DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố các mẫu giống Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) trong tập đoàn
theo vùng sinh thái Error: Reference source not found
Bảng 4.1. Kết quả ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl
2
0,1% đến hiệu
quả vô trùng vật liệu nuôi cấy chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) Error:
Reference source not found
Bảng 4.2. Kết quả ảnh hưởng của môi trường MS, B5, WPM đến khả năng tái
sinh chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) Error: Reference source not
found
Bảng 4.3. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ GA
3
đến khả năng bật chồi Khoai mỡ
(Dioscorea alata L.) (sau 30 ngày nuôi cấy) Error: Reference source not
found
Bảng 4.4. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh chồi
Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) (sau 30 ngày nuôi cấy) Error: Reference
source not found
Bảng 4.5. Kết quả ảnh hưởng của sự kết hợp giữa BA kết hợp với nồng độ
Kinetin đến khả năng nhân nhanh chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.)
(sau 30 ngày nuôi cấy) Error: Reference source not found
Bảng 4.6. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của cây
Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) (sau 30 ngày nuôi cấy) Error: Reference
source not found
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ quá trình phân hóa và phản phân hóa của Tế bào Thực vật. Error:
Reference source not found
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl
2
0,1% đến
IBA : Indole-3-Butyric acid
Kinetin : 6-Furfurylaminopurine
LS : Linsmaier & Skoog
LSD : Least Significant Difference
MS : Murashige and Skoog’s
NAA : -Naphlene Axetic acid
TN : Thí nghiệm
WP : Mc Cown & Lloyd
WPM : Woody Plant Medium (Lloyd & McCown, 1980)
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
PHẦN 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
2.2.1. Khái niệm về nuôi cấy mô tế bào thực vật 7
Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người nhật Kurosawa
(1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm Gibberella Fujikuroi gây ra. Năm
1939 đã tách chiết được Gibberellin từ nấm G. Fujikuroi và được gọi là
Gibberellin A. Gibberellin có tác dụng kéo dài tế bào, nhất là thân và lá vì vậy khi
xử lý với các cây đột biến lùn và các cây này có thể khôi phục lại bình thường.
Các nghiên cứu tiếp theo khám phá ra trong cơ thể thực vật cũng có các chất
giống như Gibberellin cả về cấu tạo và tác dụng. Những chất này đặt tên theo thứ
tự là A1, A2, A3 và A4. Do Gibberellin tồn tại trong thực vật, nó tham gia vào
các quá trình sinh trưởng và phát triển trong sự tương tác với các chất điều hoà
sinh trưởng khác [2], [13]. Trong cây Gibberellin được tổng hợp ở lá đang phát
triển, quả và rễ sau đó được vận chuyển đi khắp nơi trong cây và có nhiều trong
xylem [15] 12
e) Các chất bổ sung 12
2.5. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước 15
3.3. Hóa chất và thiết bị 19
chiều cao thân 8-10 cm chuyển sang môi trường ra rễ. Môi trường ra rễ dựa trên
MT nền có bổ sung các nồng độ NAA khác nhau để kích thích tạo rễ bất định,
hình thành cây con hoàn chỉnh. 24
Hệ số nhân chồi (lần) 25
= 25
Tổng số chồi tạo thành (chồi) 25
Tổng số chồi nuôi cấy ban đầu (mẫu) 25
Số rễ trung bình/cây (rễ) 25
= 25
Tổng số chồi ra rễ (rễ) 25
Tổng số chồi nuôi cấy (mẫu) 25
4.1. Kết quả ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1% đến hiệu quả
vô trùng vật liệu nuôi cấy chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) 27
