Nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè bát tiên tại huyện bát xát lào cai - Pdf 23


Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii

TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
VIỆN ðÀO TẠO SAU ðẠI HỌC
NGUYỄN THÁI SƠN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH BẰNG
PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH GIỐNG CHÈ BÁT TIÊN
TẠI HUYỆN BÁT XÁT - LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số : 60.62.01.10 Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. VŨ QUANG SÁNG HÀ NỘI - 2013

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii


Tôi xin ghi nhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân ñã dành cho
tôi sự giúp ñỡ quý báu ñó.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp ñỡ
nhiệt tình của TS. Vũ Quang Sáng là người trực tiếp hướng dẫn và giúp ñỡ tôi
về mọi mặt ñể tôi hoàn thành ñề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến ñóng góp quý báu của các thầy,
cô trong khoa Nông học, các thầy cô trong Viện ðào tạo Sau ñại học.
Tôi xin cảm ơn sự giúp ñỡ người dân huyện Bát Xát ñã tạo ñiều kiện
giúp tôi thực hiện ñề tài này.
Cảm ơn sự cổ vũ, ñộng viên và giúp ñỡ của gia ñình, người thân, bạn bè
trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thái Sơn

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iv

MỤC LỤC Lời cam ñoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
1 MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1

4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng tái sinh
của cành giâm chè Bát Tiên 42
4.2.1 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng ra mô sẹo
của giống chè Bát Tiên 42
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành
giâm chè Bát Tiên 44
4.2.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến số lượng rễ và chiều
dài rễ của cành giâm chè Bát Tiên 46
4.2.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến khả năng hình thành
chồi của cành giâm chè Bát Tiên 49
4.3 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến khả năng
tái sinh của cành giâm chè Bát Tiên 52
4.3.1 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến khả năng
ra mô sẹo của giống chè Bát Tiên 52
4.3.2 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ
của cành giâm chè Bát Tiên 53
4.3.3 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ
và chiều dài rễ của cành giâm chè Bát Tiên 55

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi

4.3.4 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình
thành chồi của cành giâm chè Bát Tiên 57
4.4 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến khả năng tái sinh của cành giâm
chè Bát Tiên 58
4.4.1 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến khả năng ra mô sẹo của giống
chè Bát Tiên 58
4.4.2 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành
chồi của cành giâm chè Bát Tiên 60

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
viii

DANH MỤC BẢNG

STT TÊN BẢNG TRANG

2.1 Các nhóm ñất chính của huyện Bát Xát 16
4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng ñến tỷ lệ sống (%) của cành
giâm chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 39
4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ mô sẹo của
giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 42
4.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm
cây chè Bát Tiên 44
4.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến số lượng rễ và chiều dài rễ
của cành giâm chè Bát Tiên 46
4.5 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ hình thành chồi
của cành giâm chè Bát Tiên 49
4.6 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ mô
sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 52
4.7 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ
của cành giâm cây chè Bát Tiên 54
4.8 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ
và chiều dài rễ của cành giâm chè Bát Tiên 55
4.9 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình
thành chồi của cành giâm chè Bát Tiên 57
4.10 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ mô sẹo của giống chè Bát


DANH MỤC HÌNH

STT TÊN HÌNH TRANG

4.1 Ảnh hưởng của biện pháp khử trùng ñến tỷ lệ sống (%) của cành
giâm chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 40
4.2 Ảnh hưởng của các nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ mô sẹo của
giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 43
4.3 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến tỷ lệ ra rễ của cành giâm
cây chè Bát Tiên 45
4.4 Ảnh hưởng của nồng ñộ α-NAA ñến số lượng rễ của cành giâm
chè Bát Tiên 47
4.5 Ảnh hưởng của nồng ñộ chất α-NAA ñến tỷ lệ hình thành chồi
của cành giâm chè Bát Tiên 50
4.6 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ mô
sẹo của giống chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 53
4.7 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ ra rễ
của cành giâm cây chè Bát Tiên 55
4.8 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến số lượng rễ
của cành giâm chè Bát Tiên 56
4.9 Ảnh hưởng của một số chế phẩm giâm chiết cành ñến tỷ lệ hình
thành chồi của cành giâm chè Bát Tiên 58
4.10 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến tỷ lệ ra rễ và tỷ lệ hình thành
chồi của cành giâm cây chè Bát Tiên tại Bát Xát - Lào Cai 61
4.11 Ảnh hưởng của tuổi cây mẹ ñến số lượng rễ của cành giâm chè
Bát Tiên 63
4.12 Ảnh hưởng của vị trí hom trên cành ñến tỷ lệ ra rễ của cành
giâm cây chè Bát Tiên 66


