng chiều dài mầm
Theo dõi độ dài mầm của các dòng chè đột biến chúng tôi thu
được kết quả ở bảng 3.12:
Bảng 3.12: Độ dài mầm của các dòng chè đột biến
Đơn vị: cm
C.tiêu C.thức
Sau cắm hom
5 tháng
Sau cắm hom
6,5 tháng
Sau cắm hom
7,5 tháng
Khôn
g bón
Bón
phân
%
Tăng
Không
bón
Bón
phân
%
Tăn
g
Không
<0,05
CV% 5,8
LSD.
05 1,29
Số liệu bảng 3.12 cho thấy, độ dài mầm của các dòng chè
đột biến ở công thức bón phân cao hơn so với công thức không
bón phân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
Sau cắm hom 5 tháng độ dài mầm của dòng chè PH1
2.0
ở công
thức không bón phân còn rất ngắn chưa đo được, trong khi đó ở công
thức bón phân độ dài mầm đạt 3,6 cm. Dòng chè TRI777
3.5.1
ở công
thức bón phân có chiều dài mầm đạt 4,8 cm tăng hơn so với không
bón 46 %.
Sau 6,5 tháng cắm hom độ dài mầm chè các công thức thí
nghiệm dài hơn đạt 6,4 cm - 10,1 cm (ở công thức không bón phân)
5 tháng
Sau cắm hom
6,5 tháng
Sau cắm hom
7,5 tháng
Không
bón
Bón
phân
%
Tăng
Không
bón
Bón
phân
%
Tăng
Không
bón
Bón
phâ
n
%
Tăng
TRI777
3.5.
1
2,3
3,9
19
LSD.
05 0,66
Số liệu bảng 3.13 cho thấy, số lá trên cây của các dòng chè đột
biến ở công thức thí nghiệm tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng.
Sau cắm hom 5 tháng số lá ở công thức có bón phân của 2 dòng
chè thí nghiệm biến động từ 2,6 lá (PH1
2.0
) đến 3,9 lá (TRI777
3.5.1
).
Trong khi đó công thức không bón phân lá chưa xuất hiện (dòng chè
PH1
2.0
) đến 2,3 lá (TRI777
3.5.1
).
Số lá chè ở các dòng tăng lên sau 6,5 tháng cắm hom đạt 5,1 lá -
7,4 lá (công thức có bón phân) và từ 4,5 lá - 5,7 lá (công thức không
bón phân).
Giai đoạn 7,5 tháng sau cắm hom công thức không bón phân số
lá của 2 dòng chè thí nghiệm tương đương nhau, nhưng khi có bón
phân dòng chè TRI777
3.5.1
có số lá nhiều hơn không bón và nhiều hơn
dòng chè PH1
2.0
%
Tăng
Không
bón
Bón
phân
%
Tăng
TRI777
3.5.1
19,7
21,4
8
14,5
17,9
19
0,17
0,19
11
8,5
10,9
22
PH1
2.0
12,8
16,2
21
8,9
20
chè PH1
2.0
(từ 12,8 cm - 16,2 cm) và các công thức có bón phân chiều
cao cây cao hơn công thức không bón, chắc chắn ở mức tin cậy 95 %.
Tương tự như vậy đối với độ dài nâu hóa có sự sai khác giữa 2
dòng chè thí nghiệm và 2 công có thức bón phân và không bón phân
ở mức tin cậy 95 % (dòng chè TRI777
3.5.1
: 14,5 cm - 17,9 cm và dòng
chè PH1
2.0
: 8,9 cm - 6,7 cm).
Đường kính gốc của các dòng chè giâm cành khi không bón
phân sai khác có ý nghĩa thống kê (dòng TRI777
3.5.1
: 0,17 cm; dòng
PH1
2.0
: 0,14 cm), nhưng khi được bón phân thì đường kính gốc tương
đương nhau (0,19 cm) giữa 2 dòng và cao hơn công thức không bón
phân ở mức tin cậy 95 %.
Số lá của dòng chè TRI777
3.5.1
(8,5 lá) tương đương với dòng
chè PH1
2.0
(9,5 lá) khi không bón phân. Khi được bón phân số lá của
dòng chè TRI777
2- Việc sử dụng các loại hom khác nhau trong giâm cành của
các dòng chè đột biến phụ thuộc vào đặc tính của từng dòng. Trong
thí nghiệm dòng chè TRI777
3.5.1
, PH1
2.0
, PH1
5.2
hom xanh là tốt nhất;
dòng chè TRI777
4.0
hom ½ nâu là tốt nhất; và dòng chè TRI777
5.0
hom nâu là tốt nhất.
3- Khả năng nhân giống vô tính bằng giâm cành của 2 dòng chè
đột biến tốt hơn khi có bón bổ sung phân hữu cơ ANHUMIX 30-10-
10+TE (sau 10 tháng cắm hom: chiều cao cây của dòng chè PH1
2.0
tăng lên 21 %, dòng chè TRI777
3.5.1
tăng lên 8 %; đường kính gốc của
dòng chè PH1
2.0
tăng lên 26 %, dòng chè TRI777
3.5.1
tăng lên 11 %).
2. Đề nghị
- Khi giâm cành các dòng chè đột biến cần bón bổ sung phân hữu
cơ theo quy trình hiện hành.
- Các dòng chè đột biến có khả năng nhân giống không cao, cần