Ghi chú: *: Sai khác có ý nghĩa ở mức độ tin cậy 95% 27
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1%
đến hiệu quả vô trùng vật liệu nuôi cấy chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) 28
-Từ bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy: 28
Tỷ lệ mẫu sống không nhiễm: Với giá trị LSD.05 đạt 7,43 các công thức khác
nhau đều có sự sai khác có ý nghĩa ở mức độ tin cậy 95%. Tỷ lệ mẫu sống không
nhiễm cao nhất ở CT4 khi khử trùng bằng dung dịch HgCl2 0,1% trong 7 phút
đạt 73,33%. Thấp nhất ở công thức Đ/C (đối chứng) với 0%. Với thời gian khử
trùng từ 0-7 phút thì tỷ lệ mẫu sống không nhiễm tăng dần từ 0-73,33%; Còn từ
7-10 phút thì tỷ lệ mẫu sống không nhiễm bắt đầu giảm xuống chỉ còn 65%. tỷ lệ
mẫu nhiễm thấp nhất 5% 28
Tỷ lệ mẫu chết: Với giá trị LSD.05 đạt 2,35 các công thức khác nhau đều có sự
sai khác có ý nghĩa ở mức độ tin cậy 95%. CT5 tỷ mẫu chết cao nhất đạt
30%.Thấp nhất ở công thức Đ/C (đối chứng) với 0%, tiếp theo CT4 đạt 10%. . 28
Sử dụng HgCl2 0,1% ở các mức thời gian khác nhau thì cho hiệu quả khử trùng
(khả năng diệt trừ nấm, vi khuẩn) khác nhau 28
- Kết quả trên được giải thích như sau: Gốc Hg2+ có hoạt tính, tính khử trùng
chung chúng đều gồm thành phần khoáng, chất kích thích sinh trưởng, nguồn các
bon, các vitamine Các môi trường khác nhau đều thay đổi thành phần nồng độ
các chất cơ bản trong môi trường. Để tìm ra môi trường thích hợp chúng tôi tiến
hành thử nghiệm trên 3 loại môi trường đó là: 30
- Môi trường giàu dinh dưỡng (MS); 30
- Môi trường trung bình (B5); 30
- Môi trường nghèo dinh dưỡng (WPM). 30
Tiến hành theo dõi kết quả sau 20 ngày nuôi cấy, kết quả nghiên cứu được thể
hiện bảng 4.2 và hình 4.2 30
Bảng 4.1. Kết quả ảnh hưởng của thời gian khử trùng bằng HgCl2 0,1% đến hiệu
quả vô trùng vật liệu nuôi cấy chồi Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) (sau 10 ngày
nuôi cấy) 47
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Khoai mỡ (Dioscorea alata L.) thuộc họ Củ nâu (Dioscoreaceae), bộ Củ nâu
(Discoreales), phân lớp Hành (Lilianae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) và giới
thực vật bậc cao có mạch [4]. Là 1 loài trong số 10 loài quan trọng nhất có giá trị
kinh tế của chi Dioscorea, thuộc nhóm cây lấy củ được ghi nhận là một trong những
cây lương thực lâu đời nhất Việt Nam. Thành phần dinh dưỡng của củ Khoai mỡ
gồm có đường, tinh bột, chất xơ và một số loại khoáng chất như P, Ca, Mg, K,
vitamin C, vitamin nhóm B [3]. Đặc biệt củ Khoai mỡ chứa chất Diosgenin được
chiết xuất sử dụng để tổng hợp cortisone, pregnenolone, progesterone và các sản
phẩm steroid khác có hoạt tính estrogen trong sản xuất dược liệu làm giảm
cholesterol trong máu [3]. Và để điều trị khô âm đạo ở phụ nữ lớn tuổi hơn, hội
chứng tiền kinh nguyệt, kinh nguyệt đau, viêm khớp, tăng năng lượng và ổ định tình
dục ở nam giới và phụ nữ, và làm nở ngực [7], [19].
Hiện nay với nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều nhưng việc cung cấp giống
cây Khoai mỡ để trồng chủ yếu do các hộ gia đình làm thủ công theo phương pháp
truyền thống, sau khi thu hoạch Khoai mỡ những củ cái to được bán thương phẩm còn
nhanh chồi Khoai mỡ.
- Xác định được ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của chồi
Khoai mỡ.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra biện pháp tái sinh chồi Khoai mỡ bằng
phương pháp in vitro phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá lại kiến thức đã học vào nghiên cứu
khoa học.
- Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân tích
số liệu, trình bày một bài báo cáo khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn
Hoàn thiện được quy trình nhân nhanh cây Khoai mỡ bằng kỹ thuật in vitro,
để đảm bảo sản xuất được cây con sinh trưởng phát triển tốt, đồng đều và sạch bệnh
với khối lượng lớn, kịp thời phục vụ cho sản xuất. Mặt khác khắc phục được những
khó khăn về diện tích canh tác, điều kiện tự nhiên, công chăm sóc so với phương
pháp nhân giống truyền thống.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về cây Khoai mỡ
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại cây Khoai mỡ
2.1.1.1. Nguồn gốc cây Khoai mỡ
Khoai mỡ thuộc nhóm cây lấy củ được ghi nhận là một trong những cây
lương thực lâu đời nhất ở Việt Nam. Có rất nhiều quan điểm về nguồn gốc cây
Khoai mỡ, tuy nhiên cho đến nay, đa số quan điểm đều cho rằng loài này có nguồn
gốc ở trung tâm Đông Nam Á. Người ta cũng đã xác định được số lượng rất lớn các
giống Khoai mỡ bản địa đã tồn tại và được thuần hóa, trồng trọt từ rất sớm tại các
vùng từ Ấn Độ đến các đảo thuộc Nam Thái Bình Dương [3].
2.1.1.2. Phân loại cây Khoai mỡ
của cây đang phát triển [3].
b) Đặc điểm của thân
Thân có cấu trúc hình dây; Bản thân nó không có khả năng tự đứng mà phải
tựa vào cọc hoặc leo vào giàn. Hầu hết các giống có thân phát triển dài vài mét
trước khi phân nhánh. Thân thường có màu xanh nhưng cánh thỉnh thoảng có màu
đỏ hay tím bởi sự có mặt của chất sắc tố, không có gai, thỉnh thoảng có những nốt
sần con, có tiết diện vuông và có bốn cánh mỏng ở bốn góc với màng chạy dọc theo
chiều dài của thân, khi leo nó thường quấn sang phải [3].
c) Đặc diểm của lá
Lá thuộc loại lá đơn, nhẵn, màu xanh, mọc đối, tuy nhiên một số giống có
hiện tượng mọc cách, thường có hình trứng, hình tim và đỉnh lá thường nhọn.
Những gân lá chính thường xuất phát từ gốc lá, các gân phụ phân bố theo hình mắt
lưới. Màu sắc và kích thước lá biến động khá lớn, phụ thuộc vào giống và điều kiện
4
chăm sóc. Các giống khác nhau về hình dạng lá, được xác định bởi độ rộng và sâu
của gian thùy giữa hai thùy lá. Cuống lá thường dài (6-12 cm) và cánh thường mở
rộng tại gốc [3].
d) Đặc điểm của củ
Củ Khoai mỡ thuộc loại thân củ hình thành từ Hypocotil – vùng giữa thân củ
và rễ (Onwueme, 1986). Củ chia thành 3 phần: phần đầu củ, phần giữa củ và phần
đuôi củ. Củ của cây Khoai mỡ thuộc dạng thân củ ngầm, thường là củ đơn nhưng
thỉnh thoảng có 2-5 củ mọc chụm. Củ có thể phân nhánh hoặc không, thịt củ thường
mịn nhưng đôi khi bị sần sùi, thô ráp. Vỏ củ mỏng, dễ cạo, màu nâu xám hay nâu
đen. Củ của các giống thường khác nhau về hình dạng, kích thước và màu sắc thịt
củ. Củ có hình dạng thay đổi: Hình trứng, hình ôvan, hình trụ dài, hình tù, hình con
rắn, hình bàn tay, hình chân tượng…Tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt.
Khi trong củ không có sắc tố, thịt củ có màu trắng hay kem, nếu có sắc tố biên độ
màu thịt củ biến động từ vàng, hồng tới tím. Ở một số giống chỉ có đường viền
ngoài thịt củ có màu hồng, đỏ hay tím trong khi ở một số giống khác nhau chất sắc
tố phân bố đều khắp củ hoặc không đều từ đầu đến cuối củ [3].