biện pháp kỹ thuật tác ñộng của con người ñặc biệt là vấn ñề giống chè.
Nước ta là một trong những cái nôi sản sinh ra cây chè, người Việt Nam
ñã có tập quán trồng, chế biến chè và uống các loại chè từ xa xưa. Chính vì vậy
mà thực dân Pháp sau khi xâm lược ñược nước ta ñã thành lập các công ty kinh
doanh chè và tổ chức các trại nghiên cứu chè (ðoàn Hùng Tiến, 1998).
Ngày nay, ngành chè của nước ta ñang tiếp tục phát triển. Các tiến bộ
khoa học kỹ thuật mới ñã và ñang nhanh chóng ñược ñưa vào áp dụng trong
sản xuất nhằm nâng cao năng suất chè tươi và chất lượng của chè thành phẩm,
nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành chè (ðỗ Văn Ngọc và cộng sự, 1994). Sự
phát triển của cây chè trong những năm gần ñây ñã góp phần xóa ñói giảm
nghèo, phân bố lại lao ñộng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hàng chục
vạn hộ gia ñình. Tuy nhiên do còn nhiều tồn tại trong canh tác mà năng suất,
chất lượng chè của ta còn thấp (Viện Nghiên cứu chè, 2002). Theo báo cáo

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2

của Hiệp hội Chè Việt Nam, tính ñến năm 2009 tổng diện tích chè của nước ta
là 131 nghìn ha, trong ñó có 117 nghìn ha chè sản xuất kinh doanh cho thu
hoạch với năng suất ñạt 65 tạ/ha, ñạt tổng sản lượng trên 760 nghìn tấn búp
tươi, xuất khẩu ñược 130 nghìn tấn chè khô, ñứng hàng thứ 5 trên giới về xuất
khẩu chè. Chè Việt Nam ñã có mặt trên 110 quốc gia và vùng lãnh thổ trên
thế giới (Lê Doãn Diên, 2003).
Theo chủ trương của chính phủ và Hiệp hội Chè Việt Nam quy hoạch
phát triển ngành chè ñến năm 2015 ñạt tổng diện tích 150 nghìn ha. Phát triển
các giống chè ñặc sản, chè chất lượng cao, sử dụng giống mới có chất lượng và
áp dụng công nghệ thâm canh cao. ðể ñạt ñược mục tiêu ñề ra như trên thì vấn
ñề cấp thiết ñặt ra hàng ñầu chính là tìm nguồn cung cấp giống chè có chất
lượng ñể giảm chi phí cũng như ñảm bảo năng suất và chất lượng chè. Hiện
nay chúng ta ñã và ñang áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào

lượng chè búp tươi ñạt khoảng 28.000 tấn/năm. ðồng thời cải tạo, nâng cấp các
cơ sở chế biến ñể có ñủ công suất và ñảm bảo quy trình chế biến tiên tiến, ñáp
ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm [36].
Cùng với việc mở rộng vùng nguyên liệu và thâm canh tăng năng suất,
tỉnh sẽ chỉ ñạo ứng dụng công nghệ sản xuất mới áp dụng quy trình thực hành
nông nghiệp tốt trong sản xuất sơ chế sản phẩm chè (theo tiêu chuẩn VietGAP),
xây dựng ñăng ký thương hiệu sản phẩm làm khâu ñột phá ñể nâng cao giá trị
sản xuất chè trên một ñơn vị diện tích. Có như vậy, sản phẩm chè sẽ tăng ñược
giá bán và sức cạnh tranh trên thị trường.
Muốn vậy, vấn ñề ñặt ra là phải ñẩy mạnh chuyển ñổi cơ cấu giống chè
bằng cách tăng nhanh diện tích các giống chè chất lượng cao, giá thành cây
con thấp và có thế cung cấp tại chỗ ñể giảm chi phí cho việc trồng mới. ðể
ñảm bảo muc tiêu này thì phương pháp nhân giống vô tính bằng giâm cành
cần ñược lựa chọn, từ ñó có thể ñáp ứng ñược về cây giống, do phương pháp
này dễ thực hiện, không ñòi hỏi trình ñộ cao có thể phổ biến rộng cho bà con