2.1.4.1. Giá trị kinh tế
a) Thành phần dinh dưỡng như sau [3]:
Thành phần Khoai mỡ
Nước (%) 70
Tinh bột (%) 28
Đường (%) 0,7 - 1,0
Chất béo (%) 0,1 - 0,3
Protein thô (%) 1,1 - 2,9
Xơ thô (%) 0,6 - 1,4
Khoáng (%) 0,7 - 2,1
Vitamin C (mg/100g) 5 – 8
Vitamin B
1
(mg/100g) 0,09
Vitamin B
2
(mg/100g) 0,03
Nguồn: Onwueme, I.C. 1978
Củ Khoai mỡ chứa hàm lượng protein thô khá cao, từ 1,1 - 2,9%. Khoảng 85
- 95% lượng đạm có thể được tạo thành 9 axit amin không thay thế, rất cần thiết cho
con người như lizin, treonin, valin, izolơxin, metionin, xittin, phênylalamin, tyrozin
6
và lơxin lượng khoáng (Ca, Fe) và các vitamin như vitamin C, B
1
và B
2
; tuy lượng
thấp nhưng là những chất rất cần thiết cho con người. Hiện nay một số công ty của
Đài Loan, Nhật Bản đang đặt mua Khoai mỡ ruột trắng để chế biến, nhưng với số
khiêm tốn, 1.000 tấn/năm. Thị trường và giá Khoai mỡ tại đồng bằng sông Cửu
bào thực vật. Mỗi tế bào bất kì của cơ thể thực vật đều mang toàn bộ lượng thông
tin di truyền của toàn bộ cơ thể. Trong điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có thể
phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Tính toàn năng của tế bào là cơ sở khoa học
của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Hiện nay, người ta đã thực hiện được
khả năng tạo ra một cơ thể hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ [6].
2.2.2.2. Sự phân hóa và phản phân hóa
Cơ thể thực vật hình thành là một chính thể thống nhất bao gồm nhiều cơ
quan chức năng khác nhau, được hình thành từ nhiều loại tế bào khác nhau. Tuy
nhiên tất cả các loại tế bào đó đều bắt nguồn từ một tế bào đầu tiên (tế bào hợp tử).
Ở giai đoạn đầu, tế bào hợp tử phân chia hình thành nhiều tế bào phôi sinh chưa
mang chức năng riêng biệt (chuyên hóa). Sau đó, từ các tế bào phôi sinh này chúng
tiếp tục được biến đổi thành các tế bào chuyên hóa đặc hiệu cho các mô, cơ quan có
chức năng khác nhau [6].
Sự phân hóa tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào mô
chuyên hóa, đảm bảo các chức năng khác nhau. Quá trình phân hóa tế bào có thể
biểu thị như sau:
Tế bào phôi sinh → Tế bào dãn → Tế bào phân hoá có chức năng riêng biệt
Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hóa thành các tế bào có chức năng chuyên biệt,
chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình. Trong trường hợp cần
thiết, ở điều kiện thích hợp, chúng có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia
mạnh mẽ, quá trình đó gọi là phản phân hóa tế bào, ngược lại với sự phân hóa tế
bào [6]. Sự phân hóa và phản phân hóa được biểu thị bằng sơ đồ:
phân hóa tế bào
tế bào phôi sinh tế bào dãn tế bào chuyên hóa
phản phân hóa tế bào
Hình 2.1. Sơ đồ quá trình phân hóa và phản phân hóa của Tế bào Thực vật
8
Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình hoạt hóa, ức
chế các gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá thể, có một số
gen được hoạt hóa (mà vốn trước nay bị ức chế) để cho ta tính trạng mới, còn một
nitơ là thành phần quan trọng của vitamin, amino acid và protein. Ngoài ra, các
nguyên tố vi lượng như Fe, Zn, Mo, Mn là thành phần của một số enzym cần thiết
cho hoạt động sống của tế bào.
Muối khoáng là thành phần không thể thiếu trong các môi trường nuôi cấy
Tế bào Thực vật, làm vật liệu cho sự tổng hợp các chất hữu cơ, enzym.
Các ion của các muối hoà tan giúp ổn định áp suất thẩm thấu của môi trường
trong tế bào, duy trì điện thế hoá của thực vật. Ví dụ: K, Ca rất quan trọng trong
điều hoà tính thấm lọc của tế bào [2], [14].
b) Các vitamin và acid amin
Ảnh hưởng của các vitamin đến sự phát triển của tế bào nuôi cấy in vitro ở
các loài khác nhau là khác nhau hoặc thậm chí còn có hại (gây độc).
Hầu hết tế bào nuôi cấy đều có khả năng tổng hợp tất cả các loại vitamin cơ
bản nhưng với số lượng dưới mức yêu cầu. Để mô có thể sinh trưởng, tốt nhất phải
bổ sung thêm vào môi trường một hay nhiều loại vitamin và amino acid. Trong các
loại vitamin, B1 được xem là vitamin quan trọng nhất cho sự phát triển của thực vật.
B3 và B6 cũng có thể được bổ sung vào môi trường nuôi cấy nhằm tăng cường sức
sống cho mô [2], [14].
c) Nguồn cacbon
Khi nuôi cấy in vitro, các tế bào thực vật thường không có khả năng quang hợp,
do đó đòi hỏi phải cung cấp nguồn cacbon cho các hoạt động dinh dưỡng của tế bào.
Nguồn cacbon được ưa chuộng nhất hiện nay trong nuôi cấy là đường
saccarose, một số trường hợp sử dụng glucose và fructose thay thế cho saccarose
nhưng chúng thường nghèo hydrat cacbon so với nhu cầu của thực vật.
Ngoài ra, khi khử trùng môi trường, cần chú ý không nên kéo dài thời gian
để tránh xảy ra hiện tượng caramen hoá, làm cho môi trường chuyển sang màu vàng
dẫn đến ức chế sự sinh trưởng và phát triển của tế bào [2], [14].
d) Các chất điều hòa sinh trưởng
Chất điều hòa sinh trưởng hoạt động với liều lượng rất thấp, ở liều cao chúng trở
nên độc. Các chất điều hòa nội sinh có thể được kiểm soát do cơ chế chuyển hóa
của tế bào nên chúng được kiểm soát hoặc đào thải khá nhanh. Trái lại các chất điều
các hormon ngoại sinh và nội sinh. Tác động phối hợp của Auxin và Cytokinin có
tác dụng quyết định đến sự phát triển và phát sinh hình thái của tế bào và mô.
Những nghiên cứu của Skoog cho thấy tỷ lệ Auxin/Cytokinin cao thì thích hợp cho
sự hình thành rễ, và thấp thì thích hợp cho quá trình phát sinh chồi. Nếu tỷ lệ này ở
mức độ cân bằng thì thuận lợi cho phát triển mô sẹo (callus). Das (1958) và Nitsch
11
(1968) khẳng định rằng chỉ khi tác dụng đồng thời của Auxin và Cytokinin thì mới
kích thích mạnh mẽ sự tổng hợp ADN, cảm ứng cho sự phân chia tế bào. Theo
Dmitrieva (1972) giai đoạn đầu của quá trình phân bào được cảm ứng bởi auxin còn
giai đoạn tiếp theo thì cần tác động tổng hợp của cả hai chất kích thích. Skoog và
Miller (1957) đã khẳng định vai trò của Cytokinin trong quá trình phân chia tế bào,
cụ thể là Cytokinin điều khiển quá trình chuyển pha trong mitos và giữ cho quá
trình này diễn ra một cách bình thường. Cytokinin được tổng hợp bởi rễ và hạt đang
phát triển [2], [16].
- Gibberellin acid:
Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người nhật
Kurosawa (1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm Gibberella Fujikuroi gây ra.