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4

thực hiện… Tuy nhiên vấn ñề ñặt ra là cần thiết phải xây dựng ñược một quy
trình nhân giống vô tính hợp lý, làm tăng tỷ lệ sống, tăng tỷ lệ xuất vườn, hạ
giá thành cây con. Cây con sau khi trồng có khả năng chịu hạn tốt, tỷ lệ sống
cao, giảm chi phí trồng mới, như vậy mới nhanh chóng trẻ hóa các vườn chè
bằng giống mới từ ñó sẽ nâng cao năng suất, phẩm chất, nâng cao hiệu quả
kinh tế của sản xuất chè ở Lào Cai.
ðể góp phần xây dựng quy trình nhân giống vô tính phù hợp cho cây
chè với ñiều kiện của Lào Cai, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên
cứu khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành giống chè
Bát Tiên tại huyện Bát Xát - Lào Cai”.
1.2. Mục ñích, yêu cầu của ñề tài

có chất lượng, số lượng nhiều phục vụ nhu cầu sản xuất ngày càng tăng và
nhanh chóng ñưa các giống chè mới năng suất cao, chất lượng tốt thay thế các
giống chè cũ năng suất thấp, chất lượng kém ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của ñề tài
Cây chè ñã ñược trồng tại Lào Cai gần 100 năm nay. Hiện nay có
những vườn chè trồng bằng hạt có tuổi trên 50 năm vẫn ñang sinh trưởng tốt.
Các vườn chè trồng bằng cành giâm từ năm 1980 tới nay vẫn ñang cho năng
suất từ 12 - 13 tấn búp tươi/ha. Trong ñiều kiện sinh thái của Lào Cai, cây chè
sinh trưởng tốt, cho năng suất và chất lượng cao. ðiều kiện khí hậu và ñất ñai
của Lào Cai có thể cho phép mở rộng phát triển chè trên quy mô lớn. Chất
lượng sản phẩm chè sản xuất ra có thể ñáp ứng ñược nhu cầu tiêu thụ trong và
ngoài nước [28].
Cây chè là cây giao phấn, vì thế việc trồng chè bằng hạt có nhược ñiểm
là vườn cây sinh trưởng không ñồng ñều, năng suất không ổn ñịnh, chất lượng
không cao, việc chăm sóc, thu hái, chế biến gặp nhiều khó khăn. Các thành
tựu nghiên cứu về nhân giống vô tính, kết hợp với các tiến bộ kỹ thuật mới về
chọn tạo giống, nhân giống chè trong nước cũng như trên thế giới cho phép
chúng ta cần phải tiến hành nghiên cứu phương pháp nhân giống vô tính thích
hợp thay cho phương pháp gieo trồng bằng hạt ñối với cây chè tại Lào Cai.
Các nghiên cứu về nhân giống vô tính bằng kỹ thuật ghép cho thấy: bộ
rễ của cây chè ghép có khả năng sinh trưởng mạnh nên nâng cao khả năng
sinh trưởng, khả năng cho năng suất và khả năng chống chịu của cây.
2.2. Giới thiệu chung về cây chè

ứng rộng. Nó có thể sinh trưởng và cho sản phẩm trong những ñiều kiện khắt khe
về thời tiết cũng như trên những vùng ñất dốc nghèo dinh dưỡng. Do vậy, chè là
cây có thể trồng ñược ở vùngñất dốc của miền núi và trung du, nếu ñược ñầu tư
thích ñáng thì cây chè là cây xóa ñói giảm nghèo, cũng là cây làm giàu,góp phần
phát triển kinh tế nông thôn ở vùng trung du và miền núi nước ta (ðỗ Ngọc Quỹ,
1980). Mặt khác, trồng chè còn cần nhiều lao ñộng, phát triển cây chè là giải pháp

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8

ñiều hòa lao ñộng, góp phần giải quyết việc làm, thúc ñẩy vùng trung du miền núi
phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, mau chóng ñuổi kịp miền xuôi.
2.3. Nguồn gốc và phân loại cây chè
2.3.1. Nguồn gốc của cây chè
Nguyên sản của cây chè là ở châu Á, nhưng vùng xuất xứ của cây chè ở
châu Á vẫn không nhất quán giữa các nhà khoa học trong một thời gian dài.
Năm 1753, khi xuất bản cuốn sách về các loại cây và lập ra danh mục tất cả
các loài thực vật ñã biết, Linne cho rằng có hai giống Thea và Camellia gồm
những cây dung ñể pha chè và theo ông giống Thea chỉ có một loài là Thea
sinensis. Năm 1762 ông lại cho rằng có hai loài, một ñể chế biến chè xanh và
một ñể chế biến chè ñen (Thea viridis và Thea bohea). Tới lúc này, người ta
vẫn chỉ hiểu rằng quê hương của cây chè là ở Trung Quốc. Nó là một loại cây
nhỏ, lá nhỏ như những cây bụi (trích theo Chu Y.Y., 1988)
Năm 1823, một học giả người Anh tên là Bruce ñã phát hiện ra những
rừng chè dại cao 17-20m ở vùng Sadiya thuộc vùng Assam -Ấn ðộ. Từ ñó có
ý kiến cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn ðộ. Tiếp sau ñó các rừng chè
lại ñược tìm thấy ở Miến ðiện, Việt Nam, Lào, thượng nguồn sông Mê Kông
và Vân Nam – Trung Quốc. Do ñó có ý kiến cho rằng những rừng chè mới
tìm thấy này chỉ là do con người trồng và bỏ hoang, nhưng quan ñiểm này vẫn
không ñược mọi người chấp nhận (ðặng Hanh Khôi, 1983).

bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30cm
2
, có 8 - 9 ñôi gân lá, lá màu xanh
nhạt, búp có khối lượng 0,5 - 0,6g
* Chè Shan (Camellia sinesis var. Shan)
Thuộc dạng cây thân gỗ cao 6 - 10m. Diện tích lá lớn hơn 50cm
2
, lá
hình thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 ñôi gân lá. Búp to nhiều tuyết, khối
lượng búp khoảng 1 - 1,2g.
* Chè Ấn ðộ (Camellia sinesis var. Assamica)

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
10

Cây có dạng thân gỗ cao trên 10m. Phân cành thưa, lá hơi tròn mặt lá
gợn song gồ ghề, diện tích lá khoảng 40cm
2
, có 12 - 15 ñôi gân lá. Búp lớn có
khối lượng 0,9 - 1g; búp tròn, chống chịu rét kém và thích ñất tốt.
2.4. Một số ñặc ñiểm của cây chè Bát Tiên
Cây chè Bát Tiên có nguồn gốc từ ðài Loan, ñặc ñiểm hình thái của cây
chè là thân tán bụi, tán hơi xòe, lá mỏng khá to (dài 10,5cm, rộng 5,5cm), có 8
ñôi gân lá màu vàng hơi ím, thế lá rủ, mép gợn sóng, răng cưa nhỏ thưa, màu
xanh nhạt, non hơi phớt tím, trọng lượng búp 1 tôm 2 lá là 0,52- 0,57g. Chè Bát
Tiên có khả năng chống sâu bệnh khá, chống hạn trung bình
Năng suất của chè 8 tuổi trồng ở Tuyên Quang ñạt 6 tấn/ha, chè 4 tuổi
tại Lạng Sơn năng suất ñạt 5,5 tấn/ha.
Giá trị dinh dưỡng của chè Bát Tiên: chè bát tiên có hàm lượng tanin và
chất hòa tan rất cao. Hàm lượng một số chất như axit amin tổng số là 1,72%;