Năm 1939 đã tách chiết được Gibberellin từ nấm G. Fujikuroi và được gọi là
Gibberellin A. Gibberellin có tác dụng kéo dài tế bào, nhất là thân và lá vì vậy khi
xử lý với các cây đột biến lùn và các cây này có thể khôi phục lại bình thường. Các
nghiên cứu tiếp theo khám phá ra trong cơ thể thực vật cũng có các chất giống như
Gibberellin cả về cấu tạo và tác dụng. Những chất này đặt tên theo thứ tự là A1, A2,
A3 và A4. Do Gibberellin tồn tại trong thực vật, nó tham gia vào các quá trình sinh
trưởng và phát triển trong sự tương tác với các chất điều hoà sinh trưởng khác [2],
[13]. Trong cây Gibberellin được tổng hợp ở lá đang phát triển, quả và rễ sau đó
được vận chuyển đi khắp nơi trong cây và có nhiều trong xylem [15].
e) Các chất bổ sung
Agar: Trong môi trường nuôi cấy tĩnh, người ta thường sử dụng agar để làm
đặc môi trường. Nồng độ agar sử dụng thường là 0,6-1%, đây là loại tinh bột đặc chế
từ rong biển để tránh hiện tượng mô chìm và sẽ chết vì thiếu O
của mẫu cấy in vitro [11].
2.4.2. Khử trùng mẫu và cấy khởi động
Giai đoạn này nhằm tạo mẫu sạch và non trẻ cho các giai đoạn nuôi cấy tiếp
theo nên cần đảm bảo tỷ lệ mẫu bị nhiễm ít, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và sinh
trưởng tốt. Bộ phận của cây được chọn làm mô nuôi cấy phụ thuộc vào hình thức
nhân giống thích hợp cho từng loại cây và đúng giai đoạn phát triển. Đỉnh sinh
trưởng và chồi bên được sử dụng ở hầu hết các loại cây trồng. Ngoài ra chóp đỉnh
và chồi non nảy nầm từ hạt cũng được sử dụng nhiều. Mẫu trước khi cấy vào môi
trường cơ bản phải được làm sạch nguồn bệnh bằng cách rửa nhiều lần bằng nước
sạch, sau đó ngâm vào trong dung dịch khử trùng với hàm lượng và thời gian thích
hợp. Tùy vào từng vật liệu mà chọn các hóa chất khử trùng khác nhau. Trong đó
quá trình khử trùng mẫu phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến sức sống của mẫu
cấy. Sau đó đặt mẫu vào môi trường đồng nuôi cấy như MS, B
5
,… Khi nuôi cấy cần
chú ý tới điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và hàm lượng CO
2
thích hợp.
13
2.4.3. Tạo chồi và nhân nhanh
Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng và quyết định sự thành công của toàn bộ
quá trình nhân giống. Trong giai đoạn này vai trò của chất điều hòa sinh trưởng có
đóng góp rất lớn trong việc kích thích tạo chồi mà vẫn đảm bảo được sức sống và
bản chất di truyền của vật liệu nuôi cấy.
2.4.4. Tạo cây mô hoàn chỉnh
Kích thích chồi ra rễ là giai đoạn quan trọng để có được cây hoàn chỉnh.
Chồi hữu hiệu được chọn lựa đưa vào môi trường ra rễ. Môi trường tạo rễ thường
giảm đi một nửa hàm lượng các chất môi trường cơ bản nhằm hạn chế quá trình
sinh trưởng, tập chung cho ra rễ, loại bỏ các chất kích thích tạo chồi, phân chia chồi
và thay vào đó là một số auxin kích thích tạo rễ. Tùy theo loại cây mà sử dụng các
xuất củ bi lớn, trong đó số lượng cao nhất của củ bi thu được với nồng độ NAA 2,7
mg/l; Trọng lượng của củ bi tăng khi nồng độ ABA tăng; BAP ở nồng độ thấp 0,22
mg/l ảnh hưởng xấu đến sự sống còn của mẫu cấy. Tác động này, chỉ quan sát trên
nuôi cấy dưới 8 giờ chiếu sáng, nhưng không phải trên nuôi cấy dưới 16 giờ. Trên đối
tượng D. abyssinica với nồng độ NAA cao hơn 0,27 mg/l thúc đẩy sự tăng
trưởng của mô sẹo trên bộ rễ. Trong loài này, việc sản xuất các củ bi lớn nhất thu
được 2,7 mg/l trong khi số lượng củ bi không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ nồng độ kiểm
tra.
Theo Hodeba D. Mignouna và cs (2003) [20] đã tìm thấy loài Dioscorea
alata được trồng đầu tiên ở Đông Nam Á tuy về diện tích không lớn như ở châu
Phi, nhưng giống D. alata phân bố rất rộng trên thế giới tại châu Á, châu Đại
Dương, châu Phi và tây Ấn. Và loài này được tuyển chọn vào danh sách giống từ
vạc có giá trị kinh tế.