(ðông A Sáng, 2004). Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) cho biết, phần lớn các
vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giới thường có ñộ cao
cách mặt biển từ 500m ñến 800m. Vùng trồng chè ngon nổi tiếng của Ấn ðộ
trồng ở ñộ cao cách mặt biển 2000m, Sri Lanka chia thành 3 vùng chè là vùng
thấp dưới 600m, vùng giữa 600 - 1200m và vùng cao là 1200 - 1800. Chè
vùng cao tuy có sản lượng thấp nhưng lại có chất lượng cao và giá bán cao
(Nguyễn Ngọc Kính, 1979).
ðịa hình Bát Xát ñược kiến tạo bởi nhiều dải núi cao, cao dần theo
hướng Tây Bắc, ñiểm cao nhất có ñộ cao 2.945 m, ñiểm thấp nhất có ñộ cao
88 m (so với mặt nước biển). ðịa hình Bát Xát hình thành hai khu vực:
- Vùng thấp (ven sông Hồng): Gồm 6 xã và một thị trấn, là nơi tập
trung các dải ñồi thấp, thoải, ñịa hình tương ñối bằng phẳng. Diện tích của
vùng trên 21.500 ha, chiếm 20.25% diện tích ñất toàn Huyện. ðộ cao trung
bình từ 400-500 m, tương ñối bằng chạy dọc sông Hồng.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
12

- Vùng cao: Gồm 17 xã, là vùng núi cao có ñộ chia cắt lớn, thung lũng
hẹp khe sâu, ñộ ñốc lớn. Diện tích 84.689,7 ha, chiếm 79.75% diện tích ñất
toàn Huyện. Vùng này có ñộ cao từ 400 m ñến 3096 m, ñộ dốc trung bình từ
20
o
ñến 25
o
. Do vùng có ñịa hình chia cắt mạnh, ñộ dốc lớn ñã gây hạn chế
trong sản xuất nông, lâm nghiệp và ñầu tư cơ sở hạ tầng (Hoàng Minh Tấn và
CS, 2006).
Khí hậu- Thuỷ văn
Nhiệt ñộ là một nhân tố sinh thái quan trọng ñối với cây trồng. Nhiệt ñộ

Chè là cây lâu năm có bộ rễ khỏe, có yêu cầu cao về oxy. Trong ñiều
kiện ñất thông thoáng, ñầy ñủ dinh dưỡng, bộ rễ chè sẽ phát triển khỏe, hút
nước và dinh dưỡng tốt, làm cho cây sinh trưởng tốt, năng suất cao và kéo dài
thời gian thu hoạch (ðỗ Ngọc Quỹ, 1980).
Theo kết quả ñiều tra xây dựng bản ñồ thổ nhưỡng Lào Cai năm 1972
và báo cáo khoa học (ñất Lào Cai) do Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công
nghệ Quốc gia thuộc Viện ðịa lý xây dựng năm 1996 cho thấy huyện Bát Xát
có tổng diện tích tự nhiên 106.188,72 ha. Trong ñó có 8 nhóm ñất chính với
15 loại ñất sau:
- Nhóm ñất mùn thô trên núi cao 25,39 ha chiếm 0,02% diện tích tự
nhiên, loại ñất này chủ yếu ñược phân bố ở các ñỉnh núi cao trên 2800 m
(vùng Trung Lèng Hồ, Sàng Ma Sáo) ñược hình thành trong ñiều kiện khí hậu
quanh năm rét khô, phân bố không tập trung, có nhiều ñá nổi xen kẽ.
- Nhóm ñất mùn Alít trên núi cao 1513,1 ha chiếm 1,42% diện tích tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở ñộ cao từ 1800 - 2800m khu vực phía tây và phía
bắc huyện. Như khu vực Hồng Ngài (Y Tý), Mào Mù Sủi (Sàng Ma Sáo).
Loại ñất này tầng mùn dày thành phần cơ giới thịt nhẹ, ñộ ẩm cao, ở những
nơi quá trình rửa trôi mạnh, ñá nổi xen kẽ nhiều hoặc vách ñá dựng ñứng rải
rác. Thực vật chủ yếu cây họ thông, sồi, giẻ. Vùng ñất tầng dày dưới 26cm
thường có màu xám ñen, từ 26 - 73cm có màu xám vàng, từ 73 - 120cm có
màu vàng ñỏ.

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14

- Nhóm ñất mùn vàng ñỏ trên núi cao 34956,66 ha chiếm 32,92% diện
tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở ñộ cao từ 900 - 1800m gồm các loại ñất sau:
+ ðất mùn vàng ñỏ trên ñá sét (HFs) diện tích 514,45 ha chiếm 0,48%
diện tích ñất tự nhiên,phân bố rải rác trên núi có ñộ cao từ 1200 -1800 m
(thuộc các xã: A Lù, A Mú Sung, Trịnh Tường) loại ñất này ñược hình thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status