Theo Mandal B. B. và cs (2007) [23] nghiên cứu ảnh hưởng của các chất
điều hòa sinh trưởng thực vật đến khả năng tái sinh chồi đỉnh của cây Dioscorea
floribunda được bảo quản lạnh: Ban đầu đỉnh chồi được bảo quản lạnh nuôi trên
môi trường với BAP 1,5 mg/l + NAA 0,2 mg/l + GA
3
0,2 mg/l trong vòng 25 ngày
tiếp theo nuôi trong 15 ngày trên môi trường với BAP 1 mg/l + NAA 0,5 mg/l +
GA
3
0,3 mg/l. Cuối cùng, chuyển sang một môi trường với BAP 0,05 mg/l + NAA
0,15 mg/l kích thích sản xuất cây con phát triển đầy đủ. Kết quả tất cả các cây tái
sinh mà không hình thành mô sẹo.
Theo I. Q. Ezeibekwe và cs (2009) [21] đã đưa ra kết quả nghiên cứu ảnh
hưởng của sự kết hợp giữa Auxin (NAA) và Cytokinin (BAP) đến khả năng nhân
nhanh in vitro ở cây Discorea rotundata L. (White Yam) như sau: Người ta tiến
hành bổ sung vào môi trường MS lần lượt các nồng độ NAA (0; 0,25; 0,5; 0,75; 1,0
15
4 Vùng Bắc Trung Bộ 29 28,43
5 Vùng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên
1 0,98
6 Vùng Đông Nam Bộ 3 2,94
7 Vùng Đồng Bắng Sông Cửu
Long
7 6,86
Tổng 102 100
16
- Kết quả đánh giá sự đa dạng một số tính trạng định tính của tập đoàn Khoai
mỡ tập đoàn Khoai mỡ được mô tả, đánh giá với 48 chỉ tiêu hình thái nông học. Kết
quả mô tả 102 mẫu giống có 6 hình dạng khác nhau trong đó hình tim dài có số
lượng mẫu giống cao nhất 45 giống chiếm tỷ lệ 44,12% và lá có dạng hình mác
chiếm tỷ lệ thấp nhất 0,98%. Màu cánh, có 3 màu trong đó cánh màu xanh với rìa
mép tím chiếm tỷ lệ cao nhất 84,31% và cánh có màu xanh và tím có tỷ lệ bằng
nhau chiếm 7,84%. Về màu cuống lá có 3 màu chính, cuống có toàn cuống màu
xanh và tím ở hai đầu có số lượng giống cao nhất (42 mẫu giống chiếm tỷ lệ
41,18%) và cuống có toàn cuống xanh chiếm tỷ lệ thấp nhất 28,43%. Hình dạng củ
có 6 hình dạng khác nhau trong đó củ hình trụ chiếm tỷ lệ cao nhất 49,02% và củ có
dạng hình khác chiếm tỷ lệ thấp nhất 0,98%. Thịt củ có 7 màu khác nhau, trong đó
thịt củ màu vàng kem/trắng ngà có số lượng giống cao nhất 42 mẫu giống chiếm tỷ
lệ 41,18% và thịt củ màu vàng nhạt chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm 2,94%. Kết quả mô
tả, đánh giá cho thấy tập đoàn Khoai mỡ rất đa dạng về đặc điểm hình dạng lá, màu
sắc cánh, màu cuống lá, hình dạng củ, màu thịt củ Những đặc điểm hình thái quan
trọng này có thể sử dụng làm khoá phân loại dưới loài cho tập đoàn Khoai mỡ.
- Kết quả nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của tập
đoàn khoai mỡ. Cho thấy số lượng củ/khóm có sự biến động rất lớn trong đó số
lượng mẫu giống có từ 1 đến 5 củ/khóm chiếm đa số 86 giống chiếm tỷ lệ 84,31%;
Các giống có số lượng trên 5 củ/khóm chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,96%. Trọng lượng